Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

HẬU DUỆ THẦN ĐÈN TẬP 1

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:02' 19-02-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
ebook©vctvegroup
12-06-2018

Cuốn sách này dành tặng cho William Falcon Finlay Kerr,
Charles Foster Kerr , Naomi Rose Kerr, và tất cả thành viên của
London SW19.
Cảm ơn các bạn đã hỗ trợ tôi hoàn thành cuốn sách này.
Chúc các bạn luôn luôn hạnh phúc.

Chương mở đầu

Nơi nóng nhất trái đất
Đó là một bữa xế trưa trong một ngày hè nóng bức tại Ai Cập.
Hussein Hussaout và cậu con trai mười một tuổi Baksheesh, cùng
con chó Effendi của họ đã dựng trại trên một sa mạc cách thành
phố Cairo hai mươi dặm đường. Như mọi khi, họ đang lén đào bới
những món đồ cổ để bán trong cửa hàng của mình. Không có vật gì
chuyển động trong sa mạc ngoại trừ một con rắn, một con bọ hung,
một con bọ cạp nhỏ xíu, và ở đằng xa, một con lừa đang ì ạch kéo
chiếc xe thồ bằng gỗ chất đầy lá cọ trên một con đường mòn mù mịt
bụi. Ngoại trừ những vật đó, còn lại tất cả đều im ắng và bất động.
Đối với các du khách bình thường, thật khó để họ tưởng tượng được
cái hẻm núi đầy đá và cát này lại là một phần của di tích khảo cổ
lớn nhất Ai Cập. Họ cũng không thể nào ngờ lớp đất khô cằn này
chôn giấu bên dưới nó cả một kho tàng khổng lồ những tượng đài
và báu vật vô giá.
Baksheesh rất thích giúp cha tìm kiếm cổ vật trên sa mạc.
Nhưng, công việc nóng bức này khiến hai cha con cậu cứ vài phút
lại phải ném xuổng xuống đất, chạy tới chiếc Land Rover để uống
nước và tranh thủ tận hưởng chút không khí mát lạnh từ máy điều
hoà nhiệt độ bên trong xe, trước khi trở lại với việc đào bới. Công
việc cũng khá nguy hiểm. Bên cạnh hiểm họa từ rắn và bọ cạp, đây

còn là một vùng đất đầy rẫy những hố cát lún sâu hút. Chỉ cần một
chút sơ suất, người hay lạc đà đều có thể bị chúng nuốt chửng ngay.
Vận may có vẻ đã mỉm cười với cha con Baksheesh. Chỉ trong
buổi sáng, họ đã tìm thấy một vài hình nhân Shabti cổ, mấy món
đồ đất nung vỡ, và một bông tai nhỏ bằng vàng. Baksheesh cảm
thấy rất vui vì chính cậu đã tìm thấy cái bông tai. Cha cậu nói nó
rất có giá trị. Phản chiếu tia nắng sa mạc nóng bỏng, nó rực cháy
như một cái vòng lửa trên những ngón tay cáu bẩn của ông
Hussein.
Ông bảo con trai:
– Đi ăn trưa đi con trai. Hôm nay con đã làm tốt lắm rồi.
Nhưng bản thân ông vẫn tiếp tục đào bới, hy vọng sẽ kiếm được
thêm nhiều món đồ khác.
– Vâng ạ.
Baksheesh đi về phía đuôi chiếc Land Rover. Con Effendi đi sát
theo sau cậu, hy vọng sẽ được cho ăn cái gì đó. Baksheesh đến bên
cốp xe. Cậu đang định lấy ca nước lạnh thì bất thình lình, chiếc
Land Rover chuyển động. Nghĩ bụng chắc cái thắng tay không được
gài cẩn thận, cậu lao về phía cửa xe bên tay lái, định nhảy vào bên
trong để xiết lại thắng cho chặt. Nhưng khi cậu vừa với tay đến cái
nắm cửa, nó đột ngột vuột ra. Một hay hai giây ngay sau đó,
Baksheesh cảm thấy một chấn động dữ dội ngay dưới chân cậu,
như thể một gã khổng lồ vừa đấm vào cái trần đá trên đầu hắn.
Nhìn xuống, Baksheesh thấy mặt đất đang cuộn dưới chân cậu,
thành từng đợt sóng chạy dọc theo thung lũng. Mất thăng bằng,
cậu ngã nhào vào chiếc xe, cùi chỏ tay trầy xước nhẹ. Liền sau đó,
Baksheesh thét lên sợ hãi khi một cơn địa chấn thứ hai dữ dội hơn

