HOA HOC 10

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: wikipedia.org
Người gửi: Phan Tấn Phát
Ngày gửi: 20h:28' 30-09-2012
Dung lượng: 55.5 KB
Số lượt tải: 17
Nguồn: wikipedia.org
Người gửi: Phan Tấn Phát
Ngày gửi: 20h:28' 30-09-2012
Dung lượng: 55.5 KB
Số lượt tải: 17
Số lượt thích:
0 người
Axít sunfuric
Axít sunfuric
/
Cấu trúc phân tử của axít sulfuric
Tổng quan
pháp
Axít sulfuric
Tên khác
Dầu sulfat, Hiđro sulfat
thức phân
H2SO4
tử
98,078 g/mol
Biểu hiện
Dầu trong suốt, không màu, không mùi
[7664-93-9]
Thuộc tính
và
1,84 g/cm3, lỏng
hòa trong
Có thể trộn lẫn (tỏa nhiệt!)
nóng
10 °C, 283 K
338 °C (dung dịch axit 98%)
-3,0 1,99
26,7 ở 20 °C
Nguy hiểm
Các chính
Ăn mòn mạnh
///
bắt
Không cháy
ro/An
R: 35 S: 26, 30, 45
Số
WS5600000
dữ liệu bổ
trúc & thuộc
n εr, v.v.
liệu nhiệt động
Các trạng thái rắn, lỏng, khí
liệu quang
, , ,
Các hợp chất liên quan
Các tương tự
Các hợp chất liên quan
Ngoại trừ có thông báo khác, các dữ liệu được lấy ở °C, 100 tin về sự phủ nhận và tham
Axít sulfuric hay axít sulphuric, , là một vô mạnh. Nó hòa tan trong nước theo bất kỳ tỷ lệ nào. Tên gọi cổ của nó là dầu sulfat, được đặt tên bởi nhà giả kim ở thế kỉ thứ 8, Jabir ibn Hayyan sau khi ông phát hiện ra chất này. Axít sulfuric có nhiều ứng dụng, và nó được sản xuất với một sản lượng lớn hơn bất kỳ chất hóa học nào, ngoại trừ nước. Sản lượng của thế giới năm là 165 triệu , với giá trị xấp xỉ 8 tỷ USD. Ứng dụng chủ yếu của nó bao gồm sản xuất , chế biến quặng, tổng hợp hóa học, xử lý và tinh chế .
Nhiều prôtêin được tạo thành từ axít amin có chứa sulfua. Các axít này tạo ra axít sulfuric (hay ion sulfat, SO42-) khi chúng được trao đổi trong cơ thể.
Trạng thái
Axít sulfuric tinh khiết hoàn toàn không được tìm thấy trên Trái Đất, do ái lực rất lớn giữa axít sulfuric và nước. Ngoài ra, axít sulfuric là thành phần của , được tạo thành từ lưu trong nước bị ôxi hoá, hay là axít sulfuric bị ôxi hoá. Điôxít lưu huỳnh được sản xuất khi nhiên liệu chứa lưu huỳnh (hoặc ) bị đốt cháy.
Axít sulfuric được tạo thành trong tự nhiên bởi quá trình ôxi hoá quặng , ví dụ như quặng pirit sắt. Phân tử ôxy ôxi hoá quặng pirit sắt (FeS2) thành ion sắt (II) hay Fe2+:
2FeS2 + 7O2 + 2H2O → 2Fe2+ + 4SO42- + 4H+
Fe2+ có thể bị ôxi hoá lên Fe3+:
4Fe2+ + O2 + 4H+ → 4 Fe3++ 2H2O
và Fe3+ tạo ra có thể kết tủa dưới dạng hiđrôxit. Phương trình tạo thành hiđrôxit là
Fe3+ + 3H2O → Fe(OH)3/ + 3H+
Ion sắt (III) cũng có thể ôxi hóa pirit. Khi sắt (III) xuất hiện, quá trình có thể trở nên nhanh chóng.
Axít sulfuric ở ngoài Trái Đất
Axít sulfuric được tạo thành ở tầng khí quyển trên cao của nhờ quá trình quang hoá của mặt trời lên , điôxít lưu huỳnh và hơi nước. Độ dài sóng của cực nhỏ hơn 169 nm có thể phân tách điôxít cacbon thành và ôxy nguyên tử là một chất rất hoạt động. Khi ôxy nguyên tử phản ứng với điôxít lưu huỳnh trong khí quyển của sao Kim sẽ tạo ra lưu , và chất này có thể hợp thành với hơi nước, cũng là một thành phần trong khí quyển của sao Kim, tạo thành axít sulfuric:
CO2 → CO + O
SO2 + O2 → SO3
SO3 + H2O → H2SO4
Ở trên cao, phần có nhiệt độ cao hơn của khí quyển sao Kim, axít sulfuric chỉ tồn tại dưới dạng lỏng, và các đám mây axít sulfuric dầy hoàn toàn che khuất bề mặt hành tinh khi nhìn từ trên xuống. Lớp mây chính dàn ra khoảng 45 đến 70 km trên bề mặt hành tinh, với lớp bụi mỏng hơn từ 30 đến 90 km trên bề mặt.
