Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Giáo án học kì 2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: đang trung dung
Ngày gửi: 09h:06' 17-02-2020
Dung lượng: 27.7 KB
Số lượt tải: 63
Số lượt thích: 0 người
TRÀNG GIANG
- Huy Cận -


“Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu”
Khi tự khắc họa chân dung tâm hồn mình, trong tập thơ “Lửa thiêng” nhà thơ Huy Cận đã từng nói như thế. Nỗi buồn ấy đã bao trùm cả tập thơ và hội tụ ở bài thơ Tràng Giang – một trong những bài thơ tiêu biểu của hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng Tháng Tám. Chúng ta cùng tìm hiểu bài học ngày hôm nay, để thấy được nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ, nỗi buồn sầu cảm của nhà thơ Huy cận được thể hiện như thế nào?

I - TÌM HIỂU CHUNG:
1.Tác giả: Huy Cận (1919 - 2005)
Quê quán: ở làng Ân Phú, Hà Tĩnh.
Lúc nhỏ: ông học ở quê, sau vào Huế học trung học, rồi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông.
Từ năm 1942: thi sĩ giác ngộ cách mạng, dốc hết tài sức phục vụ cách mạng, từng giữ nhiều cương vị quan trọng trong bộ máy chính trị Nhà nước.
Huy Cận: được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng.
Trước CMT8: thơ ông mang nỗi buồn nhân thế; sau CMT8, thế giới nghệ thuật Huy Cận vừa giàu cảm xúc tươi mới của cuộc đời vừa mang đậm nội dung triết lý về sự sống bất diệt, về tình yêu đất nước, về sức mạnh nhân dân và vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp sáng tác: Lửa thiêng (1941), Vũ trụ ca(1942),Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa (1960),
Bài thơ cuộc đời (1963). Những năm sáu mươi (1968), Cô gái Mèo (1972), Chiến trường gần chiến trường xa (1973), Những người mẹ những người vợNgày hằng sống ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), ….
2. Tác phẩm: "Tràng Giang"
Xuất xứ: Bài thơ được rút ra từ tập Lửa thiêng.
Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết vào một buổi chiều mùa thu năm 1939. Cảm xúc của bài thơ được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sông nước.
Đại ý bài thơ: Bài thơ là nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu quê hương đất nước thầm kín mà da diết.
3. Nhan đề và câu thơ đề từ.
a. Nhan đề:
- Từ Hán Việt “Tràng giang” (sông dài) ( gợi không khí cổ kính.
- Hiệp vần “ang”: tạo dư âm vang xa, trầm lắng, mênh mang.
( Gợi không khí cổ kính, khái quát ( nỗi buồn mênh mang, rợn ngợp.
b. Lời đề từ:
- Cảnh: trời rộng, sông dài ( không gian rộng lớn
- Tình: bâng khuâng, nhớ ( nỗi buồn, nỗi sầu
=> Nhan đề và đề từ đã định hướng cho cảm xúc chủ đạo của bài thơ, đo là nỗi buồn trước không gian rộng lớn.

II - ĐỌC & TÌM HIỂU VĂN BẢN:
1. Cảnh vật trên sông và tâm tư của nhà thơ.(khổ 1)
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song
- Hình ảnh: thuyền, nước, sóng,…là những hình ảnh quen thuộc khi nói về dòng sông.
+ Sóng “gợn”: sóng nhẹ, lăn tăn
+ Láy “Điệp điệp”: hình ảnh con sóng nói tiếp nhau, đều đều lan tỏa, da diết triền miên.
+ Thuyền xuôi mái > < nước song song: Con thuyền buông trôi, vô định, hờ hững, dòng nước cũng hờ hững với thuyền.
+ Đối: thuyền về > < nước lại: thuyền và nước không gắn bó, sự đối lập tạo sự chia ly, xa cách.
=> Không gian rộng lớn, mênh mông, sự vật chia lìa, xa cách.
Trong “Đăng Cao” của  Đỗ Phủ viết:
“Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ Bất tận Trường Giang cổn cổn lai”
So với “Đăng cao” của Đỗ Phủ và “Tràng giang” của Huy Cận thì cảnh tượng trong thơ Đỗ Phủ hùng vĩ, tráng lệ nhưng trong thế giới của Huy Cận thì những con sóng không phải cuồn cuộn trôi mà là sóng gợn làm ta hình dung ra những con sóng nhẹ lăn tăn trên tràng giang, lan nhẹ  và mất hút giữa dòng chảy bao la. “Buồn điệp điệp” miêu tả cái buồn thiên nhiên nhưng kỳ thực là đang diễn tả nỗi buồn chất ngất trong lòng nhà thơ. Phải chăng nỗi buồn thi nhân đang gợn lên từng đợt nỗi buồn như những lớp sóng, như Huy Cận viết: “Nhìn dòng sông lớn gợn những lớp sóng, tôi cũng thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra như những lớp sóng”. Dòng sông ấy, nhìn đâu cũng
 
Gửi ý kiến