Tìm kiếm Giáo án
Giáo án học kì 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thu Nguyệt
Ngày gửi: 16h:38' 09-07-2022
Dung lượng: 988.5 KB
Số lượt tải: 183
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thu Nguyệt
Ngày gửi: 16h:38' 09-07-2022
Dung lượng: 988.5 KB
Số lượt tải: 183
Số lượt thích:
0 người
PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8
(không có học tin hoc)
Cả năm: 37 tuần(144 tiềt)
Học kì I: 19 tuần=74 tiêt
(18 tuần x 4tiết= 72 tiết; 1 tuần (thi học kì) x 2 tiết= 2 tiết)
Học kì II : 18 tuần=70 tiết
(17 tuần x 4 tiết = 68; 1 tuần( thi học kì) x 2 tiết=2 tiết)
HỌC KÌ I
Tuần
Tiết
Tên bài
Số tiết
Ghi chú
1
1,2
3
4
1
Tôi đi học
Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ
Tính thống nhất về chủ đề của văn bản
Luyện tập tính thống nhất về chủ đề của văn bản
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
Tự học có hướng dẫn. Tích hợp kĩ năng sống
2
5,6
7
8
2
Trong lòng mẹ
Trường từ vựng
Bố cục của văn bản
Tạo lập văn bản
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp môi trường,KNS
Tích hợp môi trường,KNS
Tích hợp kĩ năng sống
3
9
10
11,12
3
Tức nước vỡ bờ
Xây dựng đoạn văn trong văn bản
Viết bài Tập làm văn số 1
Tạo lập văn bản(tt)
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
4
13,14
15
16
4
Lão Hạc
Từ tượng hình, từ tượng thanh
Liên kết các đoạn văn trong văn bản
Luyện tập tạo lập văn bản
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
5
17
18,19
20
5
Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội
Chủ đề: Tóm tắt văn bản tự sự và luyện tập tóm tắt văn bản tự sự
Trả bài Tập làm văn số 1
Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự
1
2
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
6
21,22
23
24
6
Cô bé bán diêm
Trợ từ, thán từ
Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự
Luyện tập miêu tả, biểu cảm trong vbTS
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
7
25,26
27
28
7
Đánh nhau với cối xay gió
Tình thái từ
Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Rèn luyện kỹ năng viết đv TS+MT,BC
2
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
8
29,30
31
32
8
Chiếc lá cuối cùng
Chương trình địa phương phần tiếng Việt
Lập dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Rèn luyện kỹ năng viết đv TS+MT,BC(tt)
2
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo
9
33,34
35,36
9
Hai cây phong
Viết bài Tập làm văn số 2
Luyện tập lập dàn ý cho bài văn TS+MT,BC
2
2
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp môi trường
10
37
38
39
40
10
Ôn tập truyện kí Việt Nam
Thông tin về ngày trái đất
Nói quá
Nói giảm nói tránh
Luyện tập lập dàn ý cho bài văn TS+MT,BC (tt)
1
1
1
1
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo Tích hợp môi trường,KNS
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
11
41
42
43
44
11
Kiểm tra văn
Câu ghép
Luyện nói: Kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh
Luyện tập câu ghép
1
1
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
12
45
46
47
48
12
Ôn dịch thuốc lá
Câu ghép (tiếp)
Phương pháp thuyết minh
Trả bài kiểm tra Văn, bài TLV số 2
Luyện tập câu ghép
1
1
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp môi trường
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp gd ANQP
13
49
50
51
52
13
Bài toán dân số
Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm
Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh
Chương trình địa phương phần văn
LT đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh
1
1
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp môi trường
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo
14
53
54
55,56
14
Dấu ngoặc kép
Luyện nói: Thuyết minh một thứ đồ dùng
Viết bài Tập làm văn số 3
LT đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh (tt)
1
1
2
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo
15
57
58
59
60
15
Ôn luyện về dấu câu
Ôn tập tiếng Việt
Thuyết minh về một thể loại văn học
Đập đá ở Côn Lôn
LT thuyết minh về 1 thể loại vh
1
1
1
1
16
61
62
63
64
16
Hướng dẫn đọc thêm: Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác,
Muốn làm thằng Cuội
Kiểm tra Tiếng Việt
Ông Đồ
Ôn tập thơ thất ngôn
1
1
1
1
Tích hợp tư tưởng HCM,
Tích hợp gd ANQP
17
65
66
67
68
17
. HDĐT: Hai chữ nước nhà
Trả bài Tập làm văn số 3
Trả bài kiểm tra Tiếng Việt
Ôn tập
Ôn tập thơ thất ngôn (tt)
1
1
1
1
Tích hợp tưtưởngHCM
Tích hợp TTHCM
18
69,70
Kiểm tra học kì I
2
19
71,72
73,74
18
Hoạt động ngữ văn: Làm thơ 7 chữ
Trả bài kiểm tra học kì I
Ôn tập tổng hợp cuối học kỳ
2
2
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo
Ngày soạn:
Ngày dạy Tuần 01
Tiết: 1, 2 : Tiến trình dạy học mới TÔI ĐI HỌC
( Thanh Tịnh)
I-MỤC TIÊU:
Giúp HS :
1/ Kiến thức: Cảm nhận được những cảm xúc chân thật, trong sáng của tuổi thơ trong ngày đầu trên con đường đến trường. Thấy được ngòi bút văn xuôi giàu chất trữ tình.
2/ Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng đọc, cảm thụ, phân tích truyện ngắn trữ tình.
Các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục trong bài.
- Suy nghĩ sáng tạo: phân tích,bình luận về những cảm xúc của nhân vật chính trong ngày đầu đi học.
- Xác định giá trị bản thân: trân trọng kỉ niệm,sống có trách nhiệm với bản thân.
- Giao tiếp: trình bày suy nghĩ,ý tưởng ,cảm nhận của bản thân về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản.
3. Thái độ: Giáo dục HS cĩ ý thức trân trọng những kỉ niệm đẹp về tuổi học trị, kỉ niệm về ngày đầu tiên đi học. Qua đĩ, bồi dưỡng các em lịng mến yêu trường lớp, thầy cơ giáo, bạn bè,… luơn rèn luyện những kĩ năng cơ bản về làm văn để làm tốt những bài tập làm văn.
II. Các năng lực hình thành và phát triển cho học sinh
- Năng lực đọc hiểu văn bản văn hoc (cốt truyện, nhân vật, sự việc, cách miêu tả tâm trạng nhân vật)
- Năng lực Giao tiếp, phản hồi/ lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ/ ý tưởng, cảm nhận của bản thân về cách ứng xử thể hiện tình cảm của nhân vật, giá trị ND và NT của VB; trình bày được cảm nhận của cá nhân về những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học; thực hành viết mơt văn bản đảm bảo tính thống nhất về chủ đề;
- Năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp thơng qua các hình thức hoạt động học cá nhân, cặp đơi, nhĩm, cả lớp.
III.Các phương pháp dạy học tích cực:
- Động não: tìm hiểu những chi tiết thể hiện cảm xúc của nhân vật chính trong ngày đầu đi học.
- Thảo luận nhóm trình bày về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản.
- Viết sáng tạo: cảm nghĩ ngày đầu tiên đi học của cá nhân.
IV.Chuẩn bi của giáo viên và học sinh
1/Chuẩn bị của GV:
-Nghiên cứu SGK, SGV, STK để nắm được mục tiêu và nội dung của bài học
-Đọc thêm các tài liệu có nội dung liên quan đến bài học
-Soạn giáo án,bảng phụ
2/Chuẩn bị của HS:
-Bài soạn theo hệ thống câu hỏi SGK,theo sự hướng dẫn của GV
-Sưu tầm bài hát,bài thơ nói về ngày đầu đi học.
V-TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:
1.KHỞI ĐỘNG (5')
Tìm và hát các bài hát về ngày đầu tiên đi học
GV hướng dẫn HS hoạt động lớp; cùng chia sẻ suy nghĩ của mình
GT:Trong cuộc đời mỗi con người, những kỉ niệm của tuổi học trò thường được lưu giữ lâu bền trong trí nhớ. Đặc biệt là cái cảm giác lần đầu tiên đến trường và nhà văn Thanh Tịnh cũng vậy. Những kỉ niệm mơn man ấy vẫn còn sống mãi với tác giả, còn mãi với thời gian và là những kỉ niệm đáng nhớ nhất. Bài học hôm nay thầy cùng các em sẽ cùng sống lại những cảm xúc đó qua văn bản “Tôi đi học”
2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
TG
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
Nội dung
26'
Hoạt động1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chi tiết
Năng lực: Thu thập và xử lí thông tin
I-Tìm hiểu chi tiết:
* Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả – tác phẩm .
- Gọi HS đọc chú thích ()ở SGK .
Nêu vài nét về tác giả – tác phẩm?
Giảng:Tên khai sinh là Trần Văn Ninh. Lên 6 tuổi đổi thành Trần Thanh Tịnh, năm 1933 bắt đầu đi dạy và sáng tác văn chương trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, dài, thơ, ca dao, bút kí văn học nhưng thành công nhất là truyện và thơ. Truyện ngắn của ông toát lên một tình cảm êm dịu, trong trẻo, nhẹ
nhàng mà thấm sâu,vừa man mác buồn thương,vừa ngọt ngào quyến luyến.
-HS đọc chú thích SGK – T.8,9.
Thanh Tịnh (1911 – 1988) Quê ở Huế – Từng dạy học, làm báo, viết văn làm thơ. Sáng tác của ông đậm chất trữ tình “Tôi Đi Học” in trong tập “Quê Mẹ” (1941)
B. Tác giả, tác phẩm:
1.Tác giả : Thanh Tịnh (1911 – 1988) quê ở Huế.
- Sáng tác của ông đậm chất trữ tình, toát lên vẻ
đẹp đằm thắm, nhẹ nhàng mà lắng sâu tình cảm, êm dịu, trong trẻo.
* Hướng dẫn HS đọc văn bản và tìm hiểu từ khó.
-Đọc chậm, dịu, hơi buồn và lắng sâu, chú ý đọc đúng.
-Đọc mẫu,gọi HS đọc tiếp theo
- Nhận xét cách đọc của HS
- Gọi HS đọc các chú thích, nhấn mạnh các từ cần lưu ý: ông đốc, bất giác , lạm nhận
VB trên thuộc phương thức biểu đạt nào?
Trong VB có những nhân vật nào? Nhân vật chính là ai? Vì sao em biết được điều đó?
Văn bản kể về việc gì?
? Kỷ niệm ngày đầu tiên đến trường của nhân vật “ tôi” được kể theo trình tự nào
? Tương ứng với trình tự ấy là những đoạn văn nào?
- Nêu đại ý và bố cục của vb?
