HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM PHẦN 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:47' 12-03-2026
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:47' 12-03-2026
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
PHẦN II: BỐI CẢNH VÀ GIẢI PHÁP
CHO TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG
Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ
giữa Việt Nam và các nước láng
giềng
Lê Minh Nghĩa
Cố Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ
Đây là báo cáo của tác giả Lê Minh Nghĩa tại Hội Thảo mùa Hè về “Phát triển
khu vực châu Á Thái Bình Dương và tranh chấp Biển Đông” tổ chức tại New
22
York City gần mười năm trước, vào ngày 15 và 16 tháng 7, 1998. Dủ có nhiều
chi tiết (nhất là liên quan đến các nước ASEAN) cần được cập nhật, để tôn trọng
tác giả (đã qua đời năm 2004), Thời Đại Mới xin đăng lại nguyên bản, không sửa
đổi. Cũng xin lưu ý rằng khi trình bày báo cáo này, tác giả đã về hưu, không còn
giữ một chức vụ nào trong Chính phủ Việt Nam.
Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi đân tộc.
Trong đó lãnh thổ và biên giới quốc gia lại là hai yếu tố gắn bó với nhau như
hình với bóng do đó pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế đều thừa
nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia. Cho
đến đầu thế kỷ 20, pháp luật quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dùng vũ lực để xâm
chiếm một bộ phận hay toàn bộ lãnh thổ của một nước là hợp pháp. Nhưng
ngay sau chiến tranh thế gìới thứ haì, Hiến chương Liên Hợp Quốc được thông
qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh
thổ của một Quốc gia. Cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và quyết liệt của các
dân tộc thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai mà dân tộc ta là một đội ngũ
tiên phong với chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ đã dẫn tới nghị quyết cụ thể
và đầy đủ hơn của Liên Hợp Quốc về vấn đề này.
Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc
trao trả nền độc lập cho các nước và các đân tộc thuộc địa đã viết: "Mọi hành
động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lạỉ các dân
tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền
của họ về độc lập hoàn toàn một cách hoà bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ
của họ sẽ được tôn trọng".
Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hợp Quốc lại viết: "Các quốc gia có
nghĩa vụ không được dùng đe doạ hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường
biên gỉới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hoặc như biện pháp giải quyết
các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan
đến các biên giới của các Quốc gia".
"Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe doạ hoặc bằng sử dụng vũ lực
không được thừa nhận là hợp pháp".
Theo những tài liệu hiện có thì triều đình Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề
biên giới - lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10 sau khi giành lại quyền độc lập tự
chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 và ngày càng củng cố nền
độc lập tự chủ đó.
Theo Tống sử, Tông Cảo sứ giả nhà Tống được phái sang nước ta năm 990
sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 981 đã báo cáo rằng khi họ đến "hải
giới Giao Chỉ" thì Lê Hoàn (Vua Lê Đại Hành) đã phái 9 chiến thuyền và 300
quân lên đón và dẫn họ đến địa điểm quy định. Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp
23
(1178), Chu Khứ Phi một viên quan nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây đã viết
rằng: dòng nước Thiên Phân Dao là định giới giữa 'bíển Giao Chỉ" và biển
Quỳnh - Liêm (tức vùng biển Quỳnh Châu, Liêm Châu của Trung Quốc).
Như vậy là ngay từ thế kỷ thứ 10 và 12 , sứ thần Trung Quốc và quan lại
Trung Quốc đã biết đâu là vùng biển Giao Chỉ (tức Việt Nam), đâu là vùng biển
Trung Quốc.
Trong thế kỷ 11 đã diễn ra một số cuộc đàm phán biên giới giữa Việt Nam và
Trung Quốc để đòi lại những vùng đất mà Trung Quốc còn chiếm, sau khi phải
rút quân trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1076-1077, cuộc chiến tranh đã
xuất hiện 4 câu thơ của Lý Thường Kiệt mà hai câu đầu khẳng định chủ quyền
lãnh thổ:
Nam Quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời).
Trong các cuộc đàm phán đó có cuộc đàm phán về biên giới năm 1078 do
Đào Tòng Nguyên dẫn đầu và cuộc đàm phán năm 1084 do Trạng nguyên khai
khoa Lê Văn Thịnh dẫn đầu. Trong thư gửi cho vua nhà Tống đòi đất, vua Lý
Nhân Tông viết: "Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôi đau sót
luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng."
Ngoài việc dùng quân sự đánh úp, giải phóng Châu Quang Lang, ngay sau
khi đại quân Tống rút lui, đấu tranh kiên trì của triều đình kết hợp với đấu tranh
của nhân dân: bắn lén, bỏ thuốc độc cộng thêm khí hậu khắc nghiệt, khiến cho,
theo Tống sử, đội quân đồn trú của nhà Tống mỗi năm tổn thất 70%-80% và
năm 1079 mặc dầu đã đổi tên Châu Quảng Nguyên thành Thuận Châu vẫn đành
coi là vùng "Đất độc" và trả lại cho ta và năm 1084 trả lại cho ta vùng Bảo Lạc,
Túc Tang. Khi đi đàm phán biên giới, sứ thần ta đã tặng cho nhà Tống 5 thớt voi
khiến cho, theo Đại việt sử ký toàn thư, người Tống có thơ rằng "Nhân tham
Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim" nghĩa là vì tham voi của Giao
Chỉ mà bỏ mất vàng của Quảng Nguyên (họ đã đánh giá sai nguyên nhân dẫn
đến việc trả lại đất).
Trong Lịch triều Hiến chương Loại Chí viết năm 1821, Phan Huy Chú nhận
xét là trong đàm phán về biên gìới đời Lý có hai mặt mạnh: một là có "oai thắng
trận", hai là "sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung, khôn khéo".
Nhà Trần đã bố trí các trọng thần phụ trách các hướng biên giới: Tướng quốc
Thái sư Trần Thủ Độ phụ trách hướng Lạng Sơn, Chiêu Văn Vương Trần Nhật
Duật phụ trách hướng Hà Giang, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư phụ trách
hướng Đông Bắc (Người thay Nhân Huệ Vương là con Hưng Đạo Đại Vương,
Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng).
24
Thế kỷ 15 Vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách núi đá ở Hoà Bình để nhắc
con cháu:
"Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tư kế cửu an"
(Tạm dịch: việc biên phòng cần có phương lược phòng thủ; đất nước phải lo
kế lâu dài).
Năm 1473, vua Lê Thánh Tông chỉ thị cho những người đi giải quyết vấn đề
biên giới với nhà Minh "Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước
núi, một tấc sông tổ tiên để lại mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di".
