Giáo trình văn học 1945- 1975

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Văn Chung (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:57' 29-06-2008
Dung lượng: 326.5 KB
Số lượt tải: 321
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Văn Chung (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:57' 29-06-2008
Dung lượng: 326.5 KB
Số lượt tải: 321
Số lượt thích:
0 người
GIÁO TRÌNH
VĂN HỌC VIỆT NAM 1945 1975
Sự chuyển biến sâu sắc về chính trị và xã hội
Những điều kiện để nền văn học mới phát triển
Những đặc điểm cơ bản của nền văn học mới
Quy luật phát triển tổng quát của nền văn học mới
Kết luận
VĂN HỌC VIỆT NAM 1945 1975
Vài nét về những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của nền văn học
Những thành tựu ở các thể loại
Kết luận chung
XUÂN DIỆU
Vài nét về tiểu sử và con người
Xuân Diệu với thơ
Xuân Diệu với văn xuôi
Phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu
Kết luận chung
CHẾ LAN VIÊN
Vài nét về tiểu sử và con người
Chế Lan Viên với thơ
Chế Lan Viên với văn xuôi
Phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên
Kết luận chung
TÔ HOÀI
Vài nét về tiểu sử và con người
Những chặng đường sáng tác
Phong cách nghệ thuật của Tô Hoài
Kết luận chung
VĂN HỌC VIỆT NAM 1945 1975
1 Sự chuyển biến sâu sắc về chính trị và xã hội
1.1 - Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời kì mới trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Từ cảnh sống nộ lệ lầm than với bao nỗi đắng cay, chua xót ... , dân tộc Việt Nam đã vùng dậy đấu tranh để giành lấy quyền sống Tự do và Ðộc lập.
1.2 - Cuộc sống hạnh phúc và niềm Vui bất tuyệt đến với dân tộc chưa được bao lâu thì kẻ thù thực dân Pháp lại quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên kháng chiến với tinh thần Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước không chịu làm nộ lệ. Trong suốt cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ, hơn lúc nào hết, con người Việt Nam lại càng bộc lộ rõ những phẩm chất cao đẹp của mình. Với dân tộc Việt Nam lúc này Tình sông núi là mối tình đẹp nhất, thiêng liêng nhất trong cuộc sống. Từ trong đau thương và chiến đấu, vẻ đẹp của Tổ quốc Việt Nam càng ngời sáng hơn. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã làm nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng cho dân tộc. Nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm nhận và thể hiện ý nghĩa lớn lao đó qua vần thơ sau:
Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau vẫn đủ sức soi đường.
( Tiếng hát con tàu )
1.3 - Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, lịch sử đã sang trang, Tổ quốc ta vừa có niềm vui của cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội đang diễn ra sôi nổi hào hùng trên miền Bắc, vừa mang nỗi đau của cảnh đất nước bị cắt chia, miền Nam đang chịu cảnh trăm đắng, ngàn cay bởi kẻ thù xâm lược Mĩ. Dân tộc Việt Nam vẫn phải tiếp tục chiến đấu chống lại một kẻ thù hung bạo nhất trong lịch sử .
Ðế quốc Mĩ điên cuồng leo thang đánh phá miền Bắc, khói lửa của cuộc chiến tranh lại trùm lên cả nước ta. Dân tộc Việt Nam dù đứng trước những thử thách của sự mất còn nhưng vẫn ngọt ngào qua muôn nỗi đắng cay, vẫn thủy chung,tình nghĩa. Kẻ thù muốn biến chúng ta thành tro bụi, còn ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm, làm sen thơm ngát giữa dòng. Không có gì quý hơn Ðộc lập, Tự do đó là khát vọng lớn lao, là nguồn sức mạnh vô biên để giúp dân tộc chiến đấu và giành lấy chiến thắng.