- Nghe hướng dẫn đọc.
-Đọc theo yêu cầu của GV,HS khác theo dõi ,đọc thầm.
-Nhận xét cách đọc của các bạn theo yêu cầu của GV.
-Đọc các chú thích
Tự sự xen miêu tả và biểu cảm.
Đặc biệt là biểu cảm gần với thơ-> tạo sức truyền cảm-> Góp phần tạo chất trữ tình cho tác phẩm.
Các nhân vật có trong VB: tôi, mẹ tôi, ông đốc, thầy giáo, những cậu học trò.
Nhân vật chính là tôi, vì mọi sự việc đều được kể từ cảm nhận của tôi.
Kể về những kỉ niệm của buổi tựu trường đầu tiên của nhân vật tôi.
Thảo luận
- Đánh dấu trong SGK
2. Tác phẩm :
- Tác phẩm chính: Hận chiến trường (tập thơ 1937), Quê mẹ (truyện ngắn - 1941).
B.Văn bản:
1.Xuất xứ:
“Tôi đi học” được in trong tập “Quê mẹ” (1941).
2.Thể loại:
Truyện ngắn.
3. Đọc VB và giải thích từ
khó:
4.Phương thức biểu đạt:
Tự sự xen miêu tả và biểu cảm
Trình tự sự việc :từ thời gian và không khí ngày tựu trường ở thời điểm hiện tại, nv tôi hồi tưởng về kỉ niêm ngày đầu tiên đi học.
5.Bố cục: chia làm 4 phần
- P1: Từ đầu-> rộn rã.
=>Khơi nguồn kỉ niệm.
- P2: Tiếp-> trên ngọn núi.
=> Cảm nhận trên đường tới trường.
- P3: Tiếp-> nghỉ cả ngày nữa.
=> Cảm nhận lúc ở sân trường.
- P4:Còn lại
=>Cảm nhận trong lớp học
6- Đại ý: Kể lại những kỉ niệm và cảm xúc của nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường đầu tiên.
41'
Hoạt động 2: Hướng dẫn tìm hiểu chi tiết văn bản
Năng lực: Đọc diễn cảm, sử dụng kiến thức văn học và Tiếng Việt để phân tích nội dung
II-Đọc-hiểu vb:
A.Nội dung
6'
3'
Xác định giá trị bản thân: trân trọng kỉ niệm
Gọi 1 HS đọc đoạn(Hằng năm…hôm nay tôi đi học)
Kỉ niệm ngày đầu đến trường của nhân vật tôi khơi nguồn từ thời điểm nào?
Vì sao thời điểm ấy trở thành kỉ niệm trong tâm trí của tác giả?
Những kỉ niệm này nhân vật tôi kể lại theo trình tự nào?
? Em có nhận xét gì về cách miêu tả của tác giả ở đoạn văn này?
Hết tiết 1
-Gọi HS đọc lại đoạn(Buổi mai hôm ấy…ngọn núi) Hình thành NL hợp tác, cảm thụ thẩm mỹ giao tiếp
-Gv chia lớp ra 4 nhóm, cho h/s thảo luận nhóm theo yêu cầu trên phiếu học tập trong thời gian 5'.
N1: Chi tiết nào cho thấy nhân vật tôi rất hồi hộp, bỡ ngỡ khi cùng mẹ đến trường (đoạn trên con đường làng).
N2: Khi đứng trước ngôi trường cảm giác của “tôi” như thế nào?
N3: Khi nghe gọi tên vào
lớp , cảm giác của “tôi” như thế nào?
N4: Vào trong lớp học thì “tôi” có tâm trạng gì?
- Tổ chức trình bày kết quả thảo luận.
-Gv nhận xét, uốn nắn lần lượt từng nội dung của mỗi nhóm để đi đến kiến thức cần ghi.
- Kết luận: Tất cả những tâm trạng ấy được tác giả thể hiện bằng một chi tiết rất cô đọng, đặc sắc.
Theo em, đó là chi tiết nào?
Tác giả đã thể hiện bằng chi tiết đó có ý nghĩa gì?
Hình ảnh “con chim liệng đến đứng bên cửa sổ … bay cao” có ý nghĩa gì?
Câu văn “Tôi đi học” cuối văn bản có ý nghĩa gì?
Xác định giá trị bản thân: trân trọng kỉ niệm,Sống có trách nhiệm với bản thân.
- Kết luận: dòng chữ đã thể hiện được chủ đề của văn bản, mang tính thống nhất thể hiện tình cảm êm dịu, trong trẻo, ngọt ngào và đầy quyến luyến rất riêng của Thanh Tịnh.
Giảng chuyển ý:Bên cạnh nhân vật tôi,trong truyện còn xuất hiện một ố nhân vật khác như người mẹ,các bậc phụ huynh,ông đốc, thầy giáo,trẻ em lớp.Đây là những nhân vật phụ nhưng cũng đóng vai trò khá quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề của truyện
Em có nhận xét gì về thái độ, cử chỉ của người lớn (ông Đốc, thầy giáo đón nhận học trò mới, các phụ huynh) đối với các em bé lần đầu tiên đi học?
Kết luận: Những việc làm đó của họ vừa là trách nhiệm, vừa thể hiện tấm lòng của gia đình, nhà trường đối với thế hệ tương lai và cũng là môi trường giáo dục ấm áp nuôi dưỡng các em trưởng thành
Giao tiếp:trao đổi những suy nghĩ của bản thân về giá trị nội dung và nghệ thuật của vb.
Hãy tìm và phân tích các hình ảnh so sánh được nhà văn sử dụng trong truyện ngắn?
KL: Các so sánh trên xuất hiện ở các thời điểm khác nhau để diễn tả cảm xúc của nhân vật tôi.Đâylà các so sánh giàu hình ảnh,giáu sức gợi cảm được gắn với nhưng cảnh sắc thiên nhiên tươi sáng,trữ tình
Hãy rút ra nét nghệ thuật nổi bật của truyện?
Theo em, sức cuốn hút của tác phẩm được tạo nên từ đâu?
Toàn bộ nội dung của văn bản ghi lại điều gì?
1HS đọc theo yêu cầu của GV
=>biến chuyển của cảnh vật sang thu, hình ảnh những em bé núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường,…
Đó là thời điểm, nơi chốn quen thuộc, gần gũi với tuổi thơ, đó là lần đầu được đi học.
Từ hiện tại nhớ về quá khứ; theo trình tự thời gian, không gian của dòng hồi tưởng.
- Từ láy diễn tả cảm xúc, góp phần rút ngắn khoảng cách thời gian giữa hiện tại và quá khứ
-Đọc theo yêu cầu của GV
Trên đường đến trường: cảm nhận về con đường,cảnh vật…đều thấy lạ, cảm thấy trang trọng đứng đắn…
Cảm giác hân hoan, hồi hộp, mới mẻ, có sự thay đổi trong nhận thức
Thấy sân trường dày đặc người, ngôi trường xinh xắn, oai nghiêm cảm thấy mình nhỏ bé đâm ra lo sợ.
Thấy sân trường dày đặc người, ngôi trường xinh xắn, oai nghiêm cảm thấy mình nhỏ bé đâm
… họ như những con chim non. => Cách so sánh làm nổi bật tâm trạng lo lắng bỡ ngỡ, hồi hộp của những em bé ngày đầu đến trường
- hồi hôp nghe tên mình
- cảm thấy sợ khi phải xa mẹ, cảm thấy mình như bước vào một thế giới khác
-Đọc theo yêu cầu của GV
Cá nhân HS phát hiện:
+ Cảm thấy một mùi hương lạ trong lớp;
+ Cảnh vật trong lớp thấy lạ và hay;
+ Có sự gần gũi với lớp và bạn;
+ Nhớ lại kỉ niệm đi bẫy chim vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy
Cá nhân HS cảm nhận:
Gợi nhớ tuổi thơ vui chơi thường ngày, rồi nhớ tiếc - Hình ảnh này còn có ý nghĩa tượng trưng: giờ đã bước vào tuổi đến trường để học tập không còn được rong chơi nữa.
Cá nhân HS trao đổi và cảm nhận:
Đánh dấu một tuổi thơ nô đùa, rong chơi đã đi qua và đến lúc phải ý thức việc học tập, việc đến trường trong cuộc đời của một tuổi thơ.
Khi nhìn con chim vỗ cánh bay lên và thèm thuồng, nhân vật Tôi mang tâm trạng buồn khi từ giã tuổi ấu thơ vô tư, hồn nhiên để bắt đầu “lớn lên” trong nhận thức của mình. Khi nghe tiếng phấn, Tôi trở về với cảnh thật vòng tay lên bàn lên bàn và ... Tất cả chi tiết ấy thể hiện lòng yêu thiên nhiên, cảnh vật, yêu tuổi thơ và ý thức về sự học hành của người học trò nhỏ.
NL tự học, NL sáng tạo
Cá nhân HS phân tích, nhận xét:
-Ông Đốc : từ tốn ,bao dung
- Thầy giáo trẻ: vui tính, giàu lòng yêu thương trẻ
- Phụ huynh : chuẩn bị cho con đến trường vào buổi học đầu tiên rất chu đáo: sách, vở…, đưa con đến trường, dự lễ tựu trường…
-Nghe.
Kĩ thuật trình bày một phút
Trao đổi, phát hiện:
-“ Tôi quên thế nào…quang đãng”
- “Ý nghĩ ấy thoáng trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn…trên ngọn núi”
- “Họ như con chim con đứng trên bờ tổ,nhìn quãng trời rộng…cảnh lạ”
Cá nhân HS đúc kết:
Bố cục theo dòng hồi tưởng; Kết hợp kể với miêu tả, biểu cảm tạo nên chất trữ tình trong trẻo.
Cá nhân HS phân tích và đúc kết: Tình huống truyện; tình cảm của người lớn; hình ảnh thiên nhiên, ngôi trường; những hình ảnh so sánh.
Cá nhân HS đúc kết:
kỉ niệm trong sáng, thiêng liêng về buổi học đầu tiên .
1- Những sự việc khiến nhân vật tôi có những liên tưởng về ngày đầu tiên đi học của mình:
Thời gian: buổi sáng cuối mùa thu.(đầu tháng 9)
- Cảnh thiên nhiên:lá rụng nhiều, mây bàng bạc
-Cảnh sinh hoạt: mấy em bé rụt rè cùng mẹ đến trường
-Không gian:con đường dài và hẹp
=> Thời điểm khai trường, nơi chốn quen thuộc, gần gũi, gắn liền tuổi thơ lần đầu cắp sách tới trường.
-> Sử dụng từ láy: Nao nức, mơn man, tưng bừng, rộn rã để tạo tâm trạng và cảm xúc, liên tưởng hiện tại, quá khứ-> Kỉ niệm xưa sống dậy.