Năm 1466 khi quân Minh cướp bóc vùng Thông Nông, Bảo Lạc thuộc tỉnh
Cao Bằng, một mặt nhà vua phản kháng đòi nhà Minh phải bồi thường, mặt khác
ra lệnh đầy 2 người chỉ huy ở Cao Bằng đi xa về tội phòng giữ biên giới không
cẩn mật và ra sắc dụ cho các tỉnh biên giới: "Người bầy tôi giữ đất đai của triều
đình, chức phận là phải bảo toàn cảnh thổ, yên uỷ nhân dân, bẻ gẫy những mũi
nhọn tiến công, chống lại những kẻ khinh rẻ nước mình"
Luật Hồng Đức công bố năm 1483 có điều khoản 74, 88 về bảo vệ đất đai ở
biên giới như sau: "Những người bán ruộng đất ở biên cương cho người nước
ngoài thì bị tội chém"; Quan phường xã biết mà không phát giác cũng bị tội;
"Những người đẵn tre, chặt gỗ ở nơi quan ải thì bị xử tội đồ" (đồ là đầy đi làm
khổ sai).
Chính nhờ cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ, thông minh, khôn khéo của
các thế hệ Việt Nam nối tiếp, mặc dầu trong tình hình so sánh lực lượng rất
chênh lệch, phong kiến phương Bắc luôn luôn có ý đồ thôn tính, lấn chiếm
nhưng biên cương phía Bắc nước ta vẫn hình thành rõ rệt và ổn định về cơ bản
từ ngàn năm nay.
Tạp chí Géographer của Vụ tình báo và nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
ngày 29/10/1964 thừa nhận: "Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá
vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập vương quốc Đại Cồ Việt ... Nhà nước
mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình ... Một đường biên giới gần giống
như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia" cách đây 10 thế kỷ.
Trong bài "Tổng Tụ long và đường biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ" năm 1924,
Bonifacy, tư lệnh đạo quan binh Hà Giang đầu thế kỷ 20 viết: "Đường biên giới
lịch sừ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được xác định một cách hoàn hảo
(parfaitement défini). Khi cần người Việt Nam biết bảo vệ các quyền của họ, mặc
dầu người Trung Quốc cho rằng không thể có đường biên giới giữa Việt Nam và
Thiên Triều".
25
Điều mà con cháu ngày nay vô cùng cảm kích, khâm phục, biết ơn là ông cha
ta chẳng những chăm lo bảo vệ vững chắc biên cương đất liền mà còn rất quan
tâm xác lập và bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên vùng biển.
Tiếp theo hành động buộc sứ thần Trung Quốc phải thừa nhận "hải giới" Việt
Nam cuối thế kỷ thứ 10, nhà Lý đã thành lập trang Vân Đồn để quản lý vùng biển
Đông Bắc; nhà Trần nâng trang Vân Đồn thành trấn Vân Đồn trực thuộc triều
đình; Nhà Lê đặt tuần kiểm ở các cửa biển để quản lý biển, thu thuế các tầu
thuyền nước ngoài. Do vậy chủ quyền Việt Nam trên các đảo vùng biển Đông
Bắc được xác lập sớm. Đến thế kỷ 19, khi Pháp yà nhà Thanh đàm phán về
vùng biển trong Vịnh Bắc bộ thì không có tranh chấp về chủ quyền đối với các
đảo ở vùng này, nhà Thanh phải thừa nhận tất cả các đảo ở phía Tây đường
kình tuyến Paris 105o43' Đ là thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Năm 1171, 1172, vua Lý Anh Tông đích thân đi "tuần tra các hải đảo ngoài
biển ở địa giới các phiên bang Nam, Bắc, tìm hiểu đường đí, vẽ bản đồ và ghi
chép phong vật".
Ở phía Nam, các chúa Nguyễn sau khi xác lập chủ quyền Việt Nam đối với
các đảo dọc bờ biển miền Trung và miền Nam: Cồn Cỏ, Ly Sơn, Phú Quý, Côn
Đảo, đầu thế kỷ 18 đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên các đảo trong Vịnh Thái
Lan. Khi đặt ách thống trị trên Nam Kỳ và Campuchia, các quan chức Pháp đã
tiến hành khảo sát vùng biển giữa hai nước Việt Nam, Campuchia và đứng
trước tình hình tất cả các đảo trên vùng biển này về mặt hành chính đều thuộc
tỉnh Hà Tiên của Việt Nam. Ngày 25/3/1873 chuẩn đô đốc thống đốc Nam Kỳ
Krantz đã thừa nhận thực tế đó trong nghị định quy định đảo Phú Quốc và tất cả
các đảo trên vùng biển giữa Nam Kỳ và Campuchia được tách khỏi tỉnh Hà Tiên,
lập thành một quận trực thuộc thống đốc Nam Kỳ.
Đối với các đảo xa bờ, theo chính sử Việt Nam và theo nhiều nhân chứng
nước ngoài, từ thế kỷ 17, các chúa Nguyễn với. danh nghĩa Nhà nước đã thành
lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hàng năm ra khai thác và quản lý các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Tiếp đó triều Nguyễn rất quan tâm đến việc củng cố chủ quyền Việt Nam trên
hai quần đảo, các hoàng đế Gia Long, Minh Mạng liên tiếp phái thuỷ quân ra
Hoàng Sa - Trường Sa khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, lập miếu, dựng bia. Theo
Đại Nam Thực Lục Chính biên, trong 3 năm: 1833, 1835, 1836 vua Minh Mạng
liên tiếp có chi thị về Hoàng Sa.
Không chỉ chăm lo khai thác hai quần đảo, nhà vua Việt Nam còn lo bảo đảm
an toàn cho tàu thuyền Việt Nam và các nước qua lại vùng biển xung quanh hai
quần đảo, năm 1833 vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công rằng: "Trong hải
phận Quảng Nghĩa, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu; không
phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dự
26
bị thuyền mành, đến sang năm phái người tới đó trồng nhiều cây cối. Ngày sau
cây cối xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn".
Trong một tài liệu viết năm 1768, đô đốc Pháp D'Estaing, người nhận nhiệm
vụ nghiên cứu kế hoạch tiến công vào Việt Nam đã viết rằng: "Việc đi lại giữa
quần đảo đá Paracel (tức Hoàng Sa) và đất liền còn khó khăn hơn việc đi lại
ngoài biển khơi. Thế mà các thuyền nhỏ của xứ này thường qua lại vùng quần
đảo". D'Estaing đánh giá các thủy thủ Việt Nam là "những người quen sông
nước và là các thuỷ thủ giỏí". Trong một tài liệu khác viết vào cuối năm 1758
đầu năm 1759, D'Estaing còn nói ở Huế có tới 400 khẩu pháo hầu hết là của Bồ
Đào Nha thu lượm từ các xác tầu đắm ở Paracel.
Trong cuốn "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" xuất ở
Paris năm 1996, giáo sư Monique Chemillier Gendreau, chủ tịch Hội luật gia
Châu Âu đã vìết; "Khi có Hiệp ước bảo hộ của Pháp năm 1884, Việt Nam đã
nắm giữ không có cạnh tranh và trong khoảng gần hai thế kỷ, một quyền (un
droit) đối với các quần đảo (Hoàng Sa, Trường Sa), theo đúng chế độ luật pháp
của thời kỳ đó".