xảy đến ngay khi cơn đầu tiên vừa kết thúc.
Baksheesh lồm cồm bò dậy, cố không để bị ngã nhoài. Mọi
chuyện trở nên dễ dàng hơn một khi cậu không nhìn xuống đất
nữa. Thay vào đó, cậu dán chặt mắt vào một vách núi phía trước,
cách chỗ cậu đang đứng chừng một phần tư dặm. Đó là nơi quen
thuộc với hai cha con cậu, vì họ thường xuyên làm việc ở đó. Tuy
nhiên, ngay khi cậu nhìn về phía đó, cả cái vách đổ ụp xuống thành
một mớ hỗn độn bụi, đá và cát.
Baksheesh ngồi phịch xuống đất, chỉ cốt để tránh bị té ngã lần
nữa. Dù chưa từng gặp một cơn động đất trước đây, cậu vẫn cảm
thấy khó có thể lầm cơn chuyển động đáng sợ này của mặt đất với
bất cứ điều gì khác. Tuy nhiên, trái ngược với tâm trạng của
Baksheesh, thay vì sợ hãi, cha cậu lại có vẻ rất vui sướng bởi cơn
động đất. Loạng choạng giữ thăng bằng, ông bắt đầu cười lên một
cách điên dại và hét vang:
– Cuối cùng nó cũng xảy ra. Cuối cùng nó cũng xảy ra.
Có vẻ ông tin rằng cơn động đất xảy ra là có lợi cho ông.
Những cơn chấn động trở nên dữ dội hơn – những cú giật theo
chiều ngang trộn lẫn với những rung chuyển theo chiều thẳng
đứng, như thể Mẹ thiên nhiên đang định đánh bại tất cả những
người như Hussein Hussaout, những người đủ thông minh để giả
vờ như mình đang bước đi trên boong một con thuyền trong bão –
với Baksheesh, có vẻ cha cậu đã hóa điên.
Ông Hussein hét lớn, át cả tiếng gầm rống đinh tai của mặt đất:
– Mười năm! Ta đã chờ đợi giây phút này mười năm trời.
Trong sự ngạc nhiên tột độ của Baksheesh, sự hào hứng, vui
sướng của cha cậu không có vẻ gì là sẽ giảm xuống, ngay cả khi một

khối đất đá lớn từ dưới lòng đất đâm thẳng lên trời, nhấc bổng
chiếc Land Rover lên cao gần hai mét phía trên đầu cậu và lật
ngược chiếc xe.
Giữ chặt con Effendi đang rên ư ử và run bần bật vì sợ hãi, cậu
hét lên:
– Ngừng lại đi cha! Cha điên rồi. Làm ơn ngừng lại đi, không
cha sẽ chết mất.
Trên thực tế, việc ông Hussein Hussaout đứng trên nền đất rung
chuyển không nguy hiểm gì hơn việc con trai và con chó của ông
bám chặt vào nó, tuy nhiên Baksheesh cảm thấy có một điều gì đó
bất kính về cách xử sự của cha cậu, như thể những tinh linh của
đất có thể thấy bị xúc phạm trước sự vui sướng và thái độ “coi trời
bằng vung” của ông, và quyết định trừng phạt cả ba.
Và rồi, cũng đột ngột như khi đã bắt đầu, tiếng gầm gừ bên dưới
lòng đất dần dần tắt lịm, những chuyển động đáng sợ ngừng lại,
bụi và cát nằm yên, sự bất động trở lại và tất cả lại trở nên im ắng
– tất cả, ngoại trừ Hussein Hussaout.
Ông hỏi to:
– Tuyệt quá, phải không con?
Chỉ đến lúc này, khi cuối cùng mặt đất đã ngừng chuyển động,
ông mới cho phép mình khuỵu chân quỳ xuống đất và, vẫn cười
nhăn nhở như một người điên, ông chắp hai tay vào nhau như thể
đang cầu nguyện.
Quay nhìn chiếc Land Rover đang nằm chỏng vó lên trời,
Baksheesh lắc đầu và nói:
– Có vẻ như chúng ta sẽ phải đi bộ ngược ra đường lớn để tìm
người giúp. Con chẳng thấy chuyện này có gì tuyệt quá cả.

Cha cậu vẫn giữ nguyên quan điểm của mình:
– Không đâu. Đây là một chuyện tuyệt vời.
Và ông giơ lên cho Baksheesh xem một mảnh đá nhỏ hơn cái đĩa
CD một chút.
– Nhìn này! Cha trông thấy nó ngay khi mặt đất bắt đầu di
chuyển. Hàng ngàn năm nay, gió và cát luôn là kẻ bảo vệ kho báu
của pharaoh. Nhưng đôi khi, mặt đất lại chuyển dời và những thứ
chôn giấu bên dưới nó lại hiện ra.
Với Baksheesh, mảnh đá nhìn chẳng có vẻ gì là một báu vật.
Trên thực tế, hầu như tất cả những người khác có lẽ cũng sẽ bỏ qua
mảnh đá bazan nhẵn, xám, vuông vức có khắc vài đường rãnh trên
mặt mà ông Hussein đang cầm. Nhưng ông Hussein đã ngay lập
tức nhận ra nó là gì: một miếng bia đá Ai Cập.
Cha cậu giải thích:
– Đây là một tấm bảng đá trên đó có khắc những dòng chữ
tượng hình cổ của Triều đại thứ 18. Nếu như cha không lầm thì
chúng ta đã tìm thấy chìa khóa giải mã một bí ẩn đã bị che giấu
suốt hàng ngàn năm. Hôm nay có thể sẽ là ngày tuyệt nhất trong
cả cuộc đời của chúng ta. Một người như cha đã chờ đợi cả đời cho
một cơ hội như thế này. Đó chính là điều tuyệt vời mà cha đã nói,
con trai. Là lý do vì sao cha thấy vui.