2-Những hồi tưởng của nhân vật tôi:
a)Tâm trạng khi cùng mẹ đi trên đường đến trường:
- Cảnh vật, con đường vốn rất quen nhưng lần này cảm thấy lạ.
- Tự cảm thấy có sự thay đổi lớn trong lòng mình, cảm thấy trang trọng, đứng đắn hơn về học hành..
- Có chí học từ đầu, muốn tự mình đảm nhận việc học, muốn được như bạn.
=> Yêu bạn bè, ham học và yêu mái trường quê hương.
-> Sử dụng NT so sánh-> Kỉ niệm đẹp đề cao sự học của con người.
b) Khi đứng giữa sân trường
- Không khí của ngày hội tựu trường: náo nức, vui vẻ nhưng cũng rất trang trọng.
- Rất đông người.
- Ai cũng đẹp (quần áo, gương mặt)
-> Không khí đặc biệt của ngày khai trường thể hiện tinh thần hiếu học.
- Trường là nơi thiêng liêng, chứa nhiều bí ẩn, trang nghiêm.
- Đề cao tri thức của con người.
- Khát vọng bay bổng của tác giả.
=> Trưởng thành trong nhận thức và tình cảm.
- Đề cao sức hấp dẫn của nhà trường
c.Khi nghe gọi tên vào lớp học:
- Hồi hộp chờ nghe tên mình
- Oà khóc nức nở.
- Miêu tả học trò sinh động qua hình ảnh và tâm trạng.
d) Khi ngồi trong lớp học:
- Cảm nhận được sự độc lập khi đi học.
- Lớp học là thế giới riêng, phải tự mình làm tất cả, không còn có mẹ như ở nhà.
- Lạ vì lần đầu vào lớp, môi trường sạch sẽ, ngay ngắn.
- Không lạ với bàn ghế, bạn bè-> ý thức được nó sẽ gắn bó mãi.
=> Tình cảm trong sáng, tha thiết.
3- Hình ảnh những người lớn:
- Ông đốc: Từ tốn, bao dung, độ lượng.
- Thầy giáo trẻ: Vui tính, giàu lòng yêu thương.
- Phụ huynh: chu đáo, trân trọng, lo lắng, hồi hộp cùng con em mình.
-> Trách nhiệm, tấm lòng của gia đình, nhà trường với thế hệ tươg lai.
- Tạo môi trường giáo dục thân thiện, là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn các em.
B- Nghệ thuật và sức cuốn hút của văn bản:
- Miêu tả tinh tế, chân thật diễn biến tâm trạng của ngày đầu tiên đi học.
- Sử dụng ngôn ngữ giàu yếu tố biểu cảm, hình ảnh so sánh độc đáo ghi lại dòng liên tưởng, hồi tưởng của nhân vật tôi.
- Giọng điệu trữ tình, trong sáng.
C- Ý nghĩa văn bản: Buổi tựu trường đầu tiên sẽ mãi không thể nào quên trong kí ức của nhà văn Thanh Tịnh.
3.HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
10'
: Bài tập 1. Tác giả của văn bản là ai và cho biết đôi nét về tác giả?
? tác phẩm được rút từ tập nào?
Bài tập 2 Em hiểu gì về cụm từ “ Cảnh vật chung quanh tôi đều có sự thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”?
Bài tập 3 :Hướng dẫn h/s nêu cảm nghĩ của mình về dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” trong văn bản 'Tôi đi học”.
Gợi ý
- Dòng cảm xúc ấy diễn biến như thế nào trong buổi tựu trường đầu tiên của nhân vật “tôi” ? ( Theo trình tự thời gian và không gian…)
- Dòng cảm xúc ấy được bộc lộ ra sao?
+ Thiết tha, yêu quí, nhớ một cách sâu sắc ( lấy chi tiết làm dàn bài)
+ Trong trẻo : Là cảm xúc của tuổi thơ trong ngày đầu tiên đến trường nên rất hồn nhiên, trong sáng, đáng yêu , ( lấy chi tiết phân tích).
4.VẬN DỤNG - TÌM TÒI, MỞ RỘNG:8'
Hình thành NL sáng tạo văn bản nghệ thuật, cảm thụ thẩm mỹ giao tiếp
Bài tập 1: (Viết sáng tạo)
- Nhớ lại những chi tiết làm em xúc động nhất trong buổi tựu trường.
-- Ghi lại một cách chân thành, tự nhiên và cảm xúc đó trong văn bản của mình
Bài tập 2 : Kể lại kỉ niệm về ngày đầu tiên đi học của em.
Hs kể
GV hướng dẫn HS thực hiện theo yêu cầu trong sách hướng dẫn.
- Về nhà sưu tầm các văn bản, câu chuyện, bài hát kể về ngỳ đầu tiên đi học.
- Soạn bài : Chuẩn bị bài: “Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ”.
Qua soạn bài cần hiểu thế nào là cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ.
Phần phụ lục
Bài tham khảo1:
“Cứ mỗi độ thu sang Hoa cúc lại nở vàng Ngồi vườn hương thơm ngát Ong bướm bay rộn ràng Em cắp sách đến trường…”. Khi đọc lại những câu trên mỗi chúng ta đều nhớ, hàng năm cứ đến độ thu sang khoảng đầu tháng 9, lá ngồi đường rụng nhiều và trên khơng cĩ những đám mây bàng bạc, ngồi vườn hương thơm ngát, ong bướm bay rộn ràng, lịng em lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường, lại xơn xao khĩ tả. Thật vậy, những câu thơ này đã làm em nhớ lại cái buổi ban mai em được mẹ nắm tay dắt đi trên con đường cĩ hai hàng cây xanh thẳng tắp đến ngơi trường cĩ mái ngĩi đỏ tươi. Những cây bàng và cây phượng đứng sừng sững trên cái sân rộng, sạch đẹp được cha, mẹ hay chị dẫn đến trường vĩ cũng là buổi đầu tiên đi học như em. Chao ơi, em bước theo canh tay vẫy gọi của cơ nhưng tay em khơng sao rời được tay mẹ, mẹ em phải gỡ tay em ra và đẩy nhẹ em đi về phía cơ. Bên cạnh em cĩ bạn khĩc thút thít, cịn em chỉ muốn chảy nước mắt. Vào lớp, em được xếp ngồi bàn thứ hai bên cạnh của sổ, em nhìn ra ngồi sân, mẹ em và các phụ huynh đang chào nhau vui vẻ ra về. Em cúi xuống lục trong cặp lấy ba cuối Tiếng Việt lớp 1 mở ra… Giọng của cơ giáo trong trẻo, lúc đầu cịn nhỏ nhẹ sau to dần lên… nghe vừa lạ vừa quen… Thế là em đã đi học.
Bài tham khảo 2:
Ngày đầu tiên đi học
Mẹ dắt tay đến trường
Em vừa đi vừa khĩc
Mẹ dỗ dành bên em
Ngày đầu tiên đi học
Em mắt ướt nhạt nhồ
Cơ vỗ về an ủi
Chao ơi! Sao thiết tha
Khi đọc lại những câu trên mỗi chúng ta đều nhớ, hàng năm cứ đến độ thu sang đầu tháng 9, lá ngồi đường rụng nhiều và trên khơng cĩ những đám mây bàng bạc, ngồi vườn hương thơm ngát, ong bướm bay rộn ràng, lịng em lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường, lại xơn xao khĩ tả. Nhưng cĩ lẽ ngày khai giảng đáng nhớ nhất chính là ngày em bước vào lớp 1. Tạm biệt những ngày tháng rong chơi tuổi thơ, chúng ta bắt đầu bước vào một hành trình mới trong cuộc đời của mình. Đến trường để học những nét chữ, phép tốn đầu tiên.
Em vẫn nhớ hơm ấy – một buổi sớm mai cĩ tia nắng lấp lĩ bên ơ cửa sổ. Em phải cùng mẹ đến trường để tham dự lễ khai giảng năm học mới. Hơm đĩ em dậy sớm. cĩ lẽ vì em thấy mình đã khơn lớn và một lý do quan trọng hơn nữa, đĩ là ngày khai trường đầu tiên trong cuộc đời của mình. Em mặc bộ đồng phục mới mà mẹ đã mua cho em và tự tay chuẩn bị cặp sách. Mẹ đeo cặp cho em, và hai mẹ con bước đi trên con phố nhỏ vào sáng mùa thu dịu mát. Đi trên con đường thân thuộc hàng ngày, mà trong lịng em khơng khỏi lo lắng, háo hức, nơn nao chờ đợi. Chờ đợi những gì mà em sắp sửa trải qua: đĩ là ngày đầu tiên dự buổi khai trường năm học mới.
Khi đến cổng trường, em cảm thấy rất ngạc nhiên vì khác xa với ngơi trường mẫu giáo, trường tiểu học cĩ rất đơng bạn nhỏ cũng được bố mẹ đưa đến trường. Những chị học sinh khối 4, 5 duyên dáng trong chiếc váy đồng phục, những anh chị khăn quàng đỏ thắm trên vai, em đặc biệt chú ý những bạn cùng lứa tuổi với em, áo quần tinh tươm rụt rè nắm lấy tay mẹ đến trường. Mẹ khẽ lay tay em và nĩi: “Đến trường rồi kìa con!”. Trường to lớn và đồ sộ hơn trường mẫu giáo nhiều. Trước cổng trường cĩ một tấm bảng đề chữ màu xanh biển rất to: “Trường tiểu học Quang Trung”.
Bước vào cổng trường, cĩ khoảng sân rộng đã đến trước cửa lớp. Em vẫn nhớ rất rõ là mình học lớp 1A do cơ Phương làm chủ nhiệm lớp. Cơ dìu tay em vào lớp và xếp chỗ ngồi. Em bịn rịn buơng tay mẹ và chợt cảm giác hụt hẫng chiếm lấy trong long lúc ấy. Nhìn các bạn chung quanh mình trơng ai cũng lạ lẫm.
Cơ giáo yêu cầu phụ huynh ra về để lớp bắt đầu giờ học. Em chào mẹ qua cửa sổ. Cĩ vài bạn khĩc to lên gọi bố, gọi mẹ khi thấy bố mẹ ra về khiến em cũng cảm thấy mắ mình như nhịe ướt. Nắng ấp áp xuyên qua kẽ lá. Buổi lễ khai giảng đã bắt đầu.