Từ 1884, Chính quyền Pháp ở Đông Dương đã tiếp tục thực hiện và củng cố
chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo: tiến hành khảo sát khoa học, dựng bia
chủ quyền, dựng đèn biển, lập trạm khí tượng, đài vô tuyến điện, đưa quân ra
đồn trú, thành lập đơn vị hành chính trên quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa
thiên và sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Sau thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, nước Việt Nam giành lại được độc
lập thống nhất hoàn toàn, vấn đề bảo vệ biên giới, bảo vệ lãnh thổ toàn vẹn của
tổ quốc mới lại hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam.
Năm 1954, Bác Hồ nói ở đền Vua Hùng "Các Vua Hùng đã có công dựng
nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" và năm 1961, mặc dầu mới có
một nửa nước được giái phóng, Bác Hồ đã nóì: "Ngày trước ta chỉ có đêm và
rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết
giữ gìn lấy nó". Bác Hồ đã chỉ thị cho chúng ta phải nhận thức rõ tình hình mới,
phải chăm lo bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sau này, tưân theo chỉ thị
của Bác Hồ, hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã khẳng định lãnh thổ Việt Nam
"bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời" và 'Tổ quốc Việt Nam là
thiêng liêng, bất khả xâm phạm".
Trong bối cảnh địa lý và chính trị của nước ta sau năm 1975 , trước sự phát
trtển của luật pháp quốc tế về biển, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
phải giải quyết một loạt vấn đề biên giới - lãnh thổ với các nước láng giềng:
1. Giữa Việt Nam, Lào, Campuchia cần có một đường biên giới có giá trị
pháp lý quốc tế do các nhà nước có thẩm quyền ký kết, tạo ra cơ sở vững chắc
để xây dựng một đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa ba dân tộc.
27
2. Việt Nam cần xác định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa
với Indonesia, Thái Lan, Malaysia; vì theo các quy định mới của luật biển quốc tế
thì vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của nước ta và các nước đó chồng
lên nhau.
3. Việt Nam cần giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển với Philippin,
Malaysia vì hai nước này có yêu sách về chủ quyền đối với một phần hoặc đại
bộ phận quần đảo Trường Sa.
4. Với Trung Quốc, Việt Nam phải giải quyết các vấn đề sau:
- Đường biên giới trên đất liền;
- Đường biên giới trong Vịnh Bắc bộ;
- Các vấn đề chủ quyền lãnh thổ và thềm lục địa trên Biển Đông: từ năm
1909 Trung Quốc bắt đầu có tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và từ những năm
1930 bắt đầu có hành động tranh chấp quần đảo Trường Sa (sẽ trình bày cụ thể
ở dưới).
- Vấn đề ranh giới vùng thông báo bay (FIR) ngoài khơi Trung bộ - Việt Nam,
Trung Quốc đưa ra đề nghị lập FIR Sanya lấn vào phần phía Bắc FIR Hồ Chí
Minh mà Hàng không dân dụng quốc tế giao cho Hong Kong tạm thời quản lý
năm 1975 chủ yếu là họ muốn quản lý toàn bộ vùng trời trên quần đảo Hoàng Sa
và lấn vào phần phía Đông FIR Hà Nội trên Vịnh Bắc Bộ.
Với chủ trương nhất quán là giải quyết mọi tranh chấp về biên giới lãnh thổ
với các nước láng giềng bằng thương lượng hoà bình, Việt Nam đã và đang giải
quyết các vấn đề được đặt ra như sau:
1. Với Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Tháng 2/1976, lãnh đạo hai nước đã cho ý kiến về nguyên tắc giải quyết vấn
đề biên giới giữa hai nước. Đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là đường
bỉên giới trên bản đồ của Sở Địa dư Đông Dương năm 1945 tỷ lệ 1/100 000
(năm 1945 là thời điểm hai nước tuyên bố độc lập).
Như vậy là lãnh đạo Việt Nam và Lào đã cho nguyên tắc giải quyết vấn đề
biên giới hai nước theo nguyên tắc Uti-possidétis (anh hãy làm chủ cái anh đang
có), một nguyên tắc đã được áp dụng ở Châu Mỹ la tinh trong thời kỳ phi thực
dân hoá và đã được Tổ chức thống nhất Châu Phi chấp nhận với nội dung "tôn
trọng các đường biên giới tồn tại vào lúc mà các nước Châu Phi giành được độc
lập".
Dựa trên nguyên tắc Uti possidétis, qua 4 đợt đàm phán trong Uỷ ban liên
hợp Việt - Lào về hoạch định biên giới, ngày 18/7/1977 hai nước ký Hiệp ước
28
Hoạch định biên giới. Việc phân giới cắm mốc đường biên giới dài 2067 km bắt
đầu tiến hành ngày 25/7/1978 và đến 24/8/1984 thì kết thúc.
Ngày 24/1/1986 hai nước ký Hiệp ước bổ sung ghi nhận những điểm điều
chỉnh đường biên giới đã hoạch định năm 1977, ký nghị định thư ghi nhận kết
quả phân gìới cắm mốc. Ngày 1/3/1990 hai nước ký Hiệp định quy chế biên giới.
Thi hành Hiệp định này, hàng năm có cuộc họp giữa Đoàn đại biểu biên giới hai
nước với sự có mặt của đại diện các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh biên giới
của hai nước để kiểm điểm việc thi hành Hiệp định quy chế biên giới.
2. Với Campuchia
Trước năm 1964, quan điểm cơ bản của phía Campuchia về biên giới lãnh
thổ giữa hai nước là đòi Việt Nam trả lại cho Campuchia 6 tỉnh Nam Kỳ và đảo
Phú Quốc.
Từ năm 1964 - 1967, Chính phủ Vương quốc Campuchia do Quốc trưởng
Norodom Sihanouk đứng đầu chính thức đề nghị Việt Nam công nhận
Campuchia trong đường biên giới hỉện tại, cụ thể là đường biên giới trên bản đồ
tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 với 9
điểm sửa đổi, tổng diện tích khoảng 100 km2. Trên biển, phía Campuchia đề
nghị các đảo phía Bắc đường do Toàn quyền Brévié vạch năm 1939 là thuộc
Campuchia, cộng thêm quần đảo Thổ Chu và nhóm phía Nam quần đảo Hải
Tặc.
Trong năm 1967, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam đã chính thức công nhận và cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh
thổ của Campuchia trong đường biên giôi hiện tại (công hàm của Việt Nam
không nói tới vấn đề chủ quyền đối với các đảo trên biển và 9 điểm mà
Campuchia đề nghị sửa đổi về đường biên giới trên bộ).
Ngày 27/12/1985 Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Campuchia đã ký Hiệp
ước hoạch định biên giới quốc gia trên cơ sở thoả thuận năm 1967. Thi hành
Hiệp ước, hai bên đã tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới từ
tháng 4/1986 đến tháng 12/1988 được 207 km/1137 km, tháng 1/1989 theo đề
nghị của phía Campuchia, hai bên tạm dừng việc phân giới cắm mốc.
Trên biển, ngày 7/7/1982 hai Chính phủ ký Hiệp định thiết lập vùng nước lịch
sử chung giữa hai nước và thỏa thuận: sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp
để hoạch định đường biên giới trên biển, lấy đường gọi là đường Brévié được
vạch ra năm 1939 với tính chất là đường hành chính và cảnh sát làm đường
phân chia đảo giữa hai nước.
Với Chính phủ Campuchia thành lập sau khi ký Hiệp ước hoà bình về
Campuchia năm 1993 , năm 1994, 1995 Thủ tướng Chính phủ hai nước đã thoả
thuận thành lập một nhóm làm việc cấp chuyên viên để thảo luận và giải quyết
29
vấn đề phân giới giữa hai nước và thảo luận những biện pháp cần thiết để duy
trì an ninh và ổn định trong khu vực biên giới nhằm xây dựng một đường biên
giới hoà bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước. Hai bên thoả thuận trong khi chờ
đợi giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về biên giới thì duy trì sự quản lý hiện
nay.
Thực hiện thoả thuận giữa Thủ tướng Chính phủ hai nước nhân dịp Thủ
tướng Ung Huốt sang thăm Việt Nam đầu tháng 6/1998, nhóm chuyên viên liên
hơp về biên giới Việt Nam - CPC đã họp tại Phnom Pênh từ ngày 16 20/6/1998. Trong cuộc họp này hai bên đã trao đổl về việc tiếp tục thực hiện các
Hiệp ước, Hiệp định về biên giới giữa hai nước đã ký trong những năm 1982,
1983, 1985. Hai bên đã dành nhiều thời gian thảo luận một số vấn đề về quan
điểm của hai bên liên quan đến biên giới biển và biên giớl trên bộ với mong
muốn xây dựng đường biên giới giữa hai nước trở thành đường biên giới hoà
bình, hữu nghị và hợp tác lâu dài.
Hai bên đã thống nhất kìến nghị lên Chính phủ hai nước tiến hành thành lập
Uỷ ban liên hơp với những nhiệm vụ:
- Soạn thảo Hiệp ước về hoạch định biên giới biển và Hiệp ước bổ sung Hiệp
ước hoạch định biên giới quốc gia trình lên chính phủ hai nước.
- Chỉ đạo việc phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới.
- Giải quyết mọi vấn đề liên quan đến việc thực hiện Hiệp định về quy chế
biên giới giữa hai nước.
Qua trao đổi về đường biên giới biển, phía Campuchia kiên trì quan điểm
muốn lấy đường do Toàn quyền Brévié vạch ra tháng 1/1939 làm đường biên
giới biển của hai nước.
Ta đã nói rõ là ta không chấp nhận đường Brévié làm đường biên giới biển
giữa hai nước vì:
1. Đường Brévié không phải là một văn bản pháp quy, chỉ là một bức thư
(lettre) gửi cho Thống đốc Nam Kỳ đồng gửi cho Khâm sứ Pháp ở Campuchia.
Văn bản đó chỉ có mục đích giải quyết vấn đề phân định quyền hành chính và
cảnh sát đối với các đảo, không giải quyết vấn đề quy thuộc lãnh thổ;
2. Cả hai bên không có bản đồ đính kèm theo văn bản Brévié vì vậy hiện nay
ít nhất lưu hành 4 cách thể hiện đường Brévté khác nhau: Đường của Pôn Pốt,
đường của Chính quyền miền Nam Việt Nam, đường của ông Sarin Chhak trong
luận án tiến sỹ bảo vệ ở Paris sau đó được xuất bản với lời tựa của Quốc trưởng
Norodom Sihanouk, đường của các học giả Hoa Kỳ.
30
3 . Nếu chuyển đường Brévié thành đường biên giới biển thì không phù hợp
với luật pháp quốc tế, thực tiễn quốc tế, quá bất lợi cho Việt Nam và nên lưu ý là
vào năm 1939 theo luật pháp quốc tế lãnh hải chỉ là 3 hải lý, chưa có quy định về
vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa thì đường Brévié làm sao có thể giải
quyết vấn đề phân định lãnh hải theo quan điểm hiện nay và phân định vùng đặc
quyền về kinh tế và thềm lục địa.
Phía Việt Nam đã đề nghị hai bên thoả thuận: áp dụng luật biển quốc tế,
tham khảo thực tiển quốc tế, tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trên vùng biển
hai nước để đi đến một giải pháp công bằng trong việc phân định vùng nước lịch
sử, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của hai nước.
3. Với Indonesia
Việt Nam và Indonesia cách nhau 250 hải lý vùng biển tính từ Côn Đảo và
Natuna Bắc là hai đảo xa nhất của hai nước đối diện nhau do đó trước kia không
có vấn đề biên giới giữa hai nước (nếu tính từ bờ biển Việt Nam và bờ biển
Bornéo thì cách nhau trên 400 hải lý). Đến nay do sự phát tnển của luật pháp
quốc tế về biển, hai bên phải phân định ranh giới vùng thềm lục địa và vùng đặc
quyền kinh tế.
Năm 1972, Indonesia và chính quyền Sài Gòn đàm phán 1 vòng, quan điểm
của Indonesia là phân định theo trung tuyến giữa các đảo xa nhất của hai bên,
quan điểm của Sài gòn là trung tuyến Giữa bờ biển Việt Nam và Bornéo, hai
quan điểm tạo nên vùng chồng lấn rộng khoảng 37.000 km2. (Đảo Natuna Bắc là
đảo xa nhất của Indonesia đối diện với miền Nam Việt Nam cách Bornéo 320
km; Côn Đảo, đảo đối diện với Natuna bắc chỉ cách đất liền 90 km).
Từ năm 1978 CHXHCN Việt Nam và Indonesia bắt đầu đàm phán. Indonesia
giữ quan điểm cũ, quan điểm của ta dựa vào định nghĩa thềm lục địa là sự kéo
dài tự nhiên của lục địa, do đó ranh giới nên theo đường rãnh ngầm ngăn cách
sự kéo dài tự nhiên của hai thềm lục địa, hai quan điểm tạo ra vùng tranh chấp
lúc đầu rộng khoảng 92.000 km2.
Qua 10 vòng đàm phán hai bên đã dần dần thu hẹp được vùng tranh chấp
xuống còn khoảng 4.500 km2 nhưng đầu năm 1993 Indonesia đề nghị huỷ bỏ
toàn bộ kết quả đàm phán từ 1978 dến 1992 và đàm phán lại từ đầu.
Cho đến nay, qua 5 vòng trao đổi không chính thức, hai bên chưa đi đến thoả
thuận nối lại đàm phán.
