Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Giáo án cả năm

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Nghĩa Thanh Bình
Ngày gửi: 20h:59' 28-06-2022
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 16
Số lượt thích: 0 người
Bài 1

TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

A. Mục đích yêu cầu:
- Giúp cho HS được những kiến thức cơ bản về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, tinh thần yêu nước ý chí quật cường, tài thao lược đánh giặc giữ nước của tổ tiên.
- Có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, có thái độ học tập và rèn luyện tốt, sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
B. Thiết kế dạy và học:

Phương pháp
Nội dung

I. Lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt nam:
1. Những cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên:
Dân tộc Việt Nam bắt đầu dựng nước và giữ nước cách đây 4000 năm:
- Năm 214 trước công nguyên: cuộc kháng chiến chống quân tần.
- Năm 184-179 An Dương Vương đánh Triệu Đà.
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ I đến thế kỉ X):
- Dưới ách thống trị của chính quyền đô hộ, nhân dân ta đã quyết giữ gìn bản sắc dân tộc và đã đứng lên giành độc lập dân tộc và đã đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của: Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (năm 248), Lí Bí (năm 542), Triệu Quang Phục (năm 548), Mai Thúc Loan (năm 722), Phùng Hưng (năm 766), Khúc Thừa Dụ (năm 905). Năm 906, nhân dân ta đã giành quyền tự chủ.
- Dưới sự lảnh đạo của Dương Đình Nghệ (931), Ngô Quyền (938). Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938 dân tộc ta giành lại độc lập, tự do cho tổ quốc.
3. Các cuộc chiến tranh giữ nước (từ thế kỉ X đến XIX):
- Sau khi chiến thắng giặc ngoại xâm, Ngô Quyền lên ngôi vua và từ đó trải qua các triều đại: Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ và Lê Sơ (từ thế kỉ X đến thế kỉ XV) với kinh đô Thăng Long là một quốc gia cường thịnh ở châu Á, là một rtong những thời kì phát triển rực rở nhất của đất nước: thời kì văn minh đại Việt. Nhưng trong giai đoạn lịch sử này không một thế kỉ nào dân tộc ta không phải chống giặc ngoại xâm:
+ Năm 981 đánh tan cuộc xâm lăng lần nhất của quân Tống do Lê Hoàn lãnh đạo. Thế kỉ XI (1075-1077) dưới triềi Lí một lần nữa dân tộc ta giành thắng lợi vẽ vang trong cuộc kháng chiến chống Tống.
+ Thế kỉ XIII (1258-1288) ba lần oanh liệt chiến thắng quân Mông Nguyên. Những chiến công lẫy lừng ở: Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn kiếp và Bạch Đằng mãi lưu truyền trong sử sách, luôn là niềm kiêu hảnh của dân tộc ta.
+ Đầu thế kỉ XV quân Minh Xâm lược nhà Hồ thất bại nhưng các cuộc khởi nghĩa của phong trào yêu nước vẫn phát triển như: Lam Sơn (Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo). Trận Chi Lăng-Xương Giang nổi tiếng năm 1472 đã kết thúc 10 năm kiên trì và anh dũng của nhân dân cả nước.
+ Cuối thế kỉ XVIII dân tộc ta hai lần chống giặc ngoại xâm: Năm 1785 chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút, xuân kỉ dậu năm 1789 chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa, những chiến công bất diệt đều do Quang Trung-Nguyễn Huệ chỉ huy.
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc lật đổ chế độ thực dân nử phong kiến:
- Tháng 9/1858 Pháp tiến công vào Đà Nẳng, Nhà Nguyễn đầu hàng giặc.
- Năm 1884 Pháp hoàn toàn đô hộ nước ta.
- Từ đó nhiều phong trào kháng chiến nổi lên tiêu biểu là: cuộc khởi nghĩa do Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám lảnh đạo nhưng cuối cùng đều thất bại.
- Nguyên nhân: Do thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến, đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện mới của thời đại