Cơ giáo dẫn chúng em xếp hàng theo từng tốp. Lễ khai giảng bắt đầu trong khơng khí trang trọng của nghi thức chào cờ. Lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới được kéo lên trong bài hát Quốc ca trầm hùng. Cơ hiệu trưởng trang trọng đọc báo cáo và mục tiêu cho năm học mới. Cả trường vang vội tiếng vỗ tay. Đám học trị lớp 1 cũng bắt chước anh chị vỗ tay. Sự rụt rè dần tan biến. Giờ phút thiêng liêng đã đến. Cơ hiệu trưởng đánh ba hồi trống khai giảng năm học mới. Chính tiếng trống ấy đã khởi đầu tương lai cho chúng em qua con đường học vấn và đánh dấu một bước ngoặc lớn trong cuộc đời mình.
Giờ đây, dù đã trải qua tám mùa khai giảng nhưng những kỉ niệm vẫn mãi đọng lại trong kí ức tuổi thơ của em về ngày đầu tiên đi học. Những khoảnh khắc đẹp về mái trường, thầy cơ, những người bạn đầu tiên thời học sinh đã cho em thêm nhiều động lực để cố gắng học tập ngày càng tiến bộ hơn nữa.
PHỤ LỤC BỔ SUNG TÁC GIẢ
Thanh Tịnh (1911-1988) tên thật là Trần Văn Ninh (6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh). Các bút danh khác của ông: Thinh Không, Pathé (trước 1945), Thanh Thanh, Trinh Thuần (sau 1945). Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).
Thanh Tịnh sinh ngày 12 tháng 12 năm 1911[1] tại làng Dương Nỗ, ngoại ô Huế. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán đến năm 11 tuổi, thì theo học chữ Quốc ngữ tại trường tiểu học (trường Đông Ba) và trung học (trường Pellerin của giáo hội Thiên Chúa giáo) ở Huế. Đỗ bằng thành chung, năm 1833, ông đi làm ở các sở tư rồi sau đó làm nghề dạy học. Thời gian này, ông bắt đầu viết văn, làm thơ và cộng tác với các báo Phong hóa, Ngày nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị, Tinh Hoa...
Sáng tác đầu tay của ông là truyện "Cha làm trâu, con làm ngựa" đăng trên Thần kinh tạp chí (1934).
Năm 1936, Thanh Tịnh cho xuất bản tập thơ Hận chiến trường.
Năm 1941, ông và hai bài thơ của ông (Mòn mỏi, Tơ trời với tơ lòng) được Hoài Thanh-Hoài giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam (1942). Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Thanh Tịnh làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ. Năm 1948, ông gia nhập bộ đội. Sau đó, ông tham gia phụ trách đoàn kịch Chiến Thắng.
Năm 1945, ông tham gia phụ trách rồi làm Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội. Về sau, ông thôi làm lãnh đạo, chuyên sáng tác. Ông đã là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa I, II), ủy viên Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Thanh Tịnh mất ngày 17 tháng 7 năm 1988 tại Hà Nội. Hiện phần mộ ông đặt tại núi Thiên Thai phía Tây thành phố Huế.
Tác phẩm của Thanh Tịnh đã xuất bản:
Trước 1945:
-Hận chiến trường (thơ, 1936)
-Quê mẹ (truyện ngắn, 1941)
-Chị và em (truyện ngắn, 1942)
-Ngậm ngải tìm trầm (truyện ngắn, 1943)
-Xuân và Sinh (truyện ngắn, 1944)
Sau 1945:
-Sức mồ hôi (thơ và ca dao, 1954)
-Những giọt nước biển (tập truyện ngắn, 1956)
-Đi từ giữa mùa sen (truyện thơ, 1973)
-Thơ ca (thơ, 1980)
-Thanh Tịnh đời và văn (1996).
Nhà thơ Thanh Tịnh đã được tặng thưởng:
-Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam (1951-1952) cho những bài độc tấu xuất sắc.
-Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 2007.
Ngoài ra, ông còn là người chiếm giải nhất (bài Lời cuối cùng) đồng hạng với nhà thơ Phạm Đình Bách trong cuộc thi thơ tháng Hai do báo Hà Nội báo tổ chức năm 1936.
Khi đi học, Thanh Tịnh đã ham thích văn chương. Hai nhà văn Pháp là Alphonse Daudet và Guy de Maupassant có ảnh hưởng không nhỏ đến văn phong của Thanh Tịnh sau này. Tuy nhiên, ông không thành công trong lĩnh vực viết truyện dài (Xuân và sinh, 1944), nhưng được người đọc yêu mến qua thơ và truyện ngắn. Trước 1945, thơ ông mang phong cách lãng mạn đậm nét. Trong những bài tiêu biểu như Tơ trời với tơ lòng, Vì đàn câm tiếng, Muôn bến, Rồi một hôm...đều mượt mà, tinh tế, hàm súc nhưng hơi buồn và in rõ dấu ấn bâng khuâng, thơ mộng của truyền thống văn hóa, tinh thần xứ Huế. Trong các tập truyện ngắn Quê mẹ (1941), Chị và em (1942), Ngậm ngải tìm trầm (1943) đều có nhiều truyện đẹp, trong sáng và gợi cảm.
Sau 1945, trong kháng chiến, Thanh Tịnh đã khai sinh ra hình thức độc tấu. Nó thường là một bài văn ngắn, có tính chất tự sự, hoặc là đề cập đến những vấn đề thời sự và xã hội. Ngôn ngữ của tấu thường giản dị pha chút dí dỏm. Cách diễn đạt thường là nói, ngâm hay hát hò chỉ là phụ... Thơ trữ tình của Thanh Tinh từ 1945 trở về sau, nhìn chung không nổi bật. Ông viết thiếu lắng đọng, thiếu tinh tế, trừ một số bài viết theo phong cách lãng mạn mà ông đã thành công trước đây…
PHỤ ĐỀ
I. Văn học dân gian:thần thoại,sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ.
2. Văn học trung đại: tiều thuyết chương hồi, truyền kì, ký sự, truyện thơ.
3. Văn học hiện đại: tiểu thuyết hiện đại, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, tryện mi ni.
II. TIỂU THUYẾT, TRUYỆN VỪA, TRUYỆN NGẮN
Phạm vi của tác phẩm tự sự hết sức rộng lớn và có thể được phân loại ở nhiều góc độ khác nhau. Dựa vào hình thức lời văn, có thể nói tới các thể loại cơ bản như anh hùng ca, (sử thi), truyện thơ, trường ca (văn vần), tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn (văn xuôi), ngụ ngôn (thường dùng cả hai hình thức văn vần và văn xuôi). Dựa vào nội dung thể loại, có thể phân thành các tác phẩm có chủ đề dân tộc, thế sự, đạo đức, đời tư...Giáo trình này chỉ trình bày một số thể loại phổ biến trong đời sống hiện nay: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn.
1. Tiểu thuyết.
Tiểu thuyết là thể loại lớn nhất trong loại tác phẩm tự sự, đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong thời kì cận và hiện đại. Ðây là thể loại không bị giới hạn về dung lượng phản ánh hiện thực, cả về không gian cũng như thời gian. Qua tiểu thuyết, người đọc có thể hiểu được một giai đoạn lịch sử với nhiều sự kiện, nhiều cảnh ngộ, địa điểm, tình huống...mà khó có thể loại nào có thể đạt được. Các yếu tố khác của tác phẩm văn học, từ đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu...cũng chịu sự chi phối của đặc điểm này.
Tuy nhiên, dung lượng hiện thực chưa phải là đặc điểm duy nhất và cơ bản nhất của tiểu thuyết mà chính là sự miêu tả cuộc sống từ góc độ đời tư. Tùy theo từng giai đoạn phát triển khác nhau, yếu tố đời tư và yếu tố lịch sử, dân tộc có thể kết hợp với nhau nhưng nếu yếu tố lịch sử dân tộc phát triển, tác phẩm sẽ gần với anh hùng ca; chất đời tư phát triển, tác phẩm sẽ đậm đà chất tiểu thuyết hơn.
Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống trong tính chất văn xuôi. Nó thể hiện cuộc sống như một thực tại cùng thời và hấp thu vào bản thân mọi yếu tố ngỗn ngang, bề bộn của cuộc đời...bao gồm những bi-hài; cao cả-thấp hèn; vĩ đai-tầm thường, lớn-nhỏ..Chính dung lượng phản ánh hiện thực rộng lớn giúp nhà văn miêu tả nhân vật và hoàn cảnh một cách đầy đủ, toàn diện, tỉ mỉ từ những trạng thái tâm hồn cũng như những mối quan hệ đa dạng, phức tạp khác.
Tiểu thuyết là thể loại đa dạng về mặt thẩm mĩ, có khả năng tổng hợp và thu hút vào bản thân nó những đặc trưng và sắc thái thẩm mĩ của nhiều loại hình nghệ thuật khác "Ðức tính căn bản của tiểu thuyết là ăn được mọi thứ, nó đồng hóa mọi loại tác phẩm khác vào mình" (Ph. Mác xô- Nhà nghiên cứu tiểu thuyết Pháp)
2. Truyện ngắn.
Truyện ngắn là một thể loại văn học. Nó thường là các câu truyện kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết. Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số đó. Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn.
Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định. Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài. Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảng khắc của cuộc sống. Ví dụ một truyện ngắn kể về Nhà chứa Tellier của Maupassant thời gian chỉ 24 giờ; Lời phán quyết của Kafka chỉ xảy ra trong vài tiếng. Phong cách của truyện ngắn là thuộc về tình tiết. Cái tình tiết mà truyện ngắn dự định diễn tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập nó lại
Truyện ngắn thì gây cho người đọc một cái nút, một khúc mắc cần giải đáp. Cái nút đó càng ngày càng thắt lại đến đỉnh điểm thì đột ngột cởi tung ra, khiến người đọc hả hê, hết băn khoăn
- về dung lượng : truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ chủ yếu được viết bằng văn xuôi. Nghĩa là ngắn thậm chí cực ngắn (truyện mini) nhân vật không nhiều tình tiết và chi tiết đời sống cũng không nhiều.
- thi pháp : ngoài những yếu tố như cốt truyện lối trần thuật ngôn ngữ... thì tình huống được xem là hạt nhân thể loại của truyện ngắn.
Bởi thế ở phần cốt yếu có thể hình dung : truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung thường chỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó.
Do dung lượng ngắn, nhân vật của truyện ngắn thường không nhiều và cuộc đời của nhân vật cũng thường chỉ được miêu tả như một khoảnh khắc, mảnh nhỏ nhưng lại có ý nghĩa trong cả cuộc đời nhân vật nên nhịp điệu truyện ngắn khẩn trương, gấp rút, có nhiều yếu tố bất ngờ, chuyển đoạn đột ngột trong giới thiệu, bố cục, kết thúc câu chuyện.
Edgar Allan Poe – người được tôn vinh khai sinh ra truyện ngắn hiện đại
Có hai cách để phân biệt truyện ngắn hay tiểu thuyết:
Căn cứ theo số trang mà truyện có thể in ra .
Căn cứ theo cách viết c
PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8
(không có học tin hoc)
Cả năm: 37 tuần(144 tiềt)
Học kì I: 19 tuần=74 tiêt
(18 tuần x 4tiết= 72 tiết; 1 tuần (thi học kì) x 2 tiết= 2 tiết)
Học kì II : 18 tuần=70 tiết
(17 tuần x 4 tiết = 68; 1 tuần( thi học kì) x 2 tiết=2 tiết)
HỌC KÌ I
Tuần
Tiết
Tên bài
Số tiết
Ghi chú
1
1,2
3
4
1
Tôi đi học
Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ
Tính thống nhất về chủ đề của văn bản
Luyện tập tính thống nhất về chủ đề của văn bản
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
Tự học có hướng dẫn. Tích hợp kĩ năng sống
2
5,6
7
8
2
Trong lòng mẹ
Trường từ vựng
Bố cục của văn bản
Tạo lập văn bản
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp môi trường,KNS
Tích hợp môi trường,KNS
Tích hợp kĩ năng sống
3
9
10
11,12
3
Tức nước vỡ bờ
Xây dựng đoạn văn trong văn bản
Viết bài Tập làm văn số 1
Tạo lập văn bản(tt)
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
4
13,14
15
16
4
Lão Hạc
Từ tượng hình, từ tượng thanh
Liên kết các đoạn văn trong văn bản
Luyện tập tạo lập văn bản
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
5
17
18,19
20
5
Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội
Chủ đề: Tóm tắt văn bản tự sự và luyện tập tóm tắt văn bản tự sự
Trả bài Tập làm văn số 1
Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự
1
2
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
6
21,22
23
24
6
Cô bé bán diêm
Trợ từ, thán từ
Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự
Luyện tập miêu tả, biểu cảm trong vbTS
2
1
1
Tiến trình dạy học mới
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
7
25,26
27
28
7
Đánh nhau với cối xay gió
Tình thái từ
Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Rèn luyện kỹ năng viết đv TS+MT,BC
2
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
8
29,30
31
32
8
Chiếc lá cuối cùng
Chương trình địa phương phần tiếng Việt
Lập dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Rèn luyện kỹ năng viết đv TS+MT,BC(tt)
2
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo
9
33,34
35,36
9
Hai cây phong
Viết bài Tập làm văn số 2
Luyện tập lập dàn ý cho bài văn TS+MT,BC
2
2
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp môi trường
10
37
38
39
40
10
Ôn tập truyện kí Việt Nam
Thông tin về ngày trái đất
Nói quá
Nói giảm nói tránh
Luyện tập lập dàn ý cho bài văn TS+MT,BC (tt)
1
1
1
1
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo Tích hợp môi trường,KNS
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
11
41
42
43
44
11
Kiểm tra văn
Câu ghép
Luyện nói: Kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh
Luyện tập câu ghép
1
1
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp kĩ năng sống
12
45
46
47
48
12
Ôn dịch thuốc lá
Câu ghép (tiếp)
Phương pháp thuyết minh
Trả bài kiểm tra Văn, bài TLV số 2
Luyện tập câu ghép
1
1
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp môi trường
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp gd ANQP
13
49
50
51
52
13
Bài toán dân số
Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm
Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh
Chương trình địa phương phần văn
LT đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh
1
1
1
1
Tích hợp kĩ năng sống
Tích hợp môi trường
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo
14
53
54
55,56
14
Dấu ngoặc kép
Luyện nói: Thuyết minh một thứ đồ dùng
Viết bài Tập làm văn số 3
LT đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh (tt)
1
1
2
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo
15
57
58
59
60
15
Ôn luyện về dấu câu
Ôn tập tiếng Việt
Thuyết minh về một thể loại văn học
Đập đá ở Côn Lôn
LT thuyết minh về 1 thể loại vh
1
1
1
1
16
61
62
63
64
16
Hướng dẫn đọc thêm: Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác,
Muốn làm thằng Cuội
Kiểm tra Tiếng Việt
Ông Đồ
Ôn tập thơ thất ngôn
1
1
1
1
Tích hợp tư tưởng HCM,
Tích hợp gd ANQP
17
65
66
67
68
17
. HDĐT: Hai chữ nước nhà
Trả bài Tập làm văn số 3
Trả bài kiểm tra Tiếng Việt
Ôn tập
Ôn tập thơ thất ngôn (tt)
1
1
1
1
Tích hợp tưtưởngHCM
Tích hợp TTHCM
18
69,70
Kiểm tra học kì I
2
19
71,72
73,74
18
Hoạt động ngữ văn: Làm thơ 7 chữ
Trả bài kiểm tra học kì I
Ôn tập tổng hợp cuối học kỳ
2
2
Tiến trình dạy học mới
Trãi nghiệm sáng tạo
Ngày soạn:
Ngày dạy Tuần 01
Tiết: 1, 2 : Tiến trình dạy học mới TÔI ĐI HỌC
( Thanh Tịnh)
I-MỤC TIÊU:
Giúp HS :
1/ Kiến thức: Cảm nhận được những cảm xúc chân thật, trong sáng của tuổi thơ trong ngày đầu trên con đường đến trường. Thấy được ngòi bút văn xuôi giàu chất trữ tình.
2/ Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng đọc, cảm thụ, phân tích truyện ngắn trữ tình.
Các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục trong bài.
- Suy nghĩ sáng tạo: phân tích,bình luận về những cảm xúc của nhân vật chính trong ngày đầu đi học.
- Xác định giá trị bản thân: trân trọng kỉ niệm,sống có trách nhiệm với bản thân.
- Giao tiếp: trình bày suy nghĩ,ý tưởng ,cảm nhận của bản thân về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản.
3. Thái độ: Giáo dục HS cĩ ý thức trân trọng những kỉ niệm đẹp về tuổi học trị, kỉ niệm về ngày đầu tiên đi học. Qua đĩ, bồi dưỡng các em lịng mến yêu trường lớp, thầy cơ giáo, bạn bè,… luơn rèn luyện những kĩ năng cơ bản về làm văn để làm tốt những bài tập làm văn.
II. Các năng lực hình thành và phát triển cho học sinh
- Năng lực đọc hiểu văn bản văn hoc (cốt truyện, nhân vật, sự việc, cách miêu tả tâm trạng nhân vật)
- Năng lực Giao tiếp, phản hồi/ lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ/ ý tưởng, cảm nhận của bản thân về cách ứng xử thể hiện tình cảm của nhân vật, giá trị ND và NT của VB; trình bày được cảm nhận của cá nhân về những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học; thực hành viết mơt văn bản đảm bảo tính thống nhất về chủ đề;
- Năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp thơng qua các hình thức hoạt động học cá nhân, cặp đơi, nhĩm, cả lớp.
III.Các phương pháp dạy học tích cực:
- Động não: tìm hiểu những chi tiết thể hiện cảm xúc của nhân vật chính trong ngày đầu đi học.
- Thảo luận nhóm trình bày về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản.
- Viết sáng tạo: cảm nghĩ ngày đầu tiên đi học của cá nhân.
IV.Chuẩn bi của giáo viên và học sinh
1/Chuẩn bị của GV:
-Nghiên cứu SGK, SGV, STK để nắm được mục tiêu và nội dung của bài học
-Đọc thêm các tài liệu có nội dung liên quan đến bài học
-Soạn giáo án,bảng phụ
2/Chuẩn bị của HS:
-Bài soạn theo hệ thống câu hỏi SGK,theo sự hướng dẫn của GV
-Sưu tầm bài hát,bài thơ nói về ngày đầu đi học.
V-TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:
1.KHỞI ĐỘNG (5')
Tìm và hát các bài hát về ngày đầu tiên đi học
GV hướng dẫn HS hoạt động lớp; cùng chia sẻ suy nghĩ của mình
GT:Trong cuộc đời mỗi con người, những kỉ niệm của tuổi học trò thường được lưu giữ lâu bền trong trí nhớ. Đặc biệt là cái cảm giác lần đầu tiên đến trường và nhà văn Thanh Tịnh cũng vậy. Những kỉ niệm mơn man ấy vẫn còn sống mãi với tác giả, còn mãi với thời gian và là những kỉ niệm đáng nhớ nhất. Bài học hôm nay thầy cùng các em sẽ cùng sống lại những cảm xúc đó qua văn bản “Tôi đi học”
2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
TG
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
Nội dung
26'
Hoạt động1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chi tiết
Năng lực: Thu thập và xử lí thông tin
I-Tìm hiểu chi tiết:
* Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả – tác phẩm .
- Gọi HS đọc chú thích ()ở SGK .
Nêu vài nét về tác giả – tác phẩm?
Giảng:Tên khai sinh là Trần Văn Ninh. Lên 6 tuổi đổi thành Trần Thanh Tịnh, năm 1933 bắt đầu đi dạy và sáng tác văn chương trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, dài, thơ, ca dao, bút kí văn học nhưng thành công nhất là truyện và thơ. Truyện ngắn của ông toát lên một tình cảm êm dịu, trong trẻo, nhẹ
nhàng mà thấm sâu,vừa man mác buồn thương,vừa ngọt ngào quyến luyến.
-HS đọc chú thích SGK – T.8,9.
Thanh Tịnh (1911 – 1988) Quê ở Huế – Từng dạy học, làm báo, viết văn làm thơ. Sáng tác của ông đậm chất trữ tình “Tôi Đi Học” in trong tập “Quê Mẹ” (1941)
B. Tác giả, tác phẩm:
1.Tác giả : Thanh Tịnh (1911 – 1988) quê ở Huế.
- Sáng tác của ông đậm chất trữ tình, toát lên vẻ
đẹp đằm thắm, nhẹ nhàng mà lắng sâu tình cảm, êm dịu, trong trẻo.
* Hướng dẫn HS đọc văn bản và tìm hiểu từ khó.
-Đọc chậm, dịu, hơi buồn và lắng sâu, chú ý đọc đúng.
-Đọc mẫu,gọi HS đọc tiếp theo
- Nhận xét cách đọc của HS
- Gọi HS đọc các chú thích, nhấn mạnh các từ cần lưu ý: ông đốc, bất giác , lạm nhận
VB trên thuộc phương thức biểu đạt nào?
Trong VB có những nhân vật nào? Nhân vật chính là ai? Vì sao em biết được điều đó?
Văn bản kể về việc gì?
? Kỷ niệm ngày đầu tiên đến trường của nhân vật “ tôi” được kể theo trình tự nào
? Tương ứng với trình tự ấy là những đoạn văn nào?
- Nêu đại ý và bố cục của vb?
- Nghe hướng dẫn đọc.
-Đọc theo yêu cầu của GV,HS khác theo dõi ,đọc thầm.
-Nhận xét cách đọc của các bạn theo yêu cầu của GV.
-Đọc các chú thích
Tự sự xen miêu tả và biểu cảm.
Đặc biệt là biểu cảm gần với thơ-> tạo sức truyền cảm-> Góp phần tạo chất trữ tình cho tác phẩm.
Các nhân vật có trong VB: tôi, mẹ tôi, ông đốc, thầy giáo, những cậu học trò.
Nhân vật chính là tôi, vì mọi sự việc đều được kể từ cảm nhận của tôi.
Kể về những kỉ niệm của buổi tựu trường đầu tiên của nhân vật tôi.
Thảo luận
- Đánh dấu trong SGK
2. Tác phẩm :
- Tác phẩm chính: Hận chiến trường (tập thơ 1937), Quê mẹ (truyện ngắn - 1941).
B.Văn bản:
1.Xuất xứ:
“Tôi đi học” được in trong tập “Quê mẹ” (1941).
2.Thể loại:
Truyện ngắn.
3. Đọc VB và giải thích từ
khó:
4.Phương thức biểu đạt:
Tự sự xen miêu tả và biểu cảm
Trình tự sự việc :từ thời gian và không khí ngày tựu trường ở thời điểm hiện tại, nv tôi hồi tưởng về kỉ niêm ngày đầu tiên đi học.
5.Bố cục: chia làm 4 phần
- P1: Từ đầu-> rộn rã.
=>Khơi nguồn kỉ niệm.
- P2: Tiếp-> trên ngọn núi.
=> Cảm nhận trên đường tới trường.
- P3: Tiếp-> nghỉ cả ngày nữa.
=> Cảm nhận lúc ở sân trường.
- P4:Còn lại
=>Cảm nhận trong lớp học
6- Đại ý: Kể lại những kỉ niệm và cảm xúc của nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường đầu tiên.
41'
Hoạt động 2: Hướng dẫn tìm hiểu chi tiết văn bản
Năng lực: Đọc diễn cảm, sử dụng kiến thức văn học và Tiếng Việt để phân tích nội dung
II-Đọc-hiểu vb:
A.Nội dung
6'
3'
Xác định giá trị bản thân: trân trọng kỉ niệm
Gọi 1 HS đọc đoạn(Hằng năm…hôm nay tôi đi học)
Kỉ niệm ngày đầu đến trường của nhân vật tôi khơi nguồn từ thời điểm nào?
Vì sao thời điểm ấy trở thành kỉ niệm trong tâm trí của tác giả?
Những kỉ niệm này nhân vật tôi kể lại theo trình tự nào?
? Em có nhận xét gì về cách miêu tả của tác giả ở đoạn văn này?
Hết tiết 1
-Gọi HS đọc lại đoạn(Buổi mai hôm ấy…ngọn núi) Hình thành NL hợp tác, cảm thụ thẩm mỹ giao tiếp
-Gv chia lớp ra 4 nhóm, cho h/s thảo luận nhóm theo yêu cầu trên phiếu học tập trong thời gian 5'.
N1: Chi tiết nào cho thấy nhân vật tôi rất hồi hộp, bỡ ngỡ khi cùng mẹ đến trường (đoạn trên con đường làng).
N2: Khi đứng trước ngôi trường cảm giác của “tôi” như thế nào?
N3: Khi nghe gọi tên vào
lớp , cảm giác của “tôi” như thế nào?
N4: Vào trong lớp học thì “tôi” có tâm trạng gì?
- Tổ chức trình bày kết quả thảo luận.
-Gv nhận xét, uốn nắn lần lượt từng nội dung của mỗi nhóm để đi đến kiến thức cần ghi.
- Kết luận: Tất cả những tâm trạng ấy được tác giả thể hiện bằng một chi tiết rất cô đọng, đặc sắc.
Theo em, đó là chi tiết nào?
Tác giả đã thể hiện bằng chi tiết đó có ý nghĩa gì?
Hình ảnh “con chim liệng đến đứng bên cửa sổ … bay cao” có ý nghĩa gì?
Câu văn “Tôi đi học” cuối văn bản có ý nghĩa gì?
Xác định giá trị bản thân: trân trọng kỉ niệm,Sống có trách nhiệm với bản thân.
- Kết luận: dòng chữ đã thể hiện được chủ đề của văn bản, mang tính thống nhất thể hiện tình cảm êm dịu, trong trẻo, ngọt ngào và đầy quyến luyến rất riêng của Thanh Tịnh.
Giảng chuyển ý:Bên cạnh nhân vật tôi,trong truyện còn xuất hiện một ố nhân vật khác như người mẹ,các bậc phụ huynh,ông đốc, thầy giáo,trẻ em lớp.Đây là những nhân vật phụ nhưng cũng đóng vai trò khá quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề của truyện
Em có nhận xét gì về thái độ, cử chỉ của người lớn (ông Đốc, thầy giáo đón nhận học trò mới, các phụ huynh) đối với các em bé lần đầu tiên đi học?
Kết luận: Những việc làm đó của họ vừa là trách nhiệm, vừa thể hiện tấm lòng của gia đình, nhà trường đối với thế hệ tương lai và cũng là môi trường giáo dục ấm áp nuôi dưỡng các em trưởng thành
Giao tiếp:trao đổi những suy nghĩ của bản thân về giá trị nội dung và nghệ thuật của vb.
Hãy tìm và phân tích các hình ảnh so sánh được nhà văn sử dụng trong truyện ngắn?
KL: Các so sánh trên xuất hiện ở các thời điểm khác nhau để diễn tả cảm xúc của nhân vật tôi.Đâylà các so sánh giàu hình ảnh,giáu sức gợi cảm được gắn với nhưng cảnh sắc thiên nhiên tươi sáng,trữ tình
Hãy rút ra nét nghệ thuật nổi bật của truyện?
Theo em, sức cuốn hút của tác phẩm được tạo nên từ đâu?
Toàn bộ nội dung của văn bản ghi lại điều gì?
1HS đọc theo yêu cầu của GV
=>biến chuyển của cảnh vật sang thu, hình ảnh những em bé núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường,…
Đó là thời điểm, nơi chốn quen thuộc, gần gũi với tuổi thơ, đó là lần đầu được đi học.
Từ hiện tại nhớ về quá khứ; theo trình tự thời gian, không gian của dòng hồi tưởng.
- Từ láy diễn tả cảm xúc, góp phần rút ngắn khoảng cách thời gian giữa hiện tại và quá khứ
-Đọc theo yêu cầu của GV
Trên đường đến trường: cảm nhận về con đường,cảnh vật…đều thấy lạ, cảm thấy trang trọng đứng đắn…
Cảm giác hân hoan, hồi hộp, mới mẻ, có sự thay đổi trong nhận thức
Thấy sân trường dày đặc người, ngôi trường xinh xắn, oai nghiêm cảm thấy mình nhỏ bé đâm ra lo sợ.
Thấy sân trường dày đặc người, ngôi trường xinh xắn, oai nghiêm cảm thấy mình nhỏ bé đâm
… họ như những con chim non. => Cách so sánh làm nổi bật tâm trạng lo lắng bỡ ngỡ, hồi hộp của những em bé ngày đầu đến trường
- hồi hôp nghe tên mình
- cảm thấy sợ khi phải xa mẹ, cảm thấy mình như bước vào một thế giới khác
-Đọc theo yêu cầu của GV
Cá nhân HS phát hiện:
+ Cảm thấy một mùi hương lạ trong lớp;
+ Cảnh vật trong lớp thấy lạ và hay;
+ Có sự gần gũi với lớp và bạn;
+ Nhớ lại kỉ niệm đi bẫy chim vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy
Cá nhân HS cảm nhận:
Gợi nhớ tuổi thơ vui chơi thường ngày, rồi nhớ tiếc - Hình ảnh này còn có ý nghĩa tượng trưng: giờ đã bước vào tuổi đến trường để học tập không còn được rong chơi nữa.
Cá nhân HS trao đổi và cảm nhận:
Đánh dấu một tuổi thơ nô đùa, rong chơi đã đi qua và đến lúc phải ý thức việc học tập, việc đến trường trong cuộc đời của một tuổi thơ.
Khi nhìn con chim vỗ cánh bay lên và thèm thuồng, nhân vật Tôi mang tâm trạng buồn khi từ giã tuổi ấu thơ vô tư, hồn nhiên để bắt đầu “lớn lên” trong nhận thức của mình. Khi nghe tiếng phấn, Tôi trở về với cảnh thật vòng tay lên bàn lên bàn và ... Tất cả chi tiết ấy thể hiện lòng yêu thiên nhiên, cảnh vật, yêu tuổi thơ và ý thức về sự học hành của người học trò nhỏ.
NL tự học, NL sáng tạo
Cá nhân HS phân tích, nhận xét:
-Ông Đốc : từ tốn ,bao dung
- Thầy giáo trẻ: vui tính, giàu lòng yêu thương trẻ
- Phụ huynh : chuẩn bị cho con đến trường vào buổi học đầu tiên rất chu đáo: sách, vở…, đưa con đến trường, dự lễ tựu trường…
-Nghe.
Kĩ thuật trình bày một phút
Trao đổi, phát hiện:
-“ Tôi quên thế nào…quang đãng”
- “Ý nghĩ ấy thoáng trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn…trên ngọn núi”
- “Họ như con chim con đứng trên bờ tổ,nhìn quãng trời rộng…cảnh lạ”
Cá nhân HS đúc kết:
Bố cục theo dòng hồi tưởng; Kết hợp kể với miêu tả, biểu cảm tạo nên chất trữ tình trong trẻo.
Cá nhân HS phân tích và đúc kết: Tình huống truyện; tình cảm của người lớn; hình ảnh thiên nhiên, ngôi trường; những hình ảnh so sánh.
Cá nhân HS đúc kết:
kỉ niệm trong sáng, thiêng liêng về buổi học đầu tiên .
1- Những sự việc khiến nhân vật tôi có những liên tưởng về ngày đầu tiên đi học của mình:
Thời gian: buổi sáng cuối mùa thu.(đầu tháng 9)
- Cảnh thiên nhiên:lá rụng nhiều, mây bàng bạc
-Cảnh sinh hoạt: mấy em bé rụt rè cùng mẹ đến trường
-Không gian:con đường dài và hẹp
=> Thời điểm khai trường, nơi chốn quen thuộc, gần gũi, gắn liền tuổi thơ lần đầu cắp sách tới trường.
-> Sử dụng từ láy: Nao nức, mơn man, tưng bừng, rộn rã để tạo tâm trạng và cảm xúc, liên tưởng hiện tại, quá khứ-> Kỉ niệm xưa sống dậy.