Chương 1

Đặt tên chó
Ông bà Edward Gaunt sống trong một tòa nhà bảy tầng cổ kính
nằm tại số 7, đường 77 phía Đông thành phố New York. Hai đứa
con sinh đôi của ông bà, John và Philippa, cùng mười hai tuổi,
nhưng lại chẳng giống nhau một chút nào (và cả hai đứa đều cảm
thấy nhẹ nhõm và thỏa mãn với điều đó). Chúng khác nhau đến nỗi
người ta khó có thể tin được chúng lại là trẻ sinh đôi. John, may
mắn được làm anh vì sinh ra trước mười phút, là một cậu bé cao
dong dỏng với mái tóc thẳng màu nâu và sở thích mặc đồ màu đen.
Cô em gái Philippa của cậu người nhỏ nhắn hơn với mái tóc lượn
sóng màu đỏ, thích mặc đồ màu hồng. Cặp mắt kiếng gọng sừng
làm cô nhìn có vẻ thông minh hơn anh. Cả hai đều cảm thấy tội
nghiệp cho những cặp sinh đôi giống nhau như đúc và tin rằng
chúng đã may mắn thoát nạn, cho dù đôi lúc cũng thấy bực mình
khi người ta cứ nhận xét chúng trông không giống nhau như thế
nào, như thể chẳng ai chú ý đến điều đó trước đây.
Tuy nhiên, những gì diễn ra bên trong đầu hai anh em nhà này
lại là một chuyện hoàn toàn khác. John và Philippa thường xuyên
có những suy nghĩ tương tự nhau. Thỉnh thoảng ở trường học, khi
thầy giáo đặt một câu hỏi, cả hai giơ tay xin trả lời cùng một lúc.
Khi xem các chương trình game show trên tivi, chúng sẽ đồng loạt

nói câu trả lời. Và không ai có thể chiến thắng hai anh em nhà này
trong trò chơi Pictionary[1] một khi chúng chơi chung một đội.
Cha chúng, ông Gaunt, là một giám đốc ngân hàng đầu tư, nghĩa
là ông cực kỳ giàu có. Bà Gaunt, thường được cộng đồng New York
biết đến với cái tên Layla, là một phụ nữ xinh đẹp rất tích cực tham
gia vào các hoạt động từ thiện. Và công việc đó rất cần đến bà, bởi
vì tất cả những gì bà chạm tay vào đều thành công. Bà tổ chức
nhiều buổi dạ tiệc, lời nói của bà lấp lánh như chùm đèn pha lê, và
bà quyến rũ bởi sự thông minh, khéo léo, sắc đẹp cùng vẻ kiêu sa
khó với.
Nhưng cũng không ai có thể phủ nhận rằng ông bà Edward
Gaunt nhìn chẳng có vẻ gì là một cặp – gần giống trường hợp hai
người con sinh đôi của họ. Bà Layla, có mái tóc đen tuyền và một
thân hình tuyệt vời như một vận động viên thể thao, đi chân không
cũng đã cao hơn một mét tám, trong khi ông Edward, với mái tóc
xám hơi dài và cặp mắt kiếng nhuộm màu, dù có mang giày Berluti
cũng chỉ cao chưa tới một mét sáu. Người ta sẽ lập tức chú ý đến bà
Layla ngay khi bà bước vào phòng, nhưng lại thờ ơ bỏ qua ông
Edward – thật may là ông lại thích như vậy hơn. Là tuýp người
sống kín đáo, dè dặt, ông Edward hoàn toàn hài lòng với việc để cho
vợ và ngôi nhà trên đường 77 của ông thu hút mọi sự chú ý và tán
thưởng.
Thường xuyên được nhắc đến trên mọi loại tạp chí hào nhoáng,
ngôi nhà của gia đình Gaunt ở khu thượng lưu phía đông New York
nhìn giống một ngôi đền hơn là một ngôi nhà. Cửa trước được bảo
vệ bởi một cánh cổng sắt khổng lồ có mái vòm, và tất cả các bức
tường đều được ép gỗ gụ chất lượng hạng nhất. Bên trong nhà có
rất nhiều bức tranh Pháp, đồ cổ Anh, thảm quý hiếm Ba Tư, và các

lọ hoa Trung Quốc đắt giá. Philippa đôi lúc vẫn nhận xét cha mẹ cô
lo cho các vật dụng trong nhà còn nhiều hơn là lo cho con cái. Tuy
nhiên, cô luôn biết đó không phải là sự thật, và cô chỉ nói như vậy
để tạo hiệu ứng giống với cách của John. John thường thích nói với
cha mình rằng, căn nhà số 7 này giống như một bảo tàng nghệ
thuật hơn là một nơi chốn trú ngụ phù hợp cho hai đứa trẻ mười
hai tuổi. Những lúc John nói như vậy, thường là khi ông Gaunt trở
về nhà với một bức tranh cổ mà ông mới lùng mua được, ông Gaunt
luôn bật cười và bảo con trai rằng, nếu căn nhà số 7 là một bảo tàng
nghệ thuật, chắc chắn nó sẽ không cho phép có chó, cho dù đó là hai
con chó nuôi trong nhà của gia đình Gaunt.
Alan và Neil là hai con chó giống Rottweiler to lớn, có thể xếp
vào hàng những sinh vật đặc biệt, bởi vì chúng dường như hiểu
được những gì người ta nói với chúng. Có một lần John, làm biếng
đứng dậy kiếm cái điều khiển từ xa của tivi, đã ra lệnh cho con
Alan đổi kênh, và cậu đã một phen kinh ngạc khi nó thực hiện
đúng lời cậu nói. Con Neil cũng thông minh không kém; cả hai con
chó đều có thể phân biệt kênh Fox Kids, kênh Disney Channel với
kênh Nickelodeon và kênh CNN. Chúng thường đồng hành với cặp
sinh đôi trên mọi nẻo đường ở New York, và John cùng Philippa có
lẽ là hai đứa trẻ duy nhất sống trong thành phố có thể đi dạo ở
Công viên Trung Tâm gần nhà khi trời tối mà vẫn cảm thấy an
toàn. Tuy nhiên, việc hai con chó thông minh như thế lại có những
cái tên quá đỗi bình thường khiến John thấy rất cáu.
Một buổi sáng, khi kỳ nghỉ hè sắp bắt đầu, cậu phàn nàn với cha
mẹ trong bữa ăn sáng:
– Rottweiler là giống chó đầu tiên được người La Mã cổ đại
thuần hóa để làm chó cảnh giới. Chúng gần như là giống chó nhà