4. Với Malaysia
Giữa Việt Nam và Malaysia có một vùng chống lấn vùng biển và thềm lục địa
rộng khoảng 2.800km2. Vùng này hình thành bởi đường ranh giới thềrn lục địa
do chính quyền Sài Gòn c
CHO TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG
Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ
giữa Việt Nam và các nước láng
giềng
Lê Minh Nghĩa
Cố Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ
Đây là báo cáo của tác giả Lê Minh Nghĩa tại Hội Thảo mùa Hè về “Phát triển
khu vực châu Á Thái Bình Dương và tranh chấp Biển Đông” tổ chức tại New
22
York City gần mười năm trước, vào ngày 15 và 16 tháng 7, 1998. Dủ có nhiều
chi tiết (nhất là liên quan đến các nước ASEAN) cần được cập nhật, để tôn trọng
tác giả (đã qua đời năm 2004), Thời Đại Mới xin đăng lại nguyên bản, không sửa
đổi. Cũng xin lưu ý rằng khi trình bày báo cáo này, tác giả đã về hưu, không còn
giữ một chức vụ nào trong Chính phủ Việt Nam.
Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi đân tộc.
Trong đó lãnh thổ và biên giới quốc gia lại là hai yếu tố gắn bó với nhau như
hình với bóng do đó pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế đều thừa
nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia. Cho
đến đầu thế kỷ 20, pháp luật quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dùng vũ lực để xâm
chiếm một bộ phận hay toàn bộ lãnh thổ của một nước là hợp pháp. Nhưng
ngay sau chiến tranh thế gìới thứ haì, Hiến chương Liên Hợp Quốc được thông
qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh
thổ của một Quốc gia. Cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và quyết liệt của các
dân tộc thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai mà dân tộc ta là một đội ngũ
tiên phong với chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ đã dẫn tới nghị quyết cụ thể
và đầy đủ hơn của Liên Hợp Quốc về vấn đề này.
Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc
trao trả nền độc lập cho các nước và các đân tộc thuộc địa đã viết: "Mọi hành
động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lạỉ các dân
tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền
của họ về độc lập hoàn toàn một cách hoà bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ
của họ sẽ được tôn trọng".
Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hợp Quốc lại viết: "Các quốc gia có
nghĩa vụ không được dùng đe doạ hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường
biên gỉới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hoặc như biện pháp giải quyết
các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan
đến các biên giới của các Quốc gia".
"Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe doạ hoặc bằng sử dụng vũ lực
không được thừa nhận là hợp pháp".
Theo những tài liệu hiện có thì triều đình Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề
biên giới - lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10 sau khi giành lại quyền độc lập tự
chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 và ngày càng củng cố nền
độc lập tự chủ đó.
Theo Tống sử, Tông Cảo sứ giả nhà Tống được phái sang nước ta năm 990
sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 981 đã báo cáo rằng khi họ đến "hải
giới Giao Chỉ" thì Lê Hoàn (Vua Lê Đại Hành) đã phái 9 chiến thuyền và 300
quân lên đón và dẫn họ đến địa điểm quy định. Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp
23
(1178), Chu Khứ Phi một viên quan nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây đã viết
rằng: dòng nước Thiên Phân Dao là định giới giữa 'bíển Giao Chỉ" và biển
Quỳnh - Liêm (tức vùng biển Quỳnh Châu, Liêm Châu của Trung Quốc).
Như vậy là ngay từ thế kỷ thứ 10 và 12 , sứ thần Trung Quốc và quan lại
Trung Quốc đã biết đâu là vùng biển Giao Chỉ (tức Việt Nam), đâu là vùng biển
Trung Quốc.
Trong thế kỷ 11 đã diễn ra một số cuộc đàm phán biên giới giữa Việt Nam và
Trung Quốc để đòi lại những vùng đất mà Trung Quốc còn chiếm, sau khi phải
rút quân trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1076-1077, cuộc chiến tranh đã
xuất hiện 4 câu thơ của Lý Thường Kiệt mà hai câu đầu khẳng định chủ quyền
lãnh thổ:
Nam Quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời).
Trong các cuộc đàm phán đó có cuộc đàm phán về biên giới năm 1078 do
Đào Tòng Nguyên dẫn đầu và cuộc đàm phán năm 1084 do Trạng nguyên khai
khoa Lê Văn Thịnh dẫn đầu. Trong thư gửi cho vua nhà Tống đòi đất, vua Lý
Nhân Tông viết: "Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôi đau sót
luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng."
Ngoài việc dùng quân sự đánh úp, giải phóng Châu Quang Lang, ngay sau
khi đại quân Tống rút lui, đấu tranh kiên trì của triều đình kết hợp với đấu tranh
của nhân dân: bắn lén, bỏ thuốc độc cộng thêm khí hậu khắc nghiệt, khiến cho,
theo Tống sử, đội quân đồn trú của nhà Tống mỗi năm tổn thất 70%-80% và
năm 1079 mặc dầu đã đổi tên Châu Quảng Nguyên thành Thuận Châu vẫn đành
coi là vùng "Đất độc" và trả lại cho ta và năm 1084 trả lại cho ta vùng Bảo Lạc,
Túc Tang. Khi đi đàm phán biên giới, sứ thần ta đã tặng cho nhà Tống 5 thớt voi
khiến cho, theo Đại việt sử ký toàn thư, người Tống có thơ rằng "Nhân tham
Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim" nghĩa là vì tham voi của Giao
Chỉ mà bỏ mất vàng của Quảng Nguyên (họ đã đánh giá sai nguyên nhân dẫn
đến việc trả lại đất).
Trong Lịch triều Hiến chương Loại Chí viết năm 1821, Phan Huy Chú nhận
xét là trong đàm phán về biên gìới đời Lý có hai mặt mạnh: một là có "oai thắng
trận", hai là "sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung, khôn khéo".
Nhà Trần đã bố trí các trọng thần phụ trách các hướng biên giới: Tướng quốc
Thái sư Trần Thủ Độ phụ trách hướng Lạng Sơn, Chiêu Văn Vương Trần Nhật
Duật phụ trách hướng Hà Giang, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư phụ trách
hướng Đông Bắc (Người thay Nhân Huệ Vương là con Hưng Đạo Đại Vương,
Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng).
24
Thế kỷ 15 Vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách núi đá ở Hoà Bình để nhắc
con cháu:
"Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tư kế cửu an"
(Tạm dịch: việc biên phòng cần có phương lược phòng thủ; đất nước phải lo
kế lâu dài).
Năm 1473, vua Lê Thánh Tông chỉ thị cho những người đi giải quyết vấn đề
biên giới với nhà Minh "Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước
núi, một tấc sông tổ tiên để lại mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di".
Năm 1466 khi quân Minh cướp bóc vùng Thông Nông, Bảo Lạc thuộc tỉnh
Cao Bằng, một mặt nhà vua phản kháng đòi nhà Minh phải bồi thường, mặt khác
ra lệnh đầy 2 người chỉ huy ở Cao Bằng đi xa về tội phòng giữ biên giới không
cẩn mật và ra sắc dụ cho các tỉnh biên giới: "Người bầy tôi giữ đất đai của triều
đình, chức phận là phải bảo toàn cảnh thổ, yên uỷ nhân dân, bẻ gẫy những mũi
nhọn tiến công, chống lại những kẻ khinh rẻ nước mình"
Luật Hồng Đức công bố năm 1483 có điều khoản 74, 88 về bảo vệ đất đai ở
biên giới như sau: "Những người bán ruộng đất ở biên cương cho người nước
ngoài thì bị tội chém"; Quan phường xã biết mà không phát giác cũng bị tội;
"Những người đẵn tre, chặt gỗ ở nơi quan ải thì bị xử tội đồ" (đồ là đầy đi làm
khổ sai).
Chính nhờ cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ, thông minh, khôn khéo của
các thế hệ Việt Nam nối tiếp, mặc dầu trong tình hình so sánh lực lượng rất
chênh lệch, phong kiến phương Bắc luôn luôn có ý đồ thôn tính, lấn chiếm
nhưng biên cương phía Bắc nước ta vẫn hình thành rõ rệt và ổn định về cơ bản
từ ngàn năm nay.
Tạp chí Géographer của Vụ tình báo và nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
ngày 29/10/1964 thừa nhận: "Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá
vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập vương quốc Đại Cồ Việt ... Nhà nước
mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình ... Một đường biên giới gần giống
như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia" cách đây 10 thế kỷ.
Trong bài "Tổng Tụ long và đường biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ" năm 1924,
Bonifacy, tư lệnh đạo quan binh Hà Giang đầu thế kỷ 20 viết: "Đường biên giới
lịch sừ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được xác định một cách hoàn hảo
(parfaitement défini). Khi cần người Việt Nam biết bảo vệ các quyền của họ, mặc
dầu người Trung Quốc cho rằng không thể có đường biên giới giữa Việt Nam và
Thiên Triều".
25
Điều mà con cháu ngày nay vô cùng cảm kích, khâm phục, biết ơn là ông cha
ta chẳng những chăm lo bảo vệ vững chắc biên cương đất liền mà còn rất quan
tâm xác lập và bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên vùng biển.
Tiếp theo hành động buộc sứ thần Trung Quốc phải thừa nhận "hải giới" Việt
Nam cuối thế kỷ thứ 10, nhà Lý đã thành lập trang Vân Đồn để quản lý vùng biển
Đông Bắc; nhà Trần nâng trang Vân Đồn thành trấn Vân Đồn trực thuộc triều
đình; Nhà Lê đặt tuần kiểm ở các cửa biển để quản lý biển, thu thuế các tầu
thuyền nước ngoài. Do vậy chủ quyền Việt Nam trên các đảo vùng biển Đông
Bắc được xác lập sớm. Đến thế kỷ 19, khi Pháp yà nhà Thanh đàm phán về
vùng biển trong Vịnh Bắc bộ thì không có tranh chấp về chủ quyền đối với các
đảo ở vùng này, nhà Thanh phải thừa nhận tất cả các đảo ở phía Tây đường
kình tuyến Paris 105o43' Đ là thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Năm 1171, 1172, vua Lý Anh Tông đích thân đi "tuần tra các hải đảo ngoài
biển ở địa giới các phiên bang Nam, Bắc, tìm hiểu đường đí, vẽ bản đồ và ghi
chép phong vật".
Ở phía Nam, các chúa Nguyễn sau khi xác lập chủ quyền Việt Nam đối với
các đảo dọc bờ biển miền Trung và miền Nam: Cồn Cỏ, Ly Sơn, Phú Quý, Côn
Đảo, đầu thế kỷ 18 đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên các đảo trong Vịnh Thái
Lan. Khi đặt ách thống trị trên Nam Kỳ và Campuchia, các quan chức Pháp đã
tiến hành khảo sát vùng biển giữa hai nước Việt Nam, Campuchia và đứng
trước tình hình tất cả các đảo trên vùng biển này về mặt hành chính đều thuộc
tỉnh Hà Tiên của Việt Nam. Ngày 25/3/1873 chuẩn đô đốc thống đốc Nam Kỳ
Krantz đã thừa nhận thực tế đó trong nghị định quy định đảo Phú Quốc và tất cả
các đảo trên vùng biển giữa Nam Kỳ và Campuchia được tách khỏi tỉnh Hà Tiên,
lập thành một quận trực thuộc thống đốc Nam Kỳ.
Đối với các đảo xa bờ, theo chính sử Việt Nam và theo nhiều nhân chứng
nước ngoài, từ thế kỷ 17, các chúa Nguyễn với. danh nghĩa Nhà nước đã thành
lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hàng năm ra khai thác và quản lý các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Tiếp đó triều Nguyễn rất quan tâm đến việc củng cố chủ quyền Việt Nam trên
hai quần đảo, các hoàng đế Gia Long, Minh Mạng liên tiếp phái thuỷ quân ra
Hoàng Sa - Trường Sa khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, lập miếu, dựng bia. Theo
Đại Nam Thực Lục Chính biên, trong 3 năm: 1833, 1835, 1836 vua Minh Mạng
liên tiếp có chi thị về Hoàng Sa.
Không chỉ chăm lo khai thác hai quần đảo, nhà vua Việt Nam còn lo bảo đảm
an toàn cho tàu thuyền Việt Nam và các nước qua lại vùng biển xung quanh hai
quần đảo, năm 1833 vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công rằng: "Trong hải
phận Quảng Nghĩa, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu; không
phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dự
26
bị thuyền mành, đến sang năm phái người tới đó trồng nhiều cây cối. Ngày sau
cây cối xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn".
Trong một tài liệu viết năm 1768, đô đốc Pháp D'Estaing, người nhận nhiệm
vụ nghiên cứu kế hoạch tiến công vào Việt Nam đã viết rằng: "Việc đi lại giữa
quần đảo đá Paracel (tức Hoàng Sa) và đất liền còn khó khăn hơn việc đi lại
ngoài biển khơi. Thế mà các thuyền nhỏ của xứ này thường qua lại vùng quần
đảo". D'Estaing đánh giá các thủy thủ Việt Nam là "những người quen sông
nước và là các thuỷ thủ giỏí". Trong một tài liệu khác viết vào cuối năm 1758
đầu năm 1759, D'Estaing còn nói ở Huế có tới 400 khẩu pháo hầu hết là của Bồ
Đào Nha thu lượm từ các xác tầu đắm ở Paracel.
Trong cuốn "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" xuất ở
Paris năm 1996, giáo sư Monique Chemillier Gendreau, chủ tịch Hội luật gia
Châu Âu đã vìết; "Khi có Hiệp ước bảo hộ của Pháp năm 1884, Việt Nam đã
nắm giữ không có cạnh tranh và trong khoảng gần hai thế kỷ, một quyền (un
droit) đối với các quần đảo (Hoàng Sa, Trường Sa), theo đúng chế độ luật pháp
của thời kỳ đó".
Từ 1884, Chính quyền Pháp ở Đông Dương đã tiếp tục thực hiện và củng cố
chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo: tiến hành khảo sát khoa học, dựng bia
chủ quyền, dựng đèn biển, lập trạm khí tượng, đài vô tuyến điện, đưa quân ra
đồn trú, thành lập đơn vị hành chính trên quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa
thiên và sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Sau thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, nước Việt Nam giành lại được độc
lập thống nhất hoàn toàn, vấn đề bảo vệ biên giới, bảo vệ lãnh thổ toàn vẹn của
tổ quốc mới lại hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam.
Năm 1954, Bác Hồ nói ở đền Vua Hùng "Các Vua Hùng đã có công dựng
nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" và năm 1961, mặc dầu mới có
một nửa nước được giái phóng, Bác Hồ đã nóì: "Ngày trước ta chỉ có đêm và
rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết
giữ gìn lấy nó". Bác Hồ đã chỉ thị cho chúng ta phải nhận thức rõ tình hình mới,
phải chăm lo bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sau này, tưân theo chỉ thị
của Bác Hồ, hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã khẳng định lãnh thổ Việt Nam
"bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời" và 'Tổ quốc Việt Nam là
thiêng liêng, bất khả xâm phạm".
Trong bối cảnh địa lý và chính trị của nước ta sau năm 1975 , trước sự phát
trtển của luật pháp quốc tế về biển, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
phải giải quyết một loạt vấn đề biên giới - lãnh thổ với các nước láng giềng:
1. Giữa Việt Nam, Lào, Campuchia cần có một đường biên giới có giá trị
pháp lý quốc tế do các nhà nước có thẩm quyền ký kết, tạo ra cơ sở vững chắc
để xây dựng một đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa ba dân tộc.
27
2. Việt Nam cần xác định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa
với Indonesia, Thái Lan, Malaysia; vì theo các quy định mới của luật biển quốc tế
thì vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của nước ta và các nước đó chồng
lên nhau.
3. Việt Nam cần giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển với Philippin,
Malaysia vì hai nước này có yêu sách về chủ quyền đối với một phần hoặc đại
bộ phận quần đảo Trường Sa.
4. Với Trung Quốc, Việt Nam phải giải quyết các vấn đề sau:
- Đường biên giới trên đất liền;
- Đường biên giới trong Vịnh Bắc bộ;
- Các vấn đề chủ quyền lãnh thổ và thềm lục địa trên Biển Đông: từ năm
1909 Trung Quốc bắt đầu có tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và từ những năm
1930 bắt đầu có hành động tranh chấp quần đảo Trường Sa (sẽ trình bày cụ thể
ở dưới).
- Vấn đề ranh giới vùng thông báo bay (FIR) ngoài khơi Trung bộ - Việt Nam,
Trung Quốc đưa ra đề nghị lập FIR Sanya lấn vào phần phía Bắc FIR Hồ Chí
Minh mà Hàng không dân dụng quốc tế giao cho Hong Kong tạm thời quản lý
năm 1975 chủ yếu là họ muốn quản lý toàn bộ vùng trời trên quần đảo Hoàng Sa
và lấn vào phần phía Đông FIR Hà Nội trên Vịnh Bắc Bộ.
Với chủ trương nhất quán là giải quyết mọi tranh chấp về biên giới lãnh thổ
với các nước láng giềng bằng thương lượng hoà bình, Việt Nam đã và đang giải
quyết các vấn đề được đặt ra như sau:
1. Với Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Tháng 2/1976, lãnh đạo hai nước đã cho ý kiến về nguyên tắc giải quyết vấn
đề biên giới giữa hai nước. Đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là đường
bỉên giới trên bản đồ của Sở Địa dư Đông Dương năm 1945 tỷ lệ 1/100 000
(năm 1945 là thời điểm hai nước tuyên bố độc lập).
Như vậy là lãnh đạo Việt Nam và Lào đã cho nguyên tắc giải quyết vấn đề
biên giới hai nước theo nguyên tắc Uti-possidétis (anh hãy làm chủ cái anh đang
có), một nguyên tắc đã được áp dụng ở Châu Mỹ la tinh trong thời kỳ phi thực
dân hoá và đã được Tổ chức thống nhất Châu Phi chấp nhận với nội dung "tôn
trọng các đường biên giới tồn tại vào lúc mà các nước Châu Phi giành được độc
lập".
Dựa trên nguyên tắc Uti possidétis, qua 4 đợt đàm phán trong Uỷ ban liên
hợp Việt - Lào về hoạch định biên giới, ngày 18/7/1977 hai nước ký Hiệp ước
28
Hoạch định biên giới. Việc phân giới cắm mốc đường biên giới dài 2067 km bắt
đầu tiến hành ngày 25/7/1978 và đến 24/8/1984 thì kết thúc.
Ngày 24/1/1986 hai nước ký Hiệp ước bổ sung ghi nhận những điểm điều
chỉnh đường biên giới đã hoạch định năm 1977, ký nghị định thư ghi nhận kết
quả phân gìới cắm mốc. Ngày 1/3/1990 hai nước ký Hiệp định quy chế biên giới.
Thi hành Hiệp định này, hàng năm có cuộc họp giữa Đoàn đại biểu biên giới hai
nước với sự có mặt của đại diện các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh biên giới
của hai nước để kiểm điểm việc thi hành Hiệp định quy chế biên giới.
2. Với Campuchia
Trước năm 1964, quan điểm cơ bản của phía Campuchia về biên giới lãnh
thổ giữa hai nước là đòi Việt Nam trả lại cho Campuchia 6 tỉnh Nam Kỳ và đảo
Phú Quốc.
Từ năm 1964 - 1967, Chính phủ Vương quốc Campuchia do Quốc trưởng
Norodom Sihanouk đứng đầu chính thức đề nghị Việt Nam công nhận
Campuchia trong đường biên giới hỉện tại, cụ thể là đường biên giới trên bản đồ
tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 với 9
điểm sửa đổi, tổng diện tích khoảng 100 km2. Trên biển, phía Campuchia đề
nghị các đảo phía Bắc đường do Toàn quyền Brévié vạch năm 1939 là thuộc
Campuchia, cộng thêm quần đảo Thổ Chu và nhóm phía Nam quần đảo Hải
Tặc.
Trong năm 1967, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam đã chính thức công nhận và cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh
thổ của Campuchia trong đường biên giôi hiện tại (công hàm của Việt Nam
không nói tới vấn đề chủ quyền đối với các đảo trên biển và 9 điểm mà
Campuchia đề nghị sửa đổi về đường biên giới trên bộ).
Ngày 27/12/1985 Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Campuchia đã ký Hiệp
ước hoạch định biên giới quốc gia trên cơ sở thoả thuận năm 1967. Thi hành
Hiệp ước, hai bên đã tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới từ
tháng 4/1986 đến tháng 12/1988 được 207 km/1137 km, tháng 1/1989 theo đề
nghị của phía Campuchia, hai bên tạm dừng việc phân giới cắm mốc.
Trên biển, ngày 7/7/1982 hai Chính phủ ký Hiệp định thiết lập vùng nước lịch
sử chung giữa hai nước và thỏa thuận: sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp
để hoạch định đường biên giới trên biển, lấy đường gọi là đường Brévié được
vạch ra năm 1939 với tính chất là đường hành chính và cảnh sát làm đường
phân chia đảo giữa hai nước.
Với Chính phủ Campuchia thành lập sau khi ký Hiệp ước hoà bình về
Campuchia năm 1993 , năm 1994, 1995 Thủ tướng Chính phủ hai nước đã thoả
thuận thành lập một nhóm làm việc cấp chuyên viên để thảo luận và giải quyết
29
vấn đề phân giới giữa hai nước và thảo luận những biện pháp cần thiết để duy
trì an ninh và ổn định trong khu vực biên giới nhằm xây dựng một đường biên
giới hoà bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước. Hai bên thoả thuận trong khi chờ
đợi giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về biên giới thì duy trì sự quản lý hiện
nay.
Thực hiện thoả thuận giữa Thủ tướng Chính phủ hai nước nhân dịp Thủ
tướng Ung Huốt sang thăm Việt Nam đầu tháng 6/1998, nhóm chuyên viên liên
hơp về biên giới Việt Nam - CPC đã họp tại Phnom Pênh từ ngày 16 20/6/1998. Trong cuộc họp này hai bên đã trao đổl về việc tiếp tục thực hiện các
Hiệp ước, Hiệp định về biên giới giữa hai nước đã ký trong những năm 1982,
1983, 1985. Hai bên đã dành nhiều thời gian thảo luận một số vấn đề về quan
điểm của hai bên liên quan đến biên giới biển và biên giớl trên bộ với mong
muốn xây dựng đường biên giới giữa hai nước trở thành đường biên giới hoà
bình, hữu nghị và hợp tác lâu dài.
Hai bên đã thống nhất kìến nghị lên Chính phủ hai nước tiến hành thành lập
Uỷ ban liên hơp với những nhiệm vụ:
- Soạn thảo Hiệp ước về hoạch định biên giới biển và Hiệp ước bổ sung Hiệp
ước hoạch định biên giới quốc gia trình lên chính phủ hai nước.
- Chỉ đạo việc phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới.
- Giải quyết mọi vấn đề liên quan đến việc thực hiện Hiệp định về quy chế
biên giới giữa hai nước.
Qua trao đổi về đường biên giới biển, phía Campuchia kiên trì quan điểm
muốn lấy đường do Toàn quyền Brévié vạch ra tháng 1/1939 làm đường biên
giới biển của hai nước.
Ta đã nói rõ là ta không chấp nhận đường Brévié làm đường biên giới biển
giữa hai nước vì:
1. Đường Brévié không phải là một văn bản pháp quy, chỉ là một bức thư
(lettre) gửi cho Thống đốc Nam Kỳ đồng gửi cho Khâm sứ Pháp ở Campuchia.
Văn bản đó chỉ có mục đích giải quyết vấn đề phân định quyền hành chính và
cảnh sát đối với các đảo, không giải quyết vấn đề quy thuộc lãnh thổ;
2. Cả hai bên không có bản đồ đính kèm theo văn bản Brévié vì vậy hiện nay
ít nhất lưu hành 4 cách thể hiện đường Brévté khác nhau: Đường của Pôn Pốt,
đường của Chính quyền miền Nam Việt Nam, đường của ông Sarin Chhak trong
luận án tiến sỹ bảo vệ ở Paris sau đó được xuất bản với lời tựa của Quốc trưởng
Norodom Sihanouk, đường của các học giả Hoa Kỳ.
30
3 . Nếu chuyển đường Brévié thành đường biên giới biển thì không phù hợp
với luật pháp quốc tế, thực tiễn quốc tế, quá bất lợi cho Việt Nam và nên lưu ý là
vào năm 1939 theo luật pháp quốc tế lãnh hải chỉ là 3 hải lý, chưa có quy định về
vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa thì đường Brévié làm sao có thể giải
quyết vấn đề phân định lãnh hải theo quan điểm hiện nay và phân định vùng đặc
quyền về kinh tế và thềm lục địa.
Phía Việt Nam đã đề nghị hai bên thoả thuận: áp dụng luật biển quốc tế,
tham khảo thực tiển quốc tế, tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trên vùng biển
hai nước để đi đến một giải pháp công bằng trong việc phân định vùng nước lịch
sử, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của hai nước.
3. Với Indonesia
Việt Nam và Indonesia cách nhau 250 hải lý vùng biển tính từ Côn Đảo và
Natuna Bắc là hai đảo xa nhất của hai nước đối diện nhau do đó trước kia không
có vấn đề biên giới giữa hai nước (nếu tính từ bờ biển Việt Nam và bờ biển
Bornéo thì cách nhau trên 400 hải lý). Đến nay do sự phát tnển của luật pháp
quốc tế về biển, hai bên phải phân định ranh giới vùng thềm lục địa và vùng đặc
quyền kinh tế.
Năm 1972, Indonesia và chính quyền Sài Gòn đàm phán 1 vòng, quan điểm
của Indonesia là phân định theo trung tuyến giữa các đảo xa nhất của hai bên,
quan điểm của Sài gòn là trung tuyến Giữa bờ biển Việt Nam và Bornéo, hai
quan điểm tạo nên vùng chồng lấn rộng khoảng 37.000 km2. (Đảo Natuna Bắc là
đảo xa nhất của Indonesia đối diện với miền Nam Việt Nam cách Bornéo 320
km; Côn Đảo, đảo đối diện với Natuna bắc chỉ cách đất liền 90 km).
Từ năm 1978 CHXHCN Việt Nam và Indonesia bắt đầu đàm phán. Indonesia
giữ quan điểm cũ, quan điểm của ta dựa vào định nghĩa thềm lục địa là sự kéo
dài tự nhiên của lục địa, do đó ranh giới nên theo đường rãnh ngầm ngăn cách
sự kéo dài tự nhiên của hai thềm lục địa, hai quan điểm tạo ra vùng tranh chấp
lúc đầu rộng khoảng 92.000 km2.
Qua 10 vòng đàm phán hai bên đã dần dần thu hẹp được vùng tranh chấp
xuống còn khoảng 4.500 km2 nhưng đầu năm 1993 Indonesia đề nghị huỷ bỏ
toàn bộ kết quả đàm phán từ 1978 dến 1992 và đàm phán lại từ đầu.
Cho đến nay, qua 5 vòng trao đổi không chính thức, hai bên chưa đi đến thoả
thuận nối lại đàm phán.
4. Với Malaysia
Giữa Việt Nam và Malaysia có một vùng chống lấn vùng biển và thềm lục địa
rộng khoảng 2.800km2. Vùng này hình thành bởi đường ranh giới thềrn lục địa
do chính quyền Sài Gòn c
 









Các ý kiến mới nhất