KINH TE CHINH TRỊ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Dã Quỳ
Ngày gửi: 22h:28' 28-08-2017
Dung lượng: 200.5 KB
Số lượt tải: 11
Nguồn:
Người gửi: Phạm Dã Quỳ
Ngày gửi: 22h:28' 28-08-2017
Dung lượng: 200.5 KB
Số lượt tải: 11
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP
MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Câu 1: Phân tích nội dung của qui luật giá trị, cho biết được biểu hiện của qui luật giá trị qua các giai đoạn phát triển của CNTB. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với việc phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.
1) Nội dung của qui luật giá trị:
- Qui luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có qui luật giá trị hoạt động. Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dực trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Cụ thể là:
+ Trong sản xuất, quy luật giá trị đòi hỏi người sản xuất phải điều chỉnh làm cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được.
+ Trong lưu thông, quy luật giá trị yêu cầu phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá. Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau, hoặc trao đổi, mua bán thì giá cả hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó.
- Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa. Gia cả hàng hóa là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Trên thị trường giá cả hàng hóa phụ thuộc vào các nhân tố: giá trị của hàng hóa, cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền… Giá cả hành hóa biến động lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Sự vận động của giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị.
2) Tác dụng của qui luật giá trị:
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác dụng sau:
- Điều tiết và lưu thông hàng hóa:
+ Điều tiết sản xuất: là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Dựa vào sự biến động của giá cả thị trường, người sản xuất biết được hàng hóa nào đang thiếu, bán chạy, có giá cao và nhiều lãi, hàng hóa nào ế thừa, giá thấp. Để từ đó, họ sẽ mở rộng sản xuất những mặt hàng đang thiếu, bán chạy nhiều lãi và ngược lại thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa không sản xuất những mặt hàng ế thừa, không tiêu thụ được. Như vậy các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, sức lao động và tiền vốn được chuyển dịch từ ngành này sang ngành khác, làm quy mô sản xuất ngành này mở rộng, ngành kia thu hẹp.
+ Điều tiết lưu thông: Dưới tác động của quy luật giá trị, hàng hóa được duy chuyển từ nơi giá thấp đến nơi giá cao thông qua sự biến động giá cả thị trường. Do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
- Kích thích tiến bộ, nâng cao năng suất lao động: Trong nền kinh tế hàng hóa, các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, ai có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa thì sẽ có lợi, có nhiều lãi. Ngược lại thì sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành thắng lợi trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Muốn vậy họ phải tìm cách cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động.
- Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo: Trong nền kinh tế hàng hóa, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh đến mức trở thành ông chủ sử dụng lao động làm thuê. Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, sẽ rơi vào tình trang thua lỗ, phá sản, trở thành người phải bán sức lao động làm thuê.
Chính do tác động của quy luật giá trị đã làm cho sản xuất hàng hóa thực sự là khởi điểm ra đời của CNTB.
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực, do đó, đồng thời với việc
MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Câu 1: Phân tích nội dung của qui luật giá trị, cho biết được biểu hiện của qui luật giá trị qua các giai đoạn phát triển của CNTB. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với việc phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.
1) Nội dung của qui luật giá trị:
- Qui luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có qui luật giá trị hoạt động. Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dực trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Cụ thể là:
+ Trong sản xuất, quy luật giá trị đòi hỏi người sản xuất phải điều chỉnh làm cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được.
+ Trong lưu thông, quy luật giá trị yêu cầu phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá. Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau, hoặc trao đổi, mua bán thì giá cả hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó.
- Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa. Gia cả hàng hóa là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Trên thị trường giá cả hàng hóa phụ thuộc vào các nhân tố: giá trị của hàng hóa, cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền… Giá cả hành hóa biến động lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Sự vận động của giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị.
2) Tác dụng của qui luật giá trị:
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác dụng sau:
- Điều tiết và lưu thông hàng hóa:
+ Điều tiết sản xuất: là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Dựa vào sự biến động của giá cả thị trường, người sản xuất biết được hàng hóa nào đang thiếu, bán chạy, có giá cao và nhiều lãi, hàng hóa nào ế thừa, giá thấp. Để từ đó, họ sẽ mở rộng sản xuất những mặt hàng đang thiếu, bán chạy nhiều lãi và ngược lại thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa không sản xuất những mặt hàng ế thừa, không tiêu thụ được. Như vậy các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, sức lao động và tiền vốn được chuyển dịch từ ngành này sang ngành khác, làm quy mô sản xuất ngành này mở rộng, ngành kia thu hẹp.
+ Điều tiết lưu thông: Dưới tác động của quy luật giá trị, hàng hóa được duy chuyển từ nơi giá thấp đến nơi giá cao thông qua sự biến động giá cả thị trường. Do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
- Kích thích tiến bộ, nâng cao năng suất lao động: Trong nền kinh tế hàng hóa, các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, ai có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa thì sẽ có lợi, có nhiều lãi. Ngược lại thì sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành thắng lợi trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Muốn vậy họ phải tìm cách cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động.
- Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo: Trong nền kinh tế hàng hóa, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh đến mức trở thành ông chủ sử dụng lao động làm thuê. Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, sẽ rơi vào tình trang thua lỗ, phá sản, trở thành người phải bán sức lao động làm thuê.
Chính do tác động của quy luật giá trị đã làm cho sản xuất hàng hóa thực sự là khởi điểm ra đời của CNTB.
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực, do đó, đồng thời với việc
 








Các ý kiến mới nhất