duy nhất đi cùng với cảnh báo sức khỏe của chính phủ. Cú ngoạm
của chúng dữ dội hơn bất kỳ con chó nào khác, có lẽ chỉ trừ con chó
ba đầu canh giữ địa ngục.
Ông Gaunt lẩm bẩm nối lời con:
– Là Con Ceberus.
Rồi cầm tờ New York Times của mình lên, ông bắt đầu đọc bản
tin về vụ động đất ở Cairo. Có cả một bức hình to đùng về nó ngay
trên trang bìa.
John nói:
– Con biết mà cha. Con đang muốn nói, Rottweiler vốn là một
giống chó ưa chuộng của quân đội và cảnh sát, cho nên con nghĩ
nếu gọi chúng là Alan và Neil thì nghe ngớ ngẩn quá.
Ông Gaunt hỏi:
– Sao lại ngớ ngẩn? Đó là tên của chúng từ trước đến giờ mà.
– Con biết. Nhưng cha à, nếu là con, con sẽ đặt cho hai con chó
giống Rottweiler những cái tên phù hợp hơn nhiều. Như Nero và
Tiberius chẳng hạn. Lấy theo tên của hai vị hoàng đế La Mã ấy.
Mẹ cậu nói:
– Nero và Tiberius không phải là người tốt đâu con yêu.
Cha cậu đồng ý:
– Đúng thế. Tiberius thiếu mọi sự nhã nhặn cần thiết – civile
ingenium. Và hắn là một kẻ đáng khinh. Còn Nero chỉ là một gã
khùng. Tệ hơn nữa, hắn sát hại cả mẹ mình, Agrippina. Và vợ hắn,
Octavia. Và thiêu rụi cả thành phố. Odisse coepi, postquam
parricida matris et uxoris, auriga et histrio et incendiarius
extitisti.

Cha cậu cười độc ác:
– Cha hỏi con, kẻ như vậy có thể làm tấm gương gì cho một con
chó chứ?
John cắn môi. Cậu luôn cảm thấy khó tranh cãi với cha mình
một khi ông bắt đầu nói bằng tiếng Latinh. Có một thứ gì đó với
những người nói bằng tiếng Latinh – giống như thẩm phán và các
đức giáo hoàng – làm cho họ trở thành những người khó ai cãi lại
được. John nhượng bộ:
– Vậy thì không lấy tên bất cứ hoàng đế La Mã nào cũng được.
Tên gì khác thì sao? Tên gì đó nghe “giống như chó” hơn. Elvis
chẳng hạn.
Ông Gaunt nói một cách kiên quyết:
– Con không nhận ra rằng hai con chó nhà mình chẳng con nào
thật sự “giống như chó” à? Như con đã nói, giống Rottweiler được
quân đội và các lực lượng bảo vệ pháp luật ưa chuộng. Chúng
không phải là loại chó “giống như chó”, thường vẫy đuôi nhặng xị.
Vài gia đình có một con chó có thể đi lấy báo từ hộp thư. Chúng ta
có những con chó có thể chạy đến tận cửa hàng tạp hóa vào sáng
thứ Bảy để lấy về một túi bánh vòng mà không hề ăn mất một cái.
Cha nói cho con biết, ngay cả Elvis cũng không thể làm thế. Và liệu
một con chó “giống như chó” có biết tự đi đến bác sĩ thú y khi cảm
thấy không được khỏe? Hay biết bỏ tiền vào đồng hồ đỗ xe? Này,
cha thật muốn thấy Hoàng đế Nero thử bỏ tiền vào đồng hồ đỗ xe
đấy.
Gấp tờ báo lại, ông nói tiếp:
– Với lại, bây giờ có muốn đổi cũng đã muộn. Chúng đã là những
con chó trưởng thành. Cả cuộc đời, chúng đã quen được gọi Alan và

Neil. Con nghĩ chúng có thể trả lời với những cái tên mới đơn giản
vậy sao? Một con chó không giống như một ngôi sao nhạc pop hay
một diễn viên điện ảnh ngớ ngẩn nào đó. Bọn họ có thể làm quen
với những cái tên dở hơi mới. Như Pink. Dido. Hay Sting. Nhưng
một con chó sẽ trở thành như chính cái tên của nó theo cách mà
không một động vật nào khác có thể.
Ông Gaunt liếc nhìn con gái và hỏi:
– Con có đồng ý với cha không, Philippa?
Vẻ mặt đăm chiêu suy nghĩ, Philippa gật đầu:
– Đúng là chúng không giống chó lắm. Cho nên con nghĩ thế
này: nếu chúng ta giải thích cho chúng, thật cặn kẽ, rằng chúng sẽ
có những cái tên mới, chúng ta sẽ có thể xem thử phản ứng của
chúng. Một con chó đủ thông minh để nhận ra được sự khác biệt
giữa kênh CNN và Fox Kids thì chắc cũng có thể quen với một cái
tên mới.
– Nhưng cha vẫn không thấy tên chúng có gì không ổn. Alan và
Neil đều là những cái tên Celtic. Alan có nghĩa là đẹp trai, và Neil
nghĩa là vô địch. Cha chẳng thấy có gì không đúng về hai con chó
mang tên đẹp trai và vô địch cả. Thật sự đấy.
Bà Gaunt trả lời:
– Anh à, em nghĩ đó là một ý kiến hay đấy chứ. Mà nhìn con
Alan nhà ta thì dù có đầu óc tưởng tượng đến đâu cũng không ai đi
mô tả nó đẹp trai cả. Còn con Neil thì chưa bao giờ chiến thắng cái
gì trong suốt cuộc đời của nó hết.
Và bà mỉm cười như thể vấn đề đã được quyết định rồi:
– Vậy chúng ta sẽ gọi chúng là gì đây? Nói thật là mẹ cũng thích
cái tên Elvis lắm. Alan là con chó lớn hơn, và cũng là con ăn nhiều

hơn. Mẹ nghĩ nó hợp với cái tên Elvis nhất.
Ông Gaunt đưa mắt nhìn vợ với vẻ nghiêm khắc, dò hỏi, như thể
ông rất không đồng ý với bà. Ông lầm bầm nói:
– Layla, đây không phải chuyện đùa đâu.
Philippa đề nghị:
– Thử gọi con Neil là Winston nhé. Lấy theo tên của Winston
Churchill. Trong hai con chó nhà ta, nó là con chó dữ nhất, và tiếng
gầm gừ của nó làm nó giống y chang Winston Churchill[2].
John tiếp lời:
– Nó cũng thích xì-gà. Cứ mỗi khi có ai trong nhà hút xì-gà, là y
như rằng con Neil sẽ đến bên và bắt đầu hít ngửi không khí, giống
như nó đang thưởng thức khói thuốc ấy.
Philippa đồng ý:
– Đúng là thế.
John hỏi:
– Vậy thì chỉ còn một vấn đề: ai sẽ là người thông báo cho chúng
về việc đổi tên?
Philippa đề nghị:
– Chắc chắn phải là mẹ rồi. Chúng luôn nghe lời mẹ. Tất cả mọi
người cũng vậy. Kể cả cha.
Đó là sự thật. Alan và Neil luôn luôn phục tùng bà Gaunt không
một chút lưỡng lự nào.
Ông Gaunt vẫn khăng khăng giữ ý kiến của mình:
– Cha vẫn không đồng ý với chuyện đó.
John nói:

– Nếu vậy, chúng ta bỏ phiếu đi. Ai đồng ý đổi tên mới cho hai
con chó nhà ta thì giơ tay lên.
Ba bàn tay giơ lên. Ông Gaunt thở dài một cách bất lực:
– Mọi người thích làm gì thì làm đi. Nhưng cha cá là Alan và
Neil sẽ không chịu đâu.
Bà Gaunt bảo:
– Cứ thử sẽ biết. Mà anh à, đáng lẽ chúng ta nên nghĩ về chuyện
này trước đây mới phải. Con mình nói đúng đấy.
Đặt ngón tay lên miệng, bà huýt sáo một tiếng thật lớn đủ để
làm bất cứ chàng cao bồi nào cũng phải ghen tị.
Vài giây sau đó, hai con chó đi vào trong bếp và trình diện ngay
ngắn trước mặt bà Gaunt như thể đang đợi chỉ thị. Bà nói với
chúng:
– Hãy nghe cho kỹ nhé, các chàng trai. Mọi người đã quyết định
rằng hai đứa sẽ có những cái tên mới giống chó hơn.
Con Neil nhìn qua con Alan và gừ lên ư ử. Con Alan thì làm bộ
ngáp dài và ngồi bệt xuống sàn.
Bà Gaunt không bỏ cuộc:
– Không, ta không muốn nghe bất cứ phản đối nào cả. Neil, từ
bây giờ tên mày sẽ là Winston. Còn Alan sẽ là Elvis. Cả hai rõ
chưa?
Cả hai con chó tiếp tục giữ im lặng, và bà Gaunt lặp lại câu hỏi
một lần nữa. Lần này, cả hai con chó sủa lớn. John nhận xét:
– Tuyệt cú mèo.
Ông Gaunt lên tiếng:
– Cha sẽ tiếp tục sử dụng cái tên cũ của chúng. Hai con chó có

thể quen với cái tên mới, nhưng cha thì chắc chắn không.
Bà Gaunt ra lệnh:
– Winston đâu? Nằm xuống!
Và con chó trước đây mang tên Neil nằm xuống sàn bếp.
– Elvis đâu? Đứng lên!
Và con chó trước đây mang tên Alan đứng lên.
John trầm trồ:
– Tuyệt quá! Ai bảo chúng ta không thể dạy chó những mẹo mới
chứ?
Philippa nói:
– Hai con chó này phải được lên tivi mới phải.
Ông Gaunt quăng tờ báo sang một bên và đứng dậy khỏi cái bàn
ăn to rộng bằng gỗ anh đào. Vẻ mặt khó chịu, ông đi thẳng ra khỏi
bếp sau khi nói:
– Đừng bao giờ nghĩ về chuyện đó.
Sau đó, cặp sinh đôi đi đến trường như bình thường, và, cũng
như bình thường, không có chuyện gì xảy ra. John và Philippa luôn
nằm trong top đầu của lớp trong hầu hết các môn học, ngoại trừ
môn toán, nhưng chúng thật sự xuất sắc nhất trong môn thể dục,
nhờ thân hình rất khỏe mạnh, cân đối – cân đối hơn phần lớn
những đứa trẻ khác trong trường vốn lười biếng và mập ú. Lý do cả
hai đứa có thân hình cân đối là vì chúng đều mắc chứng sợ bị giam
giữ, nghĩa là rất ghét phải ở trong một không gian nhỏ hẹp, tù
túng. Chúng đặc biệt ghét thang máy – một việc gây cho chúng
không ít rắc rối trong một thành phố như New York với quá nhiều
tòa nhà cao tầng. Trong khi hầu hết những người khác sử dụng

thang máy, John và Philippa thường chọn thang bộ. Thỉnh thoảng,
chúng phải chạy cỡ năm sáu chục tầng lầu để lên đến nơi chúng
muốn đến. Điều này làm chúng có thân hình cân đối như những
vận động viên chạy bộ. Trên thực tế, những vận động viên chạy bộ
sẽ phải đến phòng tập thể dục để có được thân hình cân đối như
John và Philippa. Nhưng ngay cả những đứa trẻ có thân hình cân
đối như John và Philippa cũng không thể nào nhanh bằng cái
thang máy, nên kết quả là hai anh em nổi tiếng luôn trễ tràng
trong hầu hết mọi chuyện. Đây là một điều có thể làm các bậc phụ
huynh rất bực, tuy nhiên ông Edward và bà Layla Gaunt có vẻ còn
hiểu rõ về con cái mình hơn cả mong đợi của John và Philippa.

Chương 2

Đi khám răng
Hầu hết trẻ em đều nóng lòng chờ đợi thời điểm cuối học kỳ mùa
xuân và bắt đầu kỳ nghỉ mùa hè. Nhưng với cặp sinh đôi, ngày đầu
tiên của kỳ nghỉ hè luôn gắn liền với một nỗi căm ghét pha lẫn sợ
hãi đáng kể, vì đó luôn là ngày bà Gaunt chọn để đưa John và
Philippa đi khám răng.
John và Philippa có những hàm răng khỏe mạnh, trắng như kẹo
bạc hà, và đều đặn như một dãy xe đậu. Chẳng đứa nào từng phải
trám răng, và trên thực tế, chúng thường chẳng bao giờ phải lo
lắng về chuyện đó. Tuy nhiên, chúng lại luôn có cảm giác rằng một
ngày nào đó, nha sĩ Larr sẽ tìm thấy một thứ gì đó trong hàm răng
của chúng cần được chỉnh sửa, và rồi tất cả những mũi khoan sáng
loáng, ống tiêm, cây chọc và que thăm bằng sắt nằm trên bàn của
ông giống như những công cụ tra tấn sẽ thình lình được trưng dụng
cho những việc hứa hẹn nhiều đau đớn. Cặp sinh đôi đã xem quá
nhiều phim để hiểu rằng một nha sĩ có thể gây ra sự đau đớn như
thế nào một khi ông bắt tay vào làm việc thật sự thay vì chỉ đơn
thuần làm công việc kiểm tra thường lệ như chúng vốn đã quen.
Đó có lẽ là lý do tại sao sáng sớm ngày hai anh em có hẹn với
nha sĩ Larr, John thức dậy từ một cơn ác mộng y như thật mà trong

đó, cậu bị một cơn đau răng khủng khiếp hành hạ: một cơn đau
răng kinh khủng đến nỗi có thể biến một người đàn ông trưởng
thành mạnh mẽ thành một cái bánh trứng đường rên ư ử suốt
ngày, hay có thể khiến một con gấu xám hung dữ trở thành bạn chí
thân của một cậu bé đủ can đảm lãnh vai trò của một nha sĩ thú y;
một cơn đau răng mà trong giấc mơ của John kết thúc bằng việc tất
cả răng của cậu bị nhổ sạch.
Thở hổn hển, người đầy mồ hôi và run rẩy vì sợ hãi, John té lăn
ra khỏi giường, tay bưng mặt, và nhẹ cả người khi nhận ra cơn đau
răng đó chỉ là ác mộng. Nhưng có một chuyện còn kỳ lạ hơn so với
giấc mơ đã xảy ra, vì khi cậu đang ngủ, tấm gương treo trên bức
tường kế bên giường ngủ của cậu đã bị nứt từ bên này sang bên kia.
Và không chỉ tấm gương mà cả tấm ván đầu giường cậu cũng bị
nứt, làm cho vết nứt từ tấm gương dẫn thẳng xuống lớp gỗ. Hoặc có
thể là ngược lại, vì còn có cả một vết cháy xém và rách nhỏ trên cái
gối ngay chỗ đầu cậu đã đặt lên, giống như sự đau đớn được tạo ra
bởi trí óc trong mơ của cậu đã tự biến nó thành một dạng sức mạnh
gây ảnh hưởng đến tất cả những đồ vật xung quanh phòng cậu.
Ít nhất đó là suy nghĩ ban đầu của John.
Đứng quan sát những tổn hại từ cửa phòng, Philippa hỏi anh:
– Đêm hôm qua anh đã làm gì vậy? Cảm thấy đói bụng đến nỗi
phải gặm tường cho đỡ đói à?
John bực dọc hỏi lại:
– Bộ nhìn anh giống một con chuột đồng lắm sao?
Tuy nhiên cậu không dám nói cho em mình nghe về điều cậu
nghĩ có thể là lời giải thích cho vết nứt kỳ lạ trên tường vì sợ cô em
gái sẽ cười vào mũi cậu.