Sản
Axít sunfuric
/
Cấu trúc phân tử của axít sulfuric
Tổng quan
pháp
Axít sulfuric
Tên khác
Dầu sulfat, Hiđro sulfat
thức phân
H2SO4
tử
98,078 g/mol
Biểu hiện
Dầu trong suốt, không màu, không mùi
[7664-93-9]
Thuộc tính
và
1,84 g/cm3, lỏng
hòa trong
Có thể trộn lẫn (tỏa nhiệt!)
nóng
10 °C, 283 K
338 °C (dung dịch axit 98%)
-3,0 1,99
26,7 ở 20 °C
Nguy hiểm
Các chính
Ăn mòn mạnh
///
bắt
Không cháy
ro/An
R: 35 S: 26, 30, 45
Số
WS5600000
dữ liệu bổ
trúc & thuộc
n εr, v.v.
liệu nhiệt động
Các trạng thái rắn, lỏng, khí
liệu quang
, , ,
Các hợp chất liên quan
Các tương tự
Các hợp chất liên quan
Ngoại trừ có thông báo khác, các dữ liệu được lấy ở °C, 100 tin về sự phủ nhận và tham
Axít sulfuric hay axít sulphuric, , là một vô mạnh. Nó hòa tan trong nước theo bất kỳ tỷ lệ nào. Tên gọi cổ của nó là dầu sulfat, được đặt tên bởi nhà giả kim ở thế kỉ thứ 8, Jabir ibn Hayyan sau khi ông phát hiện ra chất này. Axít sulfuric có nhiều ứng dụng, và nó được sản xuất với một sản lượng lớn hơn bất kỳ chất hóa học nào, ngoại trừ nước. Sản lượng của thế giới năm là 165 triệu , với giá trị xấp xỉ 8 tỷ USD. Ứng dụng chủ yếu của nó bao gồm sản xuất , chế biến quặng, tổng hợp hóa học, xử lý và tinh chế .
Nhiều prôtêin được tạo thành từ axít amin có chứa sulfua. Các axít này tạo ra axít sulfuric (hay ion sulfat, SO42-) khi chúng được trao đổi trong cơ thể.
Trạng thái
Axít sulfuric tinh khiết hoàn toàn không được tìm thấy trên Trái Đất, do ái lực rất lớn giữa axít sulfuric và nước. Ngoài ra, axít sulfuric là thành phần của , được tạo thành từ lưu trong nước bị ôxi hoá, hay là axít sulfuric bị ôxi hoá. Điôxít lưu huỳnh được sản xuất khi nhiên liệu chứa lưu huỳnh (hoặc ) bị đốt cháy.
Axít sulfuric được tạo thành trong tự nhiên bởi quá trình ôxi hoá quặng , ví dụ như quặng pirit sắt. Phân tử ôxy ôxi hoá quặng pirit sắt (FeS2) thành ion sắt (II) hay Fe2+:
2FeS2 + 7O2 + 2H2O → 2Fe2+ + 4SO42- + 4H+
Fe2+ có thể bị ôxi hoá lên Fe3+:
4Fe2+ + O2 + 4H+ → 4 Fe3++ 2H2O
và Fe3+ tạo ra có thể kết tủa dưới dạng hiđrôxit. Phương trình tạo thành hiđrôxit là
Fe3+ + 3H2O → Fe(OH)3/ + 3H+
Ion sắt (III) cũng có thể ôxi hóa pirit. Khi sắt (III) xuất hiện, quá trình có thể trở nên nhanh chóng.
Axít sulfuric ở ngoài Trái Đất
Axít sulfuric được tạo thành ở tầng khí quyển trên cao của nhờ quá trình quang hoá của mặt trời lên , điôxít lưu huỳnh và hơi nước. Độ dài sóng của cực nhỏ hơn 169 nm có thể phân tách điôxít cacbon thành và ôxy nguyên tử là một chất rất hoạt động. Khi ôxy nguyên tử phản ứng với điôxít lưu huỳnh trong khí quyển của sao Kim sẽ tạo ra lưu , và chất này có thể hợp thành với hơi nước, cũng là một thành phần trong khí quyển của sao Kim, tạo thành axít sulfuric:
CO2 → CO + O
SO2 + O2 → SO3
SO3 + H2O → H2SO4
Ở trên cao, phần có nhiệt độ cao hơn của khí quyển sao Kim, axít sulfuric chỉ tồn tại dưới dạng lỏng, và các đám mây axít sulfuric dầy hoàn toàn che khuất bề mặt hành tinh khi nhìn từ trên xuống. Lớp mây chính dàn ra khoảng 45 đến 70 km trên bề mặt hành tinh, với lớp bụi mỏng hơn từ 30 đến 90 km trên bề mặt.
Sản
 









Các ý kiến mới nhất