2 Những điều kiện để nền văn học mới phát triển
TOP
2.1 Lực lượng sáng tác được đổi đời, ngày càng đông đảo, có nhiệt tình tài năng và kinh nghiệm sáng tác.
- Trước cách mạng tháng Tám, hầu hết văn nghệ sĩ thường mang nỗi đau đời, rơi vào sự bế tắc, lâm vào cảnh sống mòn. Thân phận của các nhà văn, nhà thơ như : Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan ... , ở thời kì trước cách mạng chính là những bằng chứng sinh động cho điều đó. Nhìn chung, trong hoàn cảnh của cuộc sống trước cách mạng tháng Tám, văn nghệ sĩ cùng chung một số phận với dân tộc.
Sự thành công của cuộc cách mạng tháng Tám không chỉ đưa lại Ðộc lập, Tự do cho dân tộc, mà còn đưa lại quyền tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ. Cùng với toàn thể dân tộc, anh chị em văn nghệ cảm thấy mình lớn lên ..., được tự do yêu nước và phục vụ nhân dân, điều mà trước cách mạng tháng Tám không thể có được. Ðó là những quyền tự do căn bản mà chúng ta đã giành được, nhờ đó mà văn nghệ được tự do sáng tác theo tiếng gọi của Ðảng mình( Trường Chinh).
- Ðội ngũ nhà văn ngày càng đông đảo với ba thế hệ :
+ Thế hệ nhà văn trước Cách mạng tháng Tám.
+ Thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
+ Thế hệ nhà văn trưởng thành trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mĩ cứu nước.
Các thế hệ nhà văn đã có sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau và tạo nên sự vững mạnh của đội ngũ sáng tác.
Ngoài ra, cần phải nói đến sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ sáng tác không chuyên. Họ xuất hiện rất đông đảo trong phong trào văn nghệ quần chúng ở các địa phương và khắp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Nhà văn Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám rất giàu nhiệt tình, gắn bó với Tổ quốc và dân tộc. Họ vượt qua mọi gian khổ, hi sinh, đến khắp mọi nẻo đường của Tổ quốc để tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Có thể xem, sự cần mẫn, cố gắng của họ giống như những con ong cần cù, chăm chỉ tìm kiếm nhụy hoa để kết nên vị ngọt cho đời.
- Bên cạnh sự xông xáo, nhiệt tình, đội ngũ sáng tác có nhiều nhà văn tài năng. Ở mỗi thế hệ đều có những nhà văn tạo được sự mến mộ, khâm phục của người đọc. Họ đã sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị sâu sắc và sức sống lâu bền.
2.2 Nhu cầu về văn học của quần chúng nhân dân ngày càng cao
-Do trình độ văn hóa ngày càng cao nên số lượng độc giả ngày càng đông, có đủ các tầng lớp và lứa tuổi khác nhau.
- Khả năng thưởng thức văn chương của quần chúng ngày càng cao và sự am hiểu văn chương của họ ngày càng sâu sắc .Mặt khác, quần chúng không chỉ biết tiếp nhận mà còn biết phê bình văn chương. Nguyễn Ðình Thi cho rằng : Ðó là điều kiện căn bản quyết định hết thảy sự phát triển của một nền nghệ thuật.
2.3 Cuộc sống xây dựng xã hội chủ nghĩa và kháng chiến chống Mĩ nhiều gian khổ và rất oanh liệt, đã tác động lớn đến tư tưởng, tình cảm của nhà văn và bạn đọc. Mặt khác, hiện thực cuộc sống phong phú và sôi động đó chính là nguồn chất liệu dồi dào cho nhà văn.
- Các nhà văn ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về đất nước, về dân tộc, vì thế, họ càng tự hào và gắn bó hơn đối với đất nước.
- Hiện thực đời sống luôn luôn đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi nhà văn phải nhạy bén, kịp thời chiếm lĩnh nó ở các phương diện .
+ Ðề tài mới.
+ Nhân vât mới.
+ Thể loại phong phú, đa dạng.