Philippa nói:
– Không. Nhưng thỉnh thoảng anh có mùi y như nó.
Bước đến bên tấm gương, cô cẩn thận vê ngón tay dọc theo vết
nứt rồi nhận xét:
– Nếu em không biết rõ, em sẽ nói nhìn cái này giống như kết
quả của một trận động đất. Chỉ có điều cơn động đất cuối cùng ở
New York chỉ có 5,1 độ và đã xảy ra vào năm 1983.
John ngạc nhiên nói:
– Em có vẻ biết nhiều về nó thế.
– Em đã xem một bộ phim trên tivi về nó vài tuần trước.
Rồi cô đột nhiên chau mày lại và nói:
– Lạ quá.
John tán thành:
– Dĩ nhiên là lạ rồi.
Nhưng Philippa đã đi ra khỏi phòng cậu, và trong vài phút, cậu
không còn nghĩ ngợi gì về lời em mình vừa nói, cho đến khi cô quay
lại với một tờ báo New York Times trên tay. Đẩy tờ báo vào tay anh
mình, cô nói:
– Anh xem thử cái này đi.
– Báo của ngày hôm qua à? Thì sao?
– Họ nói có một trận động đất vừa xảy ra ở Ai Cập.
– Điều đó thì liên quan gì đến vết nứt trên tấm gương của anh
chứ?
– Anh nhìn kỹ nhé.
Miệng nói, Philippa với tay lấy lại tờ báo. Cô đặt nó lên trên tấm

gương, sao cho tấm hình ở trang bìa về vết nứt trên bức tường của
Bảo tàng Cổ vật Ai Cập nổi tiếng thế giới ở Cairo nằm bên cạnh vết
nứt trên tấm gương phòng John. John há hốc mồm vì kinh ngạc:
hai vết nứt ngoằn ngoèo có vẻ rất ngẫu nhiên ấy lại giống nhau như
đúc.
John thở dài một tiếng đầy kinh ngạc:
– Woa. Tuyệt cú mèo.
Philippa lại chau mày. Cô buộc tội:
– Anh cố tình làm thế phải không? Để làm em sợ.
John biện minh:
– Anh không có làm gì hết. Thật đó. Anh chỉ thức dậy và nó đã
có ở đó, anh thề đấy.
– Vậy thì chuyện gì đã xảy ra?
– Điều này nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng anh đã mơ thấy bị dính
một cơn đau răng khủng khiếp. Và điều kỳ lạ là vết nứt này dường
như bắt đầu từ ngay chỗ má mà anh kê lên gối.
Thay vì chế giễu anh mình, Philippa xem xét cái gối.
Rồi cô hỏi:
– Vậy tại sao em không mơ thấy điều đó? Ý em là, chẳng phải
chúng ta thường có những giấc mơ y hệt nhau sao?
John thú thật:
– Anh cũng đã thắc mắc về điều đó. Và anh đi đến kết luận
rằng, đó là bởi vì anh sợ đến nha sĩ hơn em.
Philippa gật đầu: đó là sự thật. Nhưng cô nói:
– Nhưng điều đó vẫn chưa giải thích được sự giống nhau giữa
vết nứt trên tường phòng anh với vết nứt trên bức tường ở Bảo tàng

Cairo.
Vài giờ sau đó, cả hai vẫn tiếp tục bàn về vết nứt trên tường khi
chúng leo lên 24 tầng lầu dẫn đến phòng răng của nha sĩ Maurice
Larr tại Đại lộ số 3.
Mẹ chúng, do đi bằng thang máy, đã có mặt sẵn trong phòng đợi
khi hai anh em đến nơi. Nha sĩ Larr đang nói chuyện với bà –
không phải về vấn đề răng miệng mà về tennis, môn thể thao mà
cả bà Gaunt và ông Larr đều rất say mê.
Ông Larr ngước nhìn qua gờ phía trên cặp mắt kiếng của mình
và nháy mắt với lũ trẻ. Ông mô tả về trận đấu tennis mới nhất của
họ:
– Mẹ các cháu đã làm bác thua lăn lóc. Dẫn bác đến chỗ tẩy rửa
quần áo và lấy được phiếu giảm giá. Bà ấy thật sự có thể trở thành
một vận động viên chuyên nghiệp đấy. Nhiều phụ nữ chơi tennis để
kiếm sống sẽ ao ước cả đời để có được một cú phát bóng như mẹ các
cháu. Và các cháu biết gì không, mẹ các cháu làm nó đẹp đẽ như
một môn nghệ thuật ấy. Ngay bản thân việc đó đã là chuyện hiếm.
Các cháu đã xem biết bao trận chung kết tennis của các quý bà mà
trông cứ như trong trận đấu vòng loại của nam nhi rồi, đúng
không. Với mẹ các cháu thì không có chuyện đó đâu nhé… Các cháu
nên tự hào về bà.
Cặp sinh đôi gật đầu một cách lịch sự. Chúng đã quá quen với
những lời tán dương mẹ mình lên tận mây xanh vì bà giỏi cái này
giỏi cái kia. “Miễn nhiễm” với một thứ khó định nghĩa như sự
quyến rũ, chúng thỉnh thoảng nghĩ rằng mẹ mình dường như có
một sức thu hút lạ lùng, thậm chí bí ẩn đối với mọi người, gần như
thể cuộc sống đã cho bà một chút vượt trội, làm cho tất cả mọi thứ

về bà luôn nổi bật hơn người khác. Những người thợ làm đầu khen
ngợi mái tóc đen mượt xinh đẹp của bà và nói bà nên đi quảng cáo
cho dầu gội. Những nhà thiết kế váy áo khen ngợi thân hình hoàn
hảo của bà và nói bà nên đi làm người mẫu thời trang. Những nhân
viên tư vấn mỹ phẩm khen ngợi làn da căng mềm mại như lụa của
bà và nói bà nên cho ra dòng mỹ phẩm của riêng mình. Các nhà
văn khen ngợi trí thông minh của bà và nói bà nên viết một cuốn
sách. Khách tham gia tiệc tối khen ngợi tài nấu ăn của bà và nói bà
nên mở một nhà hàng. Những nhà hoạt động từ thiện khen ngợi
khả năng quyên góp tiền cho những hoạt động nhân đạo của bà và
nói bà nên làm một chính trị gia. Cho nên đối với John và Philippa,
không có gì đáng ngạc nhiên khi ông Larr đánh giá cao về khả
năng chơi tennis của mẹ chúng.
Bà Gaunt mỉm cười:
– Thôi nào, anh Mo. Anh làm tôi xấu hổ đấy.
Nhưng cặp sinh đôi biết rằng mẹ chúng không ngại gì chuyện
đó. Nếu như bà Gaunt có một nhược điểm, thì đó chính là việc bà
rất thích được khen. Bà khao khát chúng như những kẻ háu đói ăn
quá nhiều bánh ga-tô.
Nhìn hai đứa trẻ, nở nụ cười thân thiện nhất của mình, ông Larr
xoa hai tay vào nhau, hỏi:
– Okay, vậy thì ai trong hai cháu sẽ ngồi vào ghế của bác Mo
trước đây?
Bà Gaunt trả lời:
– John.
Và đó là tất cả những gì cần nói. Bà Gaunt đã quen với việc được
nghe lời hoàn toàn mà không bị thắc mắc hỏi lại gì – giống như một

ông thẩm phán hay một viên cảnh sát.
John ngồi lên ghế, trong khi ông Larr đeo một cặp găng tay cao
su vào khiến cho bàn tay của ông nhìn như vừa được nhúng vào
một xô kem. Rồi ông đến đứng bên cạnh John và dùng mũi giày
nhấn một cái nút trên sàn. Cái ghế da từ từ nâng lên cao, khiến
John cảm thấy mình như một tình nguyện viên được một nhà ảo
thuật nâng lên trên không trung.
Bật một cái đèn làm ấm mũi John, ông Larr nói:
– Mở miệng to ra nào.
John há miệng ra.
– To chút nữa đi John. Thế. Cám ơn.
Và vũ trang với một cái gương nhỏ nhìn giống như một cây gậy
chơi gôn bé xíu, cùng một cái gậy móc sắc nhỏ, ông Larr dòm vào
kiểm tra bên trong miệng John. Ông cúi sát đến nỗi John có thể
ngửi được mùi thuốc đánh răng trong hơi thở của ông và mùi nước
cạo râu Acqua di Parma – cha cậu cũng dùng loại này – trên lớp da
rám nắng của ông.
– Mmm-hmm.
Ông Larr nói theo cách của một người chuyên nói “Mmm-hmm”
một ngàn lần mỗi ngày. Và rồi ông thình lình nói:
– Ồ, ồ, chúng ta có gì ở đây thế nhỉ?
John nắm chặt tay trên thành ghế một cách lo lắng. Ông Larr
tiếp tục:
– Ồ, ồ, cái gì đây? Và thêm một cái nữa? Ấy chà.
Nhấc cặp kính bảo hộ lên và hạ cái khăn bịt mặt của mình
xuống, ông Larr quay qua bà Gaunt và hỏi:

– Layla, nhắc tôi nhớ xem năm nay John bao nhiêu tuổi nhỉ?
– Mười hai tuổi, anh Mo à.
– Tôi cũng nghĩ vậy.
Ông lắc đầu và mỉm cười:
– Tôi chưa bao giờ thấy chuyện như vầy ở một cậu bé cỡ tuổi
John. Hay nên gọi là một chàng trai trẻ nhỉ? Cháu có răng khôn
đấy, John. Người trẻ nhất có răng khôn mà bác từng gặp.
Bà Gaunt ngồi xuống ghế một cách nặng nề và lầm bầm:
– Răng khôn? Vậy là xong rồi.
John chống cùi chỏ nhổm dậy. Việc có răng khôn nghe có vẻ đỡ
hơn việc có răng cần phải trám. Cậu hỏi:
– Răng khôn? Là gì vậy bác?
– Người ta gọi chúng là răng khôn vì bình thường cháu chỉ có
chúng một khi cháu lớn lên. Cháu thấy đó, người ta vẫn cho rằng
cháu phải lớn lên thì mới thông minh, chín chắn được. Cho dù cháu
sẽ không nghĩ vậy về cái cách xử sự của một số người lớn.
Ông Larr tiếp tục nói:
– Layla, vấn đề ở đây là, hàm của cháu nó chưa đủ rộng để chứa
bốn cái răng mới. Đúng thế đấy, John.
Giống y như trong sách Khải huyền. Cháu có đến bốn cái răng
khôn đấy. Và bởi vì hàm của cháu không đủ lớn cho cả bốn cái răng
mới, nó sẽ gây rắc rối cho những ...
 
Gửi ý kiến