Tìm kiếm Giáo án
Hướng dẫn cân bằng phương trình hóa học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ninh Chí Tùng
Ngày gửi: 08h:53' 29-10-2010
Dung lượng: 34.2 KB
Số lượt tải: 24
Nguồn:
Người gửi: Ninh Chí Tùng
Ngày gửi: 08h:53' 29-10-2010
Dung lượng: 34.2 KB
Số lượt tải: 24
Số lượt thích:
0 người
PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, những yêu cầu mới từng bước đi lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo ra những con người có đủ kiến thức, phẩm chất, năng lực, thông minh, sáng tạo … Có thể sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới. Do vậy những năm gần đây đã liên tục đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học của giáo viên, học sinh.
Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có vai trò to lớn trong việc phát huy khả năng tư duy sáng tạo của học sinh. Nhưng lên lớp 8 học sinh mới được làm quen, ở đây các em sẽ được hướng dẫn học lý thuyết và làm bài tập. Nhưng để làm tốt các bài tập hóa học, thì việc vô cùng quan trọng là các em phải viết đúng phương trình hóa học. Như vậy việc cân bằng phương trình hóa học là rất quan trọng, trong suốt quá trình học tập môn hóa học của các em.
Tuy nhiên trong quá trình học môn hóa học ở trường THCS các em thường lúng túng khi tiến hành cân bằng phương trình hóa học, các em tiến hành bằng cách ghi nhớ máy móc, bên cạnh đó một số em còn học thuộc hệ số của các phương trình hóa học, nhưng không nhớ được nhiều, rất hay nhầm lẫn. Do đó việc hướng dẫn học sinh cách cân bằng phương trình là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, trong quá trình giảng dạy môn hóa học. Tôi cố gắng tìm ra giải pháp giúp học sinh cân bằng nhanh, đúng các phương trình hóa học.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Giải pháp này tôi lên kế hoạch áp dụng từ đầu năm học 2008 - 2009. Tôi nhận thấy nhiều học sinh cân bằng phương trình hóa học nhanh hơn và chính xác hơn. Vì vậy tôi mới đưa ra giải pháp này chia sẻ cùng đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy môn hóa học.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Là học sinh THCS Nam Ninh ở các khối lớp 8, 9. Trọng tâm của giải pháp là cân bằng phương trình hóa học.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Chương trình, chuẩn kiến thức - kỹ năng Hóa, sách giáo khoa hóa 8, 9 phần phương trình hóa học, tính chất hóa học của O2, H2, hợp chất vô cơ và tính chất hóa học của hợp chất hữu cơ.
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1. Cơ sở lí luận.
Phương trình hóa học dùng để biểu diễn ngắn gọn phản ứng hóa học, gồm công thức hóa học của chất phản ứng và sản phẩm với hệ số thích hợp. Dựa vào phương trình hóa học ta có thể tính được:
- Lượng sản phẩm dựa vào lượng các chất ban đầu và ngược lại.
- Thể tích của các chất khí trong phản ứng.
- Tỷ lệ về khối lượng, thể tích, số mol hoặc giữa thể tích và khối lượng …
Nhưng nếu học sinh cân bằng phương trình hóa học sai thì kết quả tính toán cũng không đúng. Muốn cân bằng đúng phương trình hóa học thì các em phải xác định được số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở 2 vế của phương trình hoặc số lượng nhóm nguyên tử ở chất tham gia và sản phẩm, số nguyên tử lẻ, số nguyên tử chẵn…Vì vậy hình thành và rèn luyện kĩ năng cân bằng phương trình hóa học cho học sinh là rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
2. Cơ sở thực tiễn.
Như chúng ta đã biết hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm. Nhưng nội dung của bộ môn này có quan hệ mật thiết với đời sống con người, có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp.
Chính vì những lí do đó giáo viên phải lựa chọn và sử dụng phương pháp phù hợp để học sinh chủ động tiếp thu kiến thức làm cơ sở để học tiếp hoặc vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cuộc sống.
II. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN.
1. Thực trạng.
a. Thuận lợi.