2.4 Thuận lợi trong việc tiếp thu vốn văn học dân tộc, kế thừa và phát huy những tinh hoa của văn học nhân loại:
- Nhà văn được nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ qua các lớp đào tạo ngắn hạn và dài hạn.
- Kế thừa và phát huy những di sản văn học dân tộc và nhân loại
2.5 Sự lãnh đạo của Ðảng
- Sự quan tâm của Ðảng đối với văn học
- Yêu cầu của Ðảng đối với nền văn nghệ mới:
+Văn học là bộ phận không thể tách rời của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà.
+ Phát triển nền văn nghệ mới với nội dung xã hội chủ nghĩa, tính dân tộc, tính Ðảng và tính nhân dân sâu sắc.
+ Ðối với văn nghệ sĩ : Phải thâm nhập vào đời sống thực tế, muốn là nghệ sĩ tốt trước hết phải là công dân tốt.
- Lãnh đạo về tổ chức, về đường lối
3.1 Những đặc điểm của nền văn học mới
- Phản ảnh và phục vụ cuộc sống có thể xem đó là nguyên tắc sinh tử của văn học nghệ thuật. Cuộc đời cũng là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học
- Cách mạng tháng Tám đã tạo nên một bước chuyển dịch lớn về hoàn cảnh sống và sáng tác của nhà văn đưa họ đến với cuộc sống phong phú sôi động của nhân dân ( Ðôi mắt Nam Cao, Nhận đường Nguyễn Ðình Thi ... ) .
- Ðến với cuộc sống của nhân dân để tìm nguồn cảm hứng mạnh mẽ, chân chính cho sự sáng tạo nghệ thuật, để hiểu biết, khám phá, sáng tạo.
- Trong thực tế nhiều nhà văn đã không ngại khó khăn , gian khổ để đến với đồng ruộng, nhà máy, công trường, hải đảo, miền núi xa xôi hẻo lánh để tìm kiếm chất liệu nghệ thuật. Ðặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, nhiều nhà văn đã đến với đời sống ác liệt ở chiến trường, vừa sáng tác, vừa chiến đấu. Họ không chọn cho mình chỗ đứng giữa những ngày toàn thắng.
3.2 Nền văn học mang nội dung xã hội chủ nghĩa, tính dân tộc, tính Ðảng, tính nhân dân sâu sắc và được sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
- Nội dung xã hội chủ nghĩa của văn học:
+ Hiểu theo nghĩa hẹp: Ðề tài của tác phẩm là đề tài về cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Hiểu theo nghĩa rộng: Lí tưởng xã hội chủ nghĩa, thế giới quan, nhân sinh quan được thể hiện trong tác phẩm.
+ Trong nền văn học mới, nội dung xã hội chủ nghĩa thống nhất với tính dân tộc. Ở đây quyền lợi của giai cấp vô sản và quyền lợi của dân tộc trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được thống nhất một cách chặt chẽ.
- Tính dân tộc:
+ Tiếp thu và phát huy truyền thống văn học dân tộc, kế thừa tinh hoa của văn học dân gian, cổ điển, yêu nước cách mạng...
+ Về nội dung: Tinh thần yêu nước, yêu dân, tự hào dân tộc, chống ngoại xâm, đạo đức nhân nghĩa..a
+ Về hình thức diễn đạt: Trước đây phải dùng chữ Hán, chữ Pháp, nay phải phấn đấu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Nói tóm lại, văn học mới ngày càng đi sâu vào thể hiện tâm hồn tính cách của dân tộc Việt Nam, khẳng định sức sống mãnh liệt, quật cường của dân tộc trong suốt 4000 năm lịch sử, nhằm đạt đến nền văn học mang bản sắc dân tộc. Tuy nhiên việc đề cao tinh thần dân tộc cần được gắn với việc tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn học nhân loại
- Tính nhân dân:
+ Nền văn học mới là nền văn học vì nhân dân mà phục vụ, phản ảnh sự nghi
 








Các ý kiến mới nhất