2-Những hồi tưởng của nhân vật tôi:
a)Tâm trạng khi cùng mẹ đi trên đường đến trường:
- Cảnh vật, con đường vốn rất quen nhưng lần này cảm thấy lạ.
- Tự cảm thấy có sự thay đổi lớn trong lòng mình, cảm thấy trang trọng, đứng đắn hơn về học hành..
- Có chí học từ đầu, muốn tự mình đảm nhận việc học, muốn được như bạn.
=> Yêu bạn bè, ham học và yêu mái trường quê hương.
-> Sử dụng NT so sánh-> Kỉ niệm đẹp đề cao sự học của con người.
b) Khi đứng giữa sân trường
- Không khí của ngày hội tựu trường: náo nức, vui vẻ nhưng cũng rất trang trọng.
- Rất đông người.
- Ai cũng đẹp (quần áo, gương mặt)
-> Không khí đặc biệt của ngày khai trường thể hiện tinh thần hiếu học.
- Trường là nơi thiêng liêng, chứa nhiều bí ẩn, trang nghiêm.
- Đề cao tri thức của con người.
- Khát vọng bay bổng của tác giả.
=> Trưởng thành trong nhận thức và tình cảm.
- Đề cao sức hấp dẫn của nhà trường
c.Khi nghe gọi tên vào lớp học:
- Hồi hộp chờ nghe tên mình
- Oà khóc nức nở.
- Miêu tả học trò sinh động qua hình ảnh và tâm trạng.
d) Khi ngồi trong lớp học:
- Cảm nhận được sự độc lập khi đi học.
- Lớp học là thế giới riêng, phải tự mình làm tất cả, không còn có mẹ như ở nhà.
- Lạ vì lần đầu vào lớp, môi trường sạch sẽ, ngay ngắn.
- Không lạ với bàn ghế, bạn bè-> ý thức được nó sẽ gắn bó mãi.
=> Tình cảm trong sáng, tha thiết.
3- Hình ảnh những người lớn:
- Ông đốc: Từ tốn, bao dung, độ lượng.
- Thầy giáo trẻ: Vui tính, giàu lòng yêu thương.
- Phụ huynh: chu đáo, trân trọng, lo lắng, hồi hộp cùng con em mình.
-> Trách nhiệm, tấm lòng của gia đình, nhà trường với thế hệ tươg lai.
- Tạo môi trường giáo dục thân thiện, là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn các em.
B- Nghệ thuật và sức cuốn hút của văn bản:
- Miêu tả tinh tế, chân thật diễn biến tâm trạng của ngày đầu tiên đi học.
- Sử dụng ngôn ngữ giàu yếu tố biểu cảm, hình ảnh so sánh độc đáo ghi lại dòng liên tưởng, hồi tưởng của nhân vật tôi.
- Giọng điệu trữ tình, trong sáng.
C- Ý nghĩa văn bản: Buổi tựu trường đầu tiên sẽ mãi không thể nào quên trong kí ức của nhà văn Thanh Tịnh.
3.HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
10'
: Bài tập 1. Tác giả của văn bản là ai và cho biết đôi nét về tác giả?
? tác phẩm được rút từ tập nào?
Bài tập 2 Em hiểu gì về cụm từ “ Cảnh vật chung quanh tôi đều có sự thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”?
Bài tập 3 :Hướng dẫn h/s nêu cảm nghĩ của mình về dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” trong văn bản 'Tôi đi học”.
Gợi ý
- Dòng cảm xúc ấy diễn biến như thế nào trong buổi tựu trường đầu tiên của nhân vật “tôi” ? ( Theo trình tự thời gian và không gian…)
- Dòng cảm xúc ấy được bộc lộ ra sao?
+ Thiết tha, yêu quí, nhớ một cách sâu sắc ( lấy chi tiết làm dàn bài)
+ Trong trẻo : Là cảm xúc của tuổi thơ trong ngày đầu tiên đến trường nên rất hồn nhiên, trong sáng, đáng yêu , ( lấy chi tiết phân tích).
4.VẬN DỤNG - TÌM TÒI, MỞ RỘNG:8'
Hình thành NL sáng tạo văn bản nghệ thuật, cảm thụ thẩm mỹ giao tiếp
Bài tập 1: (Viết sáng tạo)
- Nhớ lại những chi tiết làm em xúc động nhất trong buổi tựu trường.
-- Ghi lại một cách chân thành, tự nhiên và cảm xúc đó trong văn bản của mình
Bài tập 2 : Kể lại kỉ niệm về ngày đầu tiên đi học của em.
Hs kể
GV hướng dẫn HS thực hiện theo yêu cầu trong sách hướng dẫn.
- Về nhà sưu tầm các văn bản, câu chuyện, bài hát kể về ngỳ đầu tiên đi học.
- Soạn bài : Chuẩn bị bài: “Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ”.
Qua soạn bài cần hiểu thế nào là cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ.
Phần phụ lục
Bài tham khảo1:
“Cứ mỗi độ thu sang Hoa cúc lại nở vàng Ngồi vườn hương thơm ngát Ong bướm bay rộn ràng Em cắp sách đến trường…”. Khi đọc lại những câu trên mỗi chúng ta đều nhớ, hàng năm cứ đến độ thu sang khoảng đầu tháng 9, lá ngồi đường rụng nhiều và trên khơng cĩ những đám mây bàng bạc, ngồi vườn hương thơm ngát, ong bướm bay rộn ràng, lịng em lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường, lại xơn xao khĩ tả. Thật vậy, những câu thơ này đã làm em nhớ lại cái buổi ban mai em được mẹ nắm tay dắt đi trên con đường cĩ hai hàng cây xanh thẳng tắp đến ngơi trường cĩ mái ngĩi đỏ tươi. Những cây bàng và cây phượng đứng sừng sững trên cái sân rộng, sạch đẹp được cha, mẹ hay chị dẫn đến trường vĩ cũng là buổi đầu tiên đi học như em. Chao ơi, em bước theo canh tay vẫy gọi của cơ nhưng tay em khơng sao rời được tay mẹ, mẹ em phải gỡ tay em ra và đẩy nhẹ em đi về phía cơ. Bên cạnh em cĩ bạn khĩc thút thít, cịn em chỉ muốn chảy nước mắt. Vào lớp, em được xếp ngồi bàn thứ hai bên cạnh của sổ, em nhìn ra ngồi sân, mẹ em và các phụ huynh đang chào nhau vui vẻ ra về. Em cúi xuống lục trong cặp lấy ba cuối Tiếng Việt lớp 1 mở ra… Giọng của cơ giáo trong trẻo, lúc đầu cịn nhỏ nhẹ sau to dần lên… nghe vừa lạ vừa quen… Thế là em đã đi học.
Bài tham khảo 2:
Ngày đầu tiên đi học
Mẹ dắt tay đến trường
Em vừa đi vừa khĩc
Mẹ dỗ dành bên em
Ngày đầu tiên đi học
Em mắt ướt nhạt nhồ
Cơ vỗ về an ủi
Chao ơi! Sao thiết tha
Khi đọc lại những câu trên mỗi chúng ta đều nhớ, hàng năm cứ đến độ thu sang đầu tháng 9, lá ngồi đường rụng nhiều và trên khơng cĩ những đám mây bàng bạc, ngồi vườn hương thơm ngát, ong bướm bay rộn ràng, lịng em lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường, lại xơn xao khĩ tả. Nhưng cĩ lẽ ngày khai giảng đáng nhớ nhất chính là ngày em bước vào lớp 1. Tạm biệt những ngày tháng rong chơi tuổi thơ, chúng ta bắt đầu bước vào một hành trình mới trong cuộc đời của mình. Đến trường để học những nét chữ, phép tốn đầu tiên.
Em vẫn nhớ hơm ấy – một buổi sớm mai cĩ tia nắng lấp lĩ bên ơ cửa sổ. Em phải cùng mẹ đến trường để tham dự lễ khai giảng năm học mới. Hơm đĩ em dậy sớm. cĩ lẽ vì em thấy mình đã khơn lớn và một lý do quan trọng hơn nữa, đĩ là ngày khai trường đầu tiên trong cuộc đời của mình. Em mặc bộ đồng phục mới mà mẹ đã mua cho em và tự tay chuẩn bị cặp sách. Mẹ đeo cặp cho em, và hai mẹ con bước đi trên con phố nhỏ vào sáng mùa thu dịu mát. Đi trên con đường thân thuộc hàng ngày, mà trong lịng em khơng khỏi lo lắng, háo hức, nơn nao chờ đợi. Chờ đợi những gì mà em sắp sửa trải qua: đĩ là ngày đầu tiên dự buổi khai trường năm học mới.
Khi đến cổng trường, em cảm thấy rất ngạc nhiên vì khác xa với ngơi trường mẫu giáo, trường tiểu học cĩ rất đơng bạn nhỏ cũng được bố mẹ đưa đến trường. Những chị học sinh khối 4, 5 duyên dáng trong chiếc váy đồng phục, những anh chị khăn quàng đỏ thắm trên vai, em đặc biệt chú ý những bạn cùng lứa tuổi với em, áo quần tinh tươm rụt rè nắm lấy tay mẹ đến trường. Mẹ khẽ lay tay em và nĩi: “Đến trường rồi kìa con!”. Trường to lớn và đồ sộ hơn trường mẫu giáo nhiều. Trước cổng trường cĩ một tấm bảng đề chữ màu xanh biển rất to: “Trường tiểu học Quang Trung”.
Bước vào cổng trường, cĩ khoảng sân rộng đã đến trước cửa lớp. Em vẫn nhớ rất rõ là mình học lớp 1A do cơ Phương làm chủ nhiệm lớp. Cơ dìu tay em vào lớp và xếp chỗ ngồi. Em bịn rịn buơng tay mẹ và chợt cảm giác hụt hẫng chiếm lấy trong long lúc ấy. Nhìn các bạn chung quanh mình trơng ai cũng lạ lẫm.
Cơ giáo yêu cầu phụ huynh ra về để lớp bắt đầu giờ học. Em chào mẹ qua cửa sổ. Cĩ vài bạn khĩc to lên gọi bố, gọi mẹ khi thấy bố mẹ ra về khiến em cũng cảm thấy mắ mình như nhịe ướt. Nắng ấp áp xuyên qua kẽ lá. Buổi lễ khai giảng đã bắt đầu.
Cơ giáo dẫn chúng em xếp hàng theo từng tốp. Lễ khai giảng bắt đầu trong khơng khí trang trọng của nghi thức chào cờ. Lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới được kéo lên trong bài hát Quốc ca trầm hùng. Cơ hiệu trưởng trang trọng đọc báo cáo và mục tiêu cho năm học mới. Cả trường vang vội tiếng vỗ tay. Đám học trị lớp 1 cũng bắt chước anh chị vỗ tay. Sự rụt rè dần tan biến. Giờ phút thiêng liêng đã đến. Cơ hiệu trưởng đánh ba hồi trống khai giảng năm học mới. Chính tiếng trống ấy đã khởi đầu tương lai cho chúng em qua con đường học vấn và đánh dấu một bước ngoặc lớn trong cuộc đời mình.
Giờ đây, dù đã trải qua tám mùa khai giảng nhưng những kỉ niệm vẫn mãi đọng lại trong kí ức tuổi thơ của em về ngày đầu tiên đi học. Những khoảnh khắc đẹp về mái trường, thầy cơ, những người bạn đầu tiên thời học sinh đã cho em thêm nhiều động lực để cố gắng học tập ngày càng tiến bộ hơn nữa.
PHỤ LỤC BỔ SUNG TÁC GIẢ
Thanh Tịnh (1911-1988) tên thật là Trần Văn Ninh (6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh). Các bút danh khác của ông: Thinh Không, Pathé (trước 1945), Thanh Thanh, Trinh Thuần (sau 1945). Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).
Thanh Tịnh sinh ngày 12 tháng 12 năm 1911[1] tại làng Dương Nỗ, ngoại ô Huế. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán đến năm 11 tuổi, thì theo học chữ Quốc ngữ tại trường tiểu học (trường Đông Ba) và trung học (trường Pellerin của giáo hội Thiên Chúa giáo) ở Huế. Đỗ bằng thành chung, năm 1833, ông đi làm ở các sở tư rồi sau đó làm nghề dạy học. Thời gian này, ông bắt đầu viết văn, làm thơ và cộng tác với các báo Phong hóa, Ngày nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị, Tinh Hoa...
Sáng tác đầu tay của ông là truyện "Cha làm trâu, con làm ngựa" đăng trên Thần kinh tạp chí (1934).
Năm 1936, Thanh Tịnh cho xuất bản tập thơ Hận chiến trường.
Năm 1941, ông và hai bài thơ của ông (Mòn mỏi, Tơ trời với tơ lòng) được Hoài Thanh-Hoài giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam (1942). Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Thanh Tịnh làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ. Năm 1948, ông gia nhập bộ đội. Sau đó, ông tham gia phụ trách đoàn kịch Chiến Thắng.
Năm 1945, ông tham gia phụ trách rồi làm Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội. Về sau, ông thôi làm lãnh đạo, chuyên sáng tác. Ông đã là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa I, II), ủy viên Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Thanh Tịnh mất ngày 17 tháng 7 năm 1988 tại Hà Nội. Hiện phần mộ ông đặt tại núi Thiên Thai phía Tây thành phố Huế.
Tác phẩm của Thanh Tịnh đã xuất bản:
Trước 1945:
-Hận chiến trường (thơ, 1936)
-Quê mẹ (truyện ngắn, 1941)
-Chị và em (truyện ngắn, 1942)
-Ngậm ngải tìm trầm (truyện ngắn, 1943)
-Xuân và Sinh (truyện ngắn, 1944)
Sau 1945:
-Sức mồ hôi (thơ và ca dao, 1954)
-Những giọt nước biển (tập truyện ngắn, 1956)
-Đi từ giữa mùa sen (truyện thơ, 1973)
-Thơ ca (thơ, 1980)
-Thanh Tịnh đời và văn (1996).
Nhà thơ Thanh Tịnh đã được tặng thưởng:
-Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam (1951-1952) cho những bài độc tấu xuất sắc.
-Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 2007.
Ngoài ra, ông còn là người chiếm giải nhất (bài Lời cuối cùng) đồng hạng với nhà thơ Phạm Đình Bách trong cuộc thi thơ tháng Hai do báo Hà Nội báo tổ chức năm 1936.
Khi đi học, Thanh Tịnh đã ham thích văn chương. Hai nhà văn Pháp là Alphonse Daudet và Guy de Maupassant có ảnh hưởng không nhỏ đến văn phong của Thanh Tịnh sau này. Tuy nhiên, ông không thành công trong lĩnh vực viết truyện dài (Xuân và sinh, 1944), nhưng được người đọc yêu mến qua thơ và truyện ngắn. Trước 1945, thơ ông mang phong cách lãng mạn đậm nét. Trong những bài tiêu biểu như Tơ trời với tơ lòng, Vì đàn câm tiếng, Muôn bến, Rồi một hôm...đều mượt mà, tinh tế, hàm súc nhưng hơi buồn và in rõ dấu ấn bâng khuâng, thơ mộng của truyền thống văn hóa, tinh thần xứ Huế. Trong các tập truyện ngắn Quê mẹ (1941), Chị và em (1942), Ngậm ngải tìm trầm (1943) đều có nhiều truyện đẹp, trong sáng và gợi cảm.
Sau 1945, trong kháng chiến, Thanh Tịnh đã khai sinh ra hình thức độc tấu. Nó thường là một bài văn ngắn, có tính chất tự sự, hoặc là đề cập đến những vấn đề thời sự và xã hội. Ngôn ngữ của tấu thường giản dị pha chút dí dỏm. Cách diễn đạt thường là nói, ngâm hay hát hò chỉ là phụ... Thơ trữ tình của Thanh Tinh từ 1945 trở về sau, nhìn chung không nổi bật. Ông viết thiếu lắng đọng, thiếu tinh tế, trừ một số bài viết theo phong cách lãng mạn mà ông đã thành công trước đây…
PHỤ ĐỀ
I. Văn học dân gian:thần thoại,sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ.
2. Văn học trung đại: tiều thuyết chương hồi, truyền kì, ký sự, truyện thơ.
3. Văn học hiện đại: tiểu thuyết hiện đại, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, tryện mi ni.
II. TIỂU THUYẾT, TRUYỆN VỪA, TRUYỆN NGẮN
Phạm vi của tác phẩm tự sự hết sức rộng lớn và có thể được phân loại ở nhiều góc độ khác nhau. Dựa vào hình thức lời văn, có thể nói tới các thể loại cơ bản như anh hùng ca, (sử thi), truyện thơ, trường ca (văn vần), tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn (văn xuôi), ngụ ngôn (thường dùng cả hai hình thức văn vần và văn xuôi). Dựa vào nội dung thể loại, có thể phân thành các tác phẩm có chủ đề dân tộc, thế sự, đạo đức, đời tư...Giáo trình này chỉ trình bày một số thể loại phổ biến trong đời sống hiện nay: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn.
1. Tiểu thuyết.
Tiểu thuyết là thể loại lớn nhất trong loại tác phẩm tự sự, đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong thời kì cận và hiện đại. Ðây là thể loại không bị giới hạn về dung lượng phản ánh hiện thực, cả về không gian cũng như thời gian. Qua tiểu thuyết, người đọc có thể hiểu được một giai đoạn lịch sử với nhiều sự kiện, nhiều cảnh ngộ, địa điểm, tình huống...mà khó có thể loại nào có thể đạt được. Các yếu tố khác của tác phẩm văn học, từ đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu...cũng chịu sự chi phối của đặc điểm này.
Tuy nhiên, dung lượng hiện thực chưa phải là đặc điểm duy nhất và cơ bản nhất của tiểu thuyết mà chính là sự miêu tả cuộc sống từ góc độ đời tư. Tùy theo từng giai đoạn phát triển khác nhau, yếu tố đời tư và yếu tố lịch sử, dân tộc có thể kết hợp với nhau nhưng nếu yếu tố lịch sử dân tộc phát triển, tác phẩm sẽ gần với anh hùng ca; chất đời tư phát triển, tác phẩm sẽ đậm đà chất tiểu thuyết hơn.
Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống trong tính chất văn xuôi. Nó thể hiện cuộc sống như một thực tại cùng thời và hấp thu vào bản thân mọi yếu tố ngỗn ngang, bề bộn của cuộc đời...bao gồm những bi-hài; cao cả-thấp hèn; vĩ đai-tầm thường, lớn-nhỏ..Chính dung lượng phản ánh hiện thực rộng lớn giúp nhà văn miêu tả nhân vật và hoàn cảnh một cách đầy đủ, toàn diện, tỉ mỉ từ những trạng thái tâm hồn cũng như những mối quan hệ đa dạng, phức tạp khác.
Tiểu thuyết là thể loại đa dạng về mặt thẩm mĩ, có khả năng tổng hợp và thu hút vào bản thân nó những đặc trưng và sắc thái thẩm mĩ của nhiều loại hình nghệ thuật khác "Ðức tính căn bản của tiểu thuyết là ăn được mọi thứ, nó đồng hóa mọi loại tác phẩm khác vào mình" (Ph. Mác xô- Nhà nghiên cứu tiểu thuyết Pháp)
2. Truyện ngắn.
Truyện ngắn là một thể loại văn học. Nó thường là các câu truyện kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết. Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số đó. Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn.
Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định. Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài. Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảng khắc của cuộc sống. Ví dụ một truyện ngắn kể về Nhà chứa Tellier của Maupassant thời gian chỉ 24 giờ; Lời phán quyết của Kafka chỉ xảy ra trong vài tiếng. Phong cách của truyện ngắn là thuộc về tình tiết. Cái tình tiết mà truyện ngắn dự định diễn tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập nó lại
Truyện ngắn thì gây cho người đọc một cái nút, một khúc mắc cần giải đáp. Cái nút đó càng ngày càng thắt lại đến đỉnh điểm thì đột ngột cởi tung ra, khiến người đọc hả hê, hết băn khoăn
- về dung lượng : truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ chủ yếu được viết bằng văn xuôi. Nghĩa là ngắn thậm chí cực ngắn (truyện mini) nhân vật không nhiều tình tiết và chi tiết đời sống cũng không nhiều.
- thi pháp : ngoài những yếu tố như cốt truyện lối trần thuật ngôn ngữ... thì tình huống được xem là hạt nhân thể loại của truyện ngắn.
Bởi thế ở phần cốt yếu có thể hình dung : truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung thường chỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó.
Do dung lượng ngắn, nhân vật của truyện ngắn thường không nhiều và cuộc đời của nhân vật cũng thường chỉ được miêu tả như một khoảnh khắc, mảnh nhỏ nhưng lại có ý nghĩa trong cả cuộc đời nhân vật nên nhịp điệu truyện ngắn khẩn trương, gấp rút, có nhiều yếu tố bất ngờ, chuyển đoạn đột ngột trong giới thiệu, bố cục, kết thúc câu chuyện.
Edgar Allan Poe – người được tôn vinh khai sinh ra truyện ngắn hiện đại
Có hai cách để phân biệt truyện ngắn hay tiểu thuyết:
Căn cứ theo số trang mà truyện có thể in ra .
Căn cứ theo cách viết c
 









Các ý kiến mới nhất