Hiện nay nhà trường đã trang bị tương đối đầy đủ về dụng cụ, hóa chất làm thí nghiệm. Thông qua các thí nghiệm học sinh quan sát các hiện tượng xảy ra giúp các em nhớ kiến thức lâu hơn. Khi làm thí nghiệm các em rất hứng thú, say mê tìm tòi nghiên cứu những kiến thức mới, những hiện tượng xảy ra xung quanh và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, có thể vận dụng kiến thức lí thuyết đã học để giải thích, làm rõ. Giáo viên được đào tạo chính quy giảng dạy bộ môn hóa học; bản thân luôn cố gắng
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, những yêu cầu mới từng bước đi lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo ra những con người có đủ kiến thức, phẩm chất, năng lực, thông minh, sáng tạo … Có thể sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới. Do vậy những năm gần đây đã liên tục đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học của giáo viên, học sinh.
Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có vai trò to lớn trong việc phát huy khả năng tư duy sáng tạo của học sinh. Nhưng lên lớp 8 học sinh mới được làm quen, ở đây các em sẽ được hướng dẫn học lý thuyết và làm bài tập. Nhưng để làm tốt các bài tập hóa học, thì việc vô cùng quan trọng là các em phải viết đúng phương trình hóa học. Như vậy việc cân bằng phương trình hóa học là rất quan trọng, trong suốt quá trình học tập môn hóa học của các em.
Tuy nhiên trong quá trình học môn hóa học ở trường THCS các em thường lúng túng khi tiến hành cân bằng phương trình hóa học, các em tiến hành bằng cách ghi nhớ máy móc, bên cạnh đó một số em còn học thuộc hệ số của các phương trình hóa học, nhưng không nhớ được nhiều, rất hay nhầm lẫn. Do đó việc hướng dẫn học sinh cách cân bằng phương trình là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, trong quá trình giảng dạy môn hóa học. Tôi cố gắng tìm ra giải pháp giúp học sinh cân bằng nhanh, đúng các phương trình hóa học.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Giải pháp này tôi lên kế hoạch áp dụng từ đầu năm học 2008 - 2009. Tôi nhận thấy nhiều học sinh cân bằng phương trình hóa học nhanh hơn và chính xác hơn. Vì vậy tôi mới đưa ra giải pháp này chia sẻ cùng đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy môn hóa học.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Là học sinh THCS Nam Ninh ở các khối lớp 8, 9. Trọng tâm của giải pháp là cân bằng phương trình hóa học.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Chương trình, chuẩn kiến thức - kỹ năng Hóa, sách giáo khoa hóa 8, 9 phần phương trình hóa học, tính chất hóa học của O2, H2, hợp chất vô cơ và tính chất hóa học của hợp chất hữu cơ.
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1. Cơ sở lí luận.
Phương trình hóa học dùng để biểu diễn ngắn gọn phản ứng hóa học, gồm công thức hóa học của chất phản ứng và sản phẩm với hệ số thích hợp. Dựa vào phương trình hóa học ta có thể tính được:
- Lượng sản phẩm dựa vào lượng các chất ban đầu và ngược lại.
- Thể tích của các chất khí trong phản ứng.
- Tỷ lệ về khối lượng, thể tích, số mol hoặc giữa thể tích và khối lượng …
Nhưng nếu học sinh cân bằng phương trình hóa học sai thì kết quả tính toán cũng không đúng. Muốn cân bằng đúng phương trình hóa học thì các em phải xác định được số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở 2 vế của phương trình hoặc số lượng nhóm nguyên tử ở chất tham gia và sản phẩm, số nguyên tử lẻ, số nguyên tử chẵn…Vì vậy hình thành và rèn luyện kĩ năng cân bằng phương trình hóa học cho học sinh là rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
2. Cơ sở thực tiễn.
Như chúng ta đã biết hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm. Nhưng nội dung của bộ môn này có quan hệ mật thiết với đời sống con người, có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp.
Chính vì những lí do đó giáo viên phải lựa chọn và sử dụng phương pháp phù hợp để học sinh chủ động tiếp thu kiến thức làm cơ sở để học tiếp hoặc vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cuộc sống.
II. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN.
1. Thực trạng.
a. Thuận lợi.
Hiện nay nhà trường đã trang bị tương đối đầy đủ về dụng cụ, hóa chất làm thí nghiệm. Thông qua các thí nghiệm học sinh quan sát các hiện tượng xảy ra giúp các em nhớ kiến thức lâu hơn. Khi làm thí nghiệm các em rất hứng thú, say mê tìm tòi nghiên cứu những kiến thức mới, những hiện tượng xảy ra xung quanh và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, có thể vận dụng kiến thức lí thuyết đã học để giải thích, làm rõ. Giáo viên được đào tạo chính quy giảng dạy bộ môn hóa học; bản thân luôn cố gắng
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất