Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

KHỞI NGHĨA LAM SƠN

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quốc Hưng
Ngày gửi: 10h:20' 30-01-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 52
Số lượt thích: 0 người
KHỞI NGHĨA LAM SƠN
I) NGUYÊN NHÂN LỰA CHỌN CUỘC KHỞI NGHĨA:
Sau 10 năm khởi nghĩa, trải qua nhiều gian truân vất vả, cuối cùng giành thắng lợi vẻ vang, mở
ra một vương triều mới - nhà Lê sơ, tồn tại 360 năm trong lịch sử Việt Nam. Đây là thời kỳ trung
hưng đất nước rạng rỡ và hùng cường bậc nhất của quốc gia Đại Việt thời phong kiến. Qua đó
khẳng định thêm vai trò quan trọng của việc đoàn kết nhân dân trong cuộc đấu tranh chống giặc
ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng quê hương, đất nước. Đã để lại cho đời sau
nhiều bài học quý giá về nghệ thuật quân sự và đoàn kết lòng dân. Di sản tư tưởng của Lê Lợi và
những nhà lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn sống động trong lịch sử dân tộc. Đó
là tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy chí nhân và đại nghĩa
để thắng hung tàn, cường bạo.

II) BỐI CẢNH LỊCH SỬ:

Nhà Minh cướp sách của ta đem về Tàu

Giặc Minh nướng thịt người sống

- Khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra trong bối cảnh rất khó khăn. Nhiều cuộc nổi
dậy chống Minh, điển hình là nhà Hậu Trần, đã bị dẹp một cách tàn khốc.
Liên tiếp hai vua nhà Hồ, một vua nhà Hậu Trần bị bắt về Bắc, vua Trùng
Quang và các tướng đều tử tiết. Trương Phụ tàn sát những người lính theo
quân khởi nghĩa và cả dân thường rất tàn bạo (chặt đầu, đốt xác...) để khủng
bố tinh thần người Việt. Mặt khác, các tướng nhà Minh như Hoàng Phúc,
Trương Phụ đã thiết lập bộ máy cai trị và huy động được một lực lượng
người Việt giúp việc khá đắc lực như Mạc Thúy, Lương Nhữ Hốt, Trần
Phong... Tinh thần chống đối của người Việt lúc đó đã lắng xuống khá nhiều
so với thời nhà Hồ mới mất.
- Nhà Minh đã thi hành chính sách cai trị, bóc lột nặng nề đối với nhân dân
Việt Nam.
+ Về hành chính, đặt Đại Ngu thành quận Giao Chỉ, chia thành các phủ,
huyện để cai trị.

Đốt hết sách vở của Việt Nam xưa trong triều đại nhà
Minh

+ Về kinh tế - xã hội, đặt ra nhiều thứ thuế nặng nề, lùng bắt những người
tài đem về nước phục dịch.
+ Về văn hóa, bắt dân ta phải theo phong tục của Trung Hoa, dùng nhiều
thủ đoạn để thủ tiêu nền văn hóa Việt như ra lệnh đục bia, đốt sách,...
- Dưới ách thống trị của nhà Minh, nhân dân ta đã nổi dậy ở nhiều nơi, tiêu
biểu là các cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi (1407 - 1409), Trần Quý Khoáng
(1409 - 1414),... song đều bị đàn áp.
→ Trước cảnh nước mất, nhân dân lầm than, Lê Lợi - một hào trưởng có
uy tín lớn ở vùng Lam Sơn (Thanh Hóa) đã dốc hết tài sản để triệu tập nghĩa
sĩ, bí mật liên lạc với các hào kiệt, xây dựng lực lượng và chọn Lam Sơn
làm căn cứ cho cuộc khởi nghĩa. Đúng như Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô
đại cáo:
“Vừa khi cờ nghĩa dấy lên
Chính lúc quân thù đang mạnh...
Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu.”

Đàn áp người dân từ các cuộc khởi nghĩa

III) DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN:
Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn: hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa (1418-1423), tiến vào phía nam (1424-1425) và giải
phóng Đông Quan (1426-1427).
- HOẠT ĐỘNG Ở VÙNG NÚI THANH HÓA:

Đền thờ Lê Lợi tại Bản Năng Cát, xã
Trí Nang, huyện Lang Chánh

+ Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng như Nguyễn
Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú... tất cả 19 tướng văn và tướng võ
chính thức phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi dân Việt đồng lòng
đứng lên đánh quân xâm lược nhà Minh cứu nước.
+ Thời kỳ hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa là giai đoạn khó khăn nhất của cuộc khởi nghĩa.
Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn,
thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại.

+ Bị quân Minh vây đánh nhiều trận, quân Lam Sơn khốn đốn ba lần phải rút chạy lên núi
Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở Sách Khôi năm 1422. Một lần bị
địch vây gắt ở núi Chí Linh (có sách ghi năm 1418, có sách ghi năm 1419), quân sĩ hết lương,
người em họ Lê Lợi là Lê Lai theo gương Kỷ Tín nhà Tây Hán phải đóng giả làm Lê Lợi, dẫn
quân ra ngoài nhử quân Minh. Quân Minh tưởng là bắt được chúa Lam Sơn nên lơi lỏng phòng
bị, Lê Lợi và các tướng lĩnh thừa cơ mở đường khác chạy thoát. Lê Lai bị địch giải về Đông
Quan và bị giết.
+ Ngoài quân Minh, Lê Lợi và quân Lam Sơn còn phải đối phó với một bộ phận các tù trưởng
miền núi tại địa phương theo nhà Minh và quân nước Ai Lao (Lào) bị xúi giục hùa theo. Dù
gặp nhiều khó khăn, quân Lam Sơn mấy lần đánh bại quân Ai Lao có lực lượng đông hơn. Tuy
Thác Ma Hao kỳ vĩ
→ Chí Linh như ngọn núi thiêng đã nhiên do lực lượng chưa đủ mạnh nên Lê Lợi thường cùng quân Lam Sơn phải ẩn náu trong
3 lần che chắn cho đoàn quân, cho rừng núi, nhiều lần phải ăn rau củ và măng tre lâu ngày; có lần ông phải giết cả voi và ngựa
Đức Lê Thái Tổ được an toàn trước chiến của mình để cho tướng sĩ ăn.
+ Trước tình thế hiểm nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm 1422. Đến năm
giặc hung ác
1423, khi thực lực được củng cố, lại thấy quân Minh bắt giữ sứ giả, Lê Lợi liền tuyệt giao cắt
đứt giảng hòa.
- TIẾN VÀO NAM:
+ Theo kế của Nguyễn Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An.
Tiến vào Nghệ An là một bước ngoặt về chiến thuật trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
+ Trên đường đi, quân Lam Sơn hạ thành Đa Căng, đánh lui quân cứu viện của viên tù trưởng địa
phương theo quân Minh là Cầm Bành. Sau đó quân Lam Sơn đánh thành Trà Long. Tướng Minh là
Trần Trí mang quân từ Nghệ An tới cứu Cầm Bành, bị quân Lam Sơn đánh lui. Lê Lợi vây Cầm
Bành, Trí đóng ngoài xa không dám cứu. Bị vây ngặt lâu ngày, Bành phải đầu hàng.
+ Lê Lợi sai Đinh Liệt mang quân vào đánh Nghệ An, lại mang quân chủ lực cùng tiến vào, Trần
Trí bị thua liền mấy trận phải rút vào thành cố thủ.
+ Lý An, Phương Chính từ Đông Quan vào cứu Trần Trí ở Nghệ An, Trí cũng mang quân ra ngoài
đánh. Lê Lợi dùng kế nhử địch đến sông Độ Gia phá tan. Trần Trí chạy về Đông Quan, còn An và
Chính lại chạy vào thành Nghệ An.

+ Tháng 5/1425, Lê Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Diễn Châu, quân Minh thua chạy về Tây Đô (Thanh Hóa). Sau đó ông lại
điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Triện tiếp ứng cho Đinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh bị thua phải rút vào cố thủ trong thành.
+ Lê Lợi một mặt siết vòng vây quanh thành Nghệ An và Tây Đô, mặt khác sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân vào
Nam đánh Tân Bình, Thuận Hóa. Tướng Minh là Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau Lê Lợi lại sai Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy
quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hóa. Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt. Như vậy đến cuối năm 1425,
Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành địch đều bị bao vây.
- GIẢI PHÓNG ĐÔNG QUAN:
+ Chiến thắng Tốt Động, Chúc Động:
• Tháng 8/1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh Bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh
Khả, Lê Triện ra phía tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra
đánh Đông Quan.
• Lê Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trí. Nghe tin viện binh nhà
Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam,
còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.
• Quân Vân Nam do Vương An Lão chỉ huy kéo sang. Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam.
An Lão chạy về cố thủ ở thành Tam Giang. Trần Trí thấy mất viện binh bèn cầu viện Lý An ở
Nghệ An. Lý An và Phương Chính để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt biển
ra cứu Đông Quan. Quân Lam Sơn định đón đường ngăn chặn nhưng không được. Lê Lợi liền
giao cho Lê Văn An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân ra bắc.
• Vua Minh sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông
Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm,
lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ
Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao
Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.
• Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân biết Vương
Thông định chia đường đánh úp Lê Triện, hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai
phục Tốt Động. Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn
quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.

• Sử chép ba đạo quân ra Bắc của Lê Lợi chỉ có tổng số 9000 người. Các nhà nghiên cứu cho rằng
con số đó chưa chính xác vì các trận đánh của ba đạo quân này đều có quy mô khá lớn và lực
lượng quân Minh sang nhập vào khá đông, do đó để giành thắng lợi, 3 cánh quân (sau đó lại chia
thành 4) chắc phải đông hơn. Với một vài ngàn người khó đương nổi lực lượng đông và mạnh của
quân Minh như vậy. Căn cứ sách Đại Việt thông sử, khi quân Minh sắp rút về, Lê Lợi đã bàn với
các tướng, đại ý rằng: quân Lam Sơn hiện có tổng số 25 vạn, ông dự định sẽ cho 15 vạn về làm
ruộng và tuyển lấy 10 vạn làm quân thường trực của triều đình. Qua đó thì thấy những cánh quân
ra Bắc phải có một vài vạn mỗi cánh quân.
• Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra gần
Đông Quan.
+ Lập Trần Cảo:
• Vương Thông thua chạy không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh Thành
Tổ năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần (vì nhà Hồ cướp
ngôi nhà Trần nên Minh Thành Tổ lấy danh nghĩa lập lại nhà Trần để mang quân sang đánh
nhà Hồ, nay Vương Thông muốn vin vào đó) ra điều kiện với Lê Lợi rằng Thông sẽ rút về
nếu Lê Lợi lập con cháu nhà Trần làm vua.
• Lê Lợi vì đại cuộc, muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên đồng ý. Ông sai người tìm được
Trần Cảo bèn lập làm vua, còn ông tự xưng là Vệ quốc công. Theo sử sách, Trần Cảo tên thật
là Hồ Ông, tự xưng là cháu nội vua Trần Nghệ Tông, được tù trưởng châu Ngọc Ma tiến cử
với Lê Lợi. Nhưng theo một số sử gia gần đây, việc Trần Cảo mạo xưng hay thật sự là con
cháu nhà Trần rất khó xác định, có thể chữ “mạo xưng” mà sử sách ghi là do các sử gia nhà
Lê chép vào để giảm uy tín của Cảo.
• Vương Thông ngoài mặt giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông phòng thủ và mật
sai người về xin cứu viện. Lê Lợi biết chuyện liền cắt đứt giảng hòa.
+ Vây thành Đông Quan:
• Sau khi cắt đứt giảng hòa, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các thành ở Bắc bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam Giang
(Tam Đái, Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ được.
• Đầu năm 1427, ông chia quân tiến qua sông Nhị Hà, đóng dinh ở Bồ Đề, sai các tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân
đội rất nghiêm để yên lòng nhân dân. Do đó quân Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng dân.

• Tướng Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ địch ở các thành
khác ra hàng.
• Nhân lúc quân Lam Sơn vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan ra đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh Lễ và
Nguyễn Xí bị bắt ở Thanh Trì. Sau Đinh Lễ bị giết, Nguyễn Xí trốn thoát được.
- CHIẾN THẮNG CHI LĂNG-XƯƠNG GIANG:
+ Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai
Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn
quân từ Vân Nam kéo sang. Đây là hai tướng đã từng sang đánh Việt Nam thời
nhà Hồ và nhà Hậu Trần. Theo các nhà nghiên cứu, con số 15 vạn của cả hai đạo
quân có thể là nói thăng lên, trên thực tế nếu cộng số các đạo quân điều động từ
các nơi thì tổng số chỉ có khoảng gần 12 vạn quân và cánh quân chủ lực là của
Liễu Thăng.
+ Nghe tin có viện binh, nhiều tướng muốn đánh để hạ gấp thành Đông Quan.
Tuy nhiên, theo ý kiến của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho rằng đánh thành là hạ sách
vì quân trong thành đông, chưa thể lấy ngay được, nếu bị viện binh đánh kẹp vào
thì nguy; do đó ông quyết định điều quân lên chặn đánh viện binh trước để nản
lòng địch ở Đông Quan.
+ Đầu tiên, ông ra lệnh dời người ở những vùng địch đi qua như Lạng Giang,
Bắc Giang, Quy Hóa, Tuyên Quang, để đồng không để cô lập địch. Biết cánh
Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh
Liệt mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Lê Lý mang quân tiếp ứng.
Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ ngồi
chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên hạ lệnh cho Phạm Văn Xảo và
Trịnh Khả cố thủ không đánh.

Tranh vẽ lại trận đánh Chi Lăng năm 1427. Hiện
vật trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam tại
TPHCM

+ Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải Nam
Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18/9 âm lịch, Thăng đuổi đến Chi
Lăng. Trần Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20,
Thăng bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết.
+ Các tướng thừa dịp xông lên đánh địch, giết hơn 1 vạn quân, chém được
Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo
về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân Lam Sơn
hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường
vận lương, sai Phạm Vấn, Nguyễn Xí tiếp ứng cho Lê Sát cùng sáp đánh, giết 5
vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc và hơn 3 vạn quân bị bắt, Thôi Tụ
không hàng bị giết.
+ Mộc Thạnh đóng quân ở vùng ải Lê Hoa đến Lãnh Thủy câu, nghe tin Liễu
Thăng thua to nên kinh hồn, bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đuổi theo
chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000 người ngựa ở Lãnh Thủy câu và Đan Xá.
Theo Minh thực lục, ngày 14 tháng 11 năm 1427 (tức 26 tháng 10 âm, năm Đinh
Mùi), Mộc Thạnh cùng thuộc hạ chạy tới Cao Trại, Thủy Vĩ thì bị quân Lam Sơn
phục kích cả trên sông lẫn trên bờ, phải vất vả làm lại thuyền mới chạy thoát.

Ải Lê Hoa trong bản đồ châu Thủy Vĩ thời kỳ 1397 1688, trên vùng biên giới Đại Việt - Đại Minh 14281644, và biên giới Đại Việt - Đại Thanh 1644-1688.

- HỘI THỀ ĐÔNG QUAN:
+ Vương Thông nghe tin hai đạo viện binh bị đánh tan, sợ hãi xin giảng hòa để rút quân.
Lê Lợi đồng ý cho giảng hòa để quân Minh rút về nước. Ông cùng Vương Thông tiến
hành làm lễ thề trong thành Đông Quan, hẹn đến tháng chạp âm lịch năm Đinh mùi (1427)
rút quân về.
+ Lê Lợi đứng tên Trần Cảo là người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ dâng biểu
cho nhà Minh xin được phong. Vua Minh biết Lê Lợi không có ý tôn Cảo nhưng vì bị
thua mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương.
+ Tháng chạp, Vương Thông rút quân về nước. Các tướng muốn giết địch để trả thù tội
ác khi cai trị Việt Nam, Lê Lợi không đồng tình vì muốn giữ hòa khí hai nước, cấp thuyền
và ngựa cho quân Minh về.
- LÊ LỢI LÊN NGÔI VUA:
+ Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh
giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài thơ Nam quốc sơn hà.
+ Sau khi quân Minh rút về, trên danh nghĩa Trần Cảo là vua Việt Nam. Theo sử sách, đầu
năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không có công, lòng người không theo nên bỏ trốn vào châu
Ngọc Ma (vùng núi phía Tây), nhưng không thoát, bị bắt mang về và bị ép uống thuốc độc
chết. Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ việc Cảo phải tự bỏ trốn mà cho rằng các tướng của Lê
Lợi được lệnh sát hại Cảo, hoặc Cảo bị đe dọa phải bỏ trốn. Tuy nhiên, suy cho cùng Trần
Cảo cũng chỉ là con bài chính trị để Lê Lợi đối phó với nhà Minh trong một giai đoạn cần
thiết. Nhà Minh lấy lý do lập con cháu nhà Trần thực chất chỉ là cớ để đánh nhà Hồ.
+ Ngày 15/4 năm Mậu Thân 1428, tại điện Kính Thiên, Lê Lợi chính thức đăng quang ngôi
vua lấy hiệu là “Thuận Thiên thừa vận, Duệ Vân Anh Vũ Đại Vương, lấy lại tên nước Đại
Việt và đóng đô ở Đông Đô (tức kinh thành Thăng Long cũ và Hà Nội ngày nay). Với sự kiện
này, Lê Thái tổ chính thức dựng lên nhà Hậu Lê.

IV) TRẬN ĐÁNH ẤN TƯỢNG QUYẾT ĐỊNH ĐẾN CHIẾN THẮNG CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA:
Mặc dù giai đoạn đầu của khởi nghĩa còn nhiều khó khăn nhưng nhờ tài thao lược tài tình của Lê Lợi và các vị tướng lĩnh mà đã
có nhiều chiến thắng vang dội. Và trong các cuộc chiến đó thì trận Chi Lăng – Xương Giang có lẽ là một trân đánh ấn tượng và
quyết định đến thắng lợi của khởi nghĩa. Và dưới đây là diễn biến của trận đánh này:
- Ngày 18, tháng 9, năm 1427 nhà Minh sai Tổng binh Chinh Lỗ tướng quân Thái
tử Thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng, Tham tướng Bảo Định bá Lương Minh, Đô
đốc Thôi Tụ, Binh bộ Thượng thư Lý Khánh, Công bộ Thượng thư Hoàng Phúc, thổ
quan Hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân đem hơn 10 vạn quân và 2 vạn ngựa đánh
vào cửa Pha Lũy. Chinh Nam tướng quân Thái phó Kiềm Quốc công Mộc Thạnh,
Tham tướng Hưng An bá Từ Hanh, Tân Ninh bá Đàm Trung đem 5 vạn quân và 1
vạn ngựa đánh vào cửa Lê Hoa. Cả hai đều đã tới đầu địa giới Đại Việt.
Tranh vẽ lại trận đánh Chi Lăng năm 1427. Hiện
- Lê Lợi họp với các tướng bàn rằng:
vật trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam tại
“ Giặc vốn khinh ta, cho là người nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe
TPHCM
tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lấn
ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người của mình,
không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp
phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. Binh pháp có
nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu
Thăng đến, đường xá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khỏe, đợi
đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng.”
- Lê Lợi sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh Liệt, Lê Thụ đem 1 vạn quân
tinh nhuệ, 5 thớt voi, bí mật mai phục trước ở ải Chi Lăng để đợi quân Minh.
- Quân Minh tiến đến cửa Pha Lũy, Trần Lựu giữ cửa Pha Lũy, thấy quân Minh
đến, lui giữ cửa Ải Lưu. Quân Minh tiến đánh, Trần Lựu lại bỏ cửa Ải Lưu lui về
đóng ở Chi Lăng, Liễu Thăng thừa thắng đuổi theo, đi đến đâu cũng không ai dám
kháng cự, càng tỏ ra mặt kiêu ngạo.
- Lê Lợi lại sai người đến quân môn của Liễu Thăng xin lập Trần Cảo, Liễu Thăng
nhận thư không thèm mở xem, cứ dẫn quân thẳng tiến. Trần Dong nói với Lý Khánh
rằng: Chí của Thống binh kiêu lắm rồi, quân địch quyệt trá lắm, biết đâu chúng
không

làm ra thế yếu để nhử ta; huống chi trong sắc thư dặn rằng Lê Lợi chỉ chuyên dùng cách mai phục mà thắng, ta không nên khinh địch,
Lý Khánh bảo với Liễu Thăng, Liễu Thăng không hề để ý.
- Ngày 20 tháng 9 (10/10 dương lịch), quân Minh đánh ải Chi Lăng. Lê Sát, Lưu Nhân Chú mật sai Trần Lựu ra đánh rồi vờ thua chạy.
Liễu Thăng đốc suất đại quân đuổi theo. Đến chỗ có phục binh, Lê Sát, Lưu Nhân Chú tung hết quân mai phục, bốn mặt đều nổi dậy
xông vào đánh. Liễu Thăng bị trảm ở núi Mã Yên, có thuyết cho rằng Liễu Thăng bị quân Lam Sơn phóng lao đâm chết, hơn 1 vạn quân
Minh bị giết.
→ Chiến thắng trong trân Chi Lăng – Xương Giang đã khơi gợi lên niềm tin của binh sĩ về chiến thắng và đất nước sẽ hòa bình
trong tương lai, cổ vũ sĩ khí của cuộc khởi nghĩa đồng thời khẳng định tài mưu lược của người dẫn đầu khởi nghĩa là Lê Lợi.
Chiến thắng còn giúp trấn áp tinh thần của quân giặc trước những chiến thắng liên tiếp. Có thể nói đây là một bước đệm giúp
cho khởi nghĩa Lam sơn thắng lợi.

V) MỘT VỊ TƯỚNG ẤN TƯỢNG TRONG CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN:
- Hành động của Lê Lai khi cứu Lê Lợi
+ Quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Trong tình thế nguy cấp, Thái Tổ họp các tướng lại hỏi:
+ Nay thế trận hiểm nguy, có ai dám làm như Kỷ Tín đời Hán, thân khoác hoàng bào mà hi sinh thay ta không?
Các tướng đều ngồi yên không ai dám thưa. Lê Lai đứng dậy nói rằng: "Thần nay nguyện được tử trận thay cho
chúa công. Ví như sau này giành được giang sơn thì xin nghĩ đến công lao của thần, khiến cho con cháu muôn
đời được nhờ quốc ân, được vậy thần chết cũng nhắm mắt."
+ Thái Tổ rất thương cảm. Lê Lai lại nói: "Tình hình nguy khổn, nếu ngồi khư khư, quân thần chung mạng, bao
công sức đây hãy còn gì. Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì?"
+ Thái Tổ lại vái trời khấn rằng:
+ "Lê Lai có công đổi áo, nếu sau này khôi phục nghiệp xưa, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung
điện biến thành rừng núi, ấn triện biến thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn." Lê Lai vâng mệnh mang
2 voi và 500 quân kéo ra trại quân Minh khiêu chiến. Quân Minh đổ ra đánh. Lê Lai thúc ngựa xông thẳng vào
giữa trận hô to:
+ "Ta là chúa Lam Sơn đây!" Quân Minh ngỡ là Thái Tổ nên xúm lại đánh kịch liệt. Lê Lai cầm binh dùng kế
cầm chân giặc khoảng 500 tấn công quân minh ác liệt nhưng lại thất bại, bị quân Minh bắt và đem hành hình.
Hôm ấy là ngày 29 tháng 4(theo âm lịch).
→ Hành động này đã nói lên niềm tin ,lòng trung thành ,tinh thần hi sinh vì sự nghiệp chung của đất nước ,của các tướng lĩnh
nghĩa quân

→ Lê Lai là người rất đáng khâm phục. Lê Lai đã hi sinh để liều mình cứu chúa là một hành động dũng cảm, giúp bảo vệ mạng
sống cho vua Lê Thái Tổ.Hành động này đã nói lên niềm tin ,lòng trung thành ,tinh thần hi sinh vì sự nghiệp chung của đất
nước ,của các tướng lĩnh nghĩa quân .Với sự hi sinh của Lê Lai ,nghĩa quân Lam sơn ko chỉ bảo toàn được lực lượng chỉ đạo
nòng cốt mà còn giữ vững được tinh thần bất khuất ,chiến đấu kiên cường ,buộc kẻ thù phải chấp nhận giảng hoà.

VI) Ý NGHĨA CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN:
– Sự thắng lợi của khởi nghĩa đã chấm dứt hơn 20 năm đô hộ của triều đình phong kiến nhà Minh;
– Mở ra một thời kì mới của đất nước ta thời Lê Sơ;
– Đập tan những âm mưu xâm lược đô hộ của nhà Minh.
– Thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân ta, lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu bất khuất cũng như tinh thần nhân đạo sáng ngời của
dân tộc.
- Sau 10 năm khởi nghĩa, trải qua nhiều gian truân vất vả, cuối cùng giành thắng lợi vẻ vang, mở ra một vương triều mới - nhà Lê sơ, tồn
tại 360 năm trong lịch sử Việt Nam. Đây là thời kỳ trung hưng đất nước rạng rỡ và hùng cường bậc nhất của quốc gia Đại Việt thời phong
kiến. Qua đó khẳng định thêm vai trò quan trọng của đất và người xứ Thanh trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc
lập dân tộc và xây dựng quê hương, đất nước
- Hơn 600 năm đã qua, nhưng bài học của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã cho thấy một thiên tài kiệt xuất về quân sự,
chính trị, ngoại giao được kết tinh bởi sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc đã làm nên những thắng lợi vang dội. Di sản tư tưởng của Lê
Lợi và những nhà lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn sống động trong lịch sử dân tộc. Đó là tư tưởng đại đoàn kết toàn dân,
lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy chí nhân và đại nghĩa để thắng hung tàn, cường bạo.
- Sự nghiệp đấu tranh giải phóng mà bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã viết nên bản anh hùng ca vĩ đại và là bài
học quý giá cho các thế hệ.

Họ và tên: Nguyễn Quốc Hưng
Lớp: 11A1
 
Gửi ý kiến