- Năm 1930 Đảng của một giai cấp công nhân ra đời do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập là một sự kiện trọng đại, đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Từ đây cách mạng Việt Nam trải qua các cao trào: (1930-1931), (1936-1939), (1940-1945), và với thắng lợi rực rỡ của cách mạng tháng tám, nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời → nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á .
5. Cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp Xâm lược (1945-1954):
- 23/09/1945 Pháp xâm lược nước ta lần hai, trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, dưới sự giúp sức của quân Anh.
- Dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Trung Ương Đảng đã gây mâu thuẫn cho kẻ thù, tranh thủ hoà hoãn với Pháp đẩy 20 vạn quân Tưởng về nước chuẩn bị kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp.
- Nhưng “chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới”. Ngày 19/12/1946 trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đáp ứng lời kêu gọi của Bác từ năm 1947-1954 quân dân ta đã lập được nhiều chiến công, làm thất bại nhiều cuộc hành binh lớn của Pháp trên khắp các mặt trận. Tiêu biểu là:
+ Chiến thắng Việt Bắc-Thu Đông (năm 1947)
+ Chiến thắng Biên Giới (năm 1950)
+ Chiến thắng Tây Bắc (1952)
+ Cuối cùng là chiến cuộc Đông Xuân (1953-1954) mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, dẫn tới kí hiệp định Giơnevơ năm 1954, giải phóng hoàn toàn miền Bắc nước ta.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954-1975):
- Đế quốc Mĩ phá hoại hiệp định Giơnevơ, hất cẳng Pháp độc chiếm miền Nam dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của Mĩ, Nhằm chia cắt lâu dài nước ta.
- 1959-1960 phong trào đồng khởi ở miền Nam bùng nổ và lan rộng. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập. từ năm 1961-1965 quân dân ta đã đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt của Mĩ”.
- Năm 1965-1968, và đặc biệt là đòn tiến công mậu thân (1968) của quân và dân ta đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” và buộc Mĩ phải đàm phán với ta ở hội nghị Pa-ri.
- Mĩ tiếp tục thực hiện chính sách “Việt Nam hoá chiến tranh” Mở rộng chiến tranh sang Lào và Cambuchia, Nhân dân ba nước đã cùng nhau đánh tan cuộc hành quân của Mĩ ngụy. Năm 1972 với chiến công xuất sắc, phá tan cuộc tấp kích bằng B52 vào miền Bắc. Buộc Mĩ phải kí hiệp định Pari .
- Đại thắng mùa xuân năm 1975 Mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn 100 năm của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
II. Truyền thống vẻ vang của dân tộc ta trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước:
1. Truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước:
- Nước ta ở vào một vị trí chiến lược quan trọng trong vùng Đông Nam Á nên có nhiều thế lực xâm lược thèm khác và dòm ngó. Vì vậy ngay từ buổi đầu dựng nước, giữ nước là một nhu cầu cấp thiết. Dựng nước đi đôi với giữ nước là một qui luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta.
- Từ cuối thế kỉ III trước công nguyên đến nay, với gần 20 cuộc chiến tranh, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc.
→ Nhân dân ta thời nào cũng vậy, dựng nước đi đôi với giữ nước là nhiệm vụ thường xuyên và cấp thiết.
2. Truyền thống lấy nhỏ chống lớn, lấy ít địch nhiều:
- Trong lịch sử đấu tranh giữ nước, hầu như các cuộc chiến tranh đều diển ra trong hoàn cảnh hết sức chênh lệch. Kẻ thù những nước lớn, có khả năng huy động lực lượng, trang bị và chi viện lớn cho chiến tranh. Ngược lại nước ta nhỏ, dân không đông, khả năng huy động quân đội có hạn, kinh tế thường xuyên bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
- Sự chênh lệch tiêu biểu là:
+ Thế kỉ XI, chiến tranh chống Tống, nhà Lí có 10 vạn quân kẻ thù có tới 30 vạn quân.
+ Thế kỉ XIII kháng chiến chống quân Mông-Nguyên, nhà Trần có 15 vạn, nhưng quân địch có tới 50-60 vạn.
+ Thời chống Thanh Quanh Trung có 10 vạn kẻ thù có tới 29 vạn.
+ Trong kháng chiến chống Pháp, Mĩ về lực lượng và đặc biệt là trang bị vũ khí ta thua kém nhiều.
→ Nhưng cuối cùng mọi thế lực xâm lược, bất kể thế lực to lớn như thế nào củng không thắng được dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Dẫu kẻ thù là ai đi nữa, lắm mưu nhiều kế, dù là những đội quân lừng danh trên thế giới, vẫn không tránh khỏi thất bại thảm hại tại Việt Nam. Dân tộc Việt Nam luôn hiểu ta,biết lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng thắng số lượng, biết phát huy sức mạnh của toàn dân đánh giặc giữ nước.
3. Truyền thống cả nước chung sức đánh giặc, toàn dân đánh giặc, đánh giặc toàn diện:
- Dân tộc ta có một truyền thống quý báo, đó là lòng yêu nước nồng nàn, có tình cảm quê hương đất nước gắn bó thiết tha, ai củng hiểu nước mất thì nhà tan, vì vậy các thế hệ đều đứng lên đánh giặc giữ nước.
- Trong lịch sử có biết bao anh hùng liệt sĩ, biết bao người đã hi sinh vì độc lập tự do:
+ Hai Bà Trưng vớ lời thề sông hát.
+ Bà Triệu cưỡi voi chỉ huy đánh giặc với câu nói bất hủ: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người”
+ Trần Quốc Toản bóp nát quả cam vì hận mình còn nhỏ tuổi không được dự bàn kế đánh giặc ở Bình Than.
+ Trần Bình Trọng: “thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”
+ Nguyễn Trung Trực đã hiên ngang tuyên bố trước mặt quân thù: “Bao giờ người tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh tây”
+ Hình ảnh Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót đã xả thân vì nước.
+ Nguyễn Viết Xuân: “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”
→ Đó là những biểu tượng sáng ngời về lòng yêu nước, mãi mãi không bao giờ phai trong kí ức người Việt Nam. Và vì thế “không có gì quí hơn độc lập tự do” sớm trở thành tư tưởng tình cảm lớn nhất và là lẽ sống thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam.
4. Truyền thống thắng giặc trí thông minh, sáng tạo, bằng nghệ thuật quân sự độc đáo:
- Mưu trí sáng tạo được thể hiện trong kho tàng kinh nghiệm phong phú của cuộc đấu tranh giữ nước, trong tài thao lược kiệt xuất của dân tộc ta.
- Nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân toàn dân đánh giặc.
- Với trí thông minh sáng tạo, bằng nghệ thuật quân sự độc đáo, dù kẻ thù từ đâu đến, giàu có, đông quân, trang bị hiện đại, lắm mưu mô xảo quyệt. Chúng buộc phải đánh theo cách đánh của ta và cuối cùng đều chịu thất bại thảm hại.
5. Truyền thống đoàn kết quốc tế:
- Sự nghiệp đấu tranh của nhân dân ta là sự nghiệp chính nghĩa, vì: “độc lập dân tộc”, vì: “hoà bình và tiến bộ xã hội”, góp phần vào cuộc đấu tranh cho độc lập tự do của các dân tộc trên thế giới, vì vậy chúng ta luôn được nhân dân nhiều nước ủng hộ.
- Đoàn kết quốc tế trong sáng, thuỷ chung đã trở thành truyền thống, là một nhân tố thành công trong sự nghiệp đánh giặc, giữ nước cũng như trong cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
6. Truyền thống một lòng theo Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam:
- Dưới sự lảnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam, nhân dân ta đứng lên lật đổ ách thống trị của chế độ phong kiến thực dân: cách mạng tháng tám thành công, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, giành độc lập, thống nhất tổ quốc, đưa đất nước ta tiến lên CNXH.
- Trong giai đoạn mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, phấn đấu vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
















Bài 2:

LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG CỦA QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

A. Mục đích yêu cầu:
- Hiểu được những nét chính về lịch sử, bản chất truyền thống anh hùng của quân đội và công an nhân dân Việt Nam. Từ truyền thống anh hùng của lực lượng vũ trang, rút ra được nét cơ bản của nghệ thuật quân sự qua mỗi giai đoạn.
- Có ý thức tu dưỡng, rèn luyện tốt, sẵn sàng tham gia vào lực lượng quân đội và công an.
B. Thiết kế dạy và học:

Phương Pháp
Nội Dung

A. Lịch sử, truyền thống quân đội nhân dân Việt Nam:
I. Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam:
1. Thời kì hình thành:
- Năm 1930 nhiều đội vũ trang cách mạng do Đảng Cộng Sản Đông Dương tổ chức và lãnh đạo được thành lập như: Đội tự vệ đỏ, đội du kích nam kì, đội tự vệ Cao Bằng, đội cứu quốc quân, đội du kích Ba Tơ…
- Tháng 12/1944 đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chính thức được thành lập theo chỉ thị của chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai ngày sau khi thành lập, đội đã tiêu diệt được hai đồn Phay Khắt và Nà Ngần. Ngày thành lập đội 22/12/1944 trở thành ngày truyền thống hàng năm của các lực lượng vũ trang (ngày thành lập QĐND Việt Nam ngày nay).
- Tháng 4/1945 các lực lượng vũ trang trên cả nước được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân. Và đã giành chính quyền về tay nhân dân.
2. Thời kì xây dựng trưởng thành và chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ:
a. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp:
* Quá trình phát triển:
- Sau cách mạng tháng tám, Việt Nam giải phóng quân được Bác đổi tên thành “Vệ quốc đoàn”-đoàn quân chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
- 22/05/1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh thành lập quân đội quốc gia Việt Nam. Năm 1951 đổi tên thành QĐND Việt Nam và được gọi cho đến ngày nay.
- 7/04/1949 Chủ Tịch Hồ Chí Minh kí quyết định thành lập bộ đội địa phương.
* Quá trình chiến đấu và chiến thắng:
- Ngày 19/12/1946 tại Hà Nội, các pháo đài láng, Xuân Canh, Xuân Tảo …nổ phát súng đầu tiên mở đầu toàn quốc kháng chiến.
- Thu đông 1947 đánh bại cuộc tiến công của giặc lên Việt Bắc.
- Thu đông năm 1950 ta mở chiến dịch biên giới, kết thúc chiến dịch hai binh đoàn thiện chiến và nhiều thế lực khác của giặc bị tiêu diệt. Từ đó đại đoàn 308, trung đoàn 174, 209 cùng nhiều lực lượng khác đã giành chiến thắng.
- Chiến thắng Tây Bắc 1952-thượng Lào 1953.
- Đông xuân 1953-1954 ta mở chiến dịch ĐBP. Chiến dịch ĐBP kết thúc đã ghi vào lịch sử dân tộc ta một chiến công oanh liệt.
b. Trong kháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược (1954-1975):
- Kháng chiến chống Pháp thắng lợi: quân đội ta bước vào thời kì xây dựng, cùng toàn dân kháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
- 1954-1965 quân đội ta từng bước được xây dựng, trình độ được nâng cao hình thành một đội quân gồm nhiều quân chủng, binh chủng, xây dựng được hệ thống các nhà trường quân sự để đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kĩ thuật.
- 15/01/1961 các lực lượng vũ trang được thống nhất thành “Quân giải phóng” và đã đánh bài cuộc chiến tranh đặc biệt của Mĩ.
- Ta đánh bại cuộc hành quân của Mĩ vào mùa khô 1965-1966,1966-1967 .
- Miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu hết lòng vì miền Nam. Hai lần (1965-1968,1972) quân và dân ta đánh bại chiế tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mĩ. Xuất sắc bảo vệ miền Bắc, hổ trợ miền Nam trong cuộc chiến gay go ác liệt.
- Mùa xuân năm 1975 với nhiều quân đoàn và binh chủng kỉ thuật hiện đại, quân và dân ta mở cuộc tiến công và nổi dậy đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, thực hiện di chúc của Bác: “đánh cho Mĩ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng Sài Gòn 30/4, giải phóng Trường Sa từ 13 → 29/4.
c. Thời kì xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt nam XHCN:
- Sau chiến thắng 1975 quân đội ta bước sang thời kì mới, thời kì cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đưa đất nước tiến lên theo con đường ĐLDT và CNXH mà Đảng và Bác cùng nhân dân lựa chọn.
- Một thế hệ thanh niên mới lại tiếp bước cha ông, kế thừa và phát huy những truyền thống vẻ vang trong 30 năm chống Pháp, Mĩ tiếp tục xây dựng quân đội chính qui hiện đại làm nồng cốt cho nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Đáp nhiệm vụ QP-AN trong mọi tình huống,
II. Truyền thống quân đội nhân dân Việt Nam:
1. Trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng.
2. Quyết chiến, quyết thắng, biết đánh, biết thắng.
3. Gắn bó máu thịt với nhân dân.
4. Nội bộ đoàn kết thống nhất, kỉ luật tự giác, nghiêm minh.
5. Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội xây dựng đất nước.
6. Nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, đoàn kết thuỷ chung với bè bạn quốc tế.
B. Lịch sử truyền thống công an nhân dân Việt Nam:
I. Lịch sử công an nhân dân Việt Nam:
1. Thời kì hình thành:
- Đáp ứng yêu cầu bảo vệ chính quyền cách mạng. Dưới sự chỉ đạo của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, lực lượng công an được thành lập ngày 19/08/1945. (Ngày 19/08 trở thành ngày truyền thống hàng năm của các lực lượng công an nhân dân Việt Nam)
- Ở Bắc Bộ thành lập Sở Liêm phóng và Sở Cảnh sát, các tỉnh thành lập các ti liêm phóng và ti cảnh sát.
2. Thời kì xây dựng và trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ:
a. Thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954):
- Đầu năm 1947, Nha công an trung ương được tổ chức thành: văn phòng, ti điệp báo, ti chính trị, bộ phận an toàn khu.
- Ngày 15/01/1950 hội nghị công an toàn quốc được xác định công an nhân dân Việt Nam có ba tính chất dân tộc, dân chủ, khoa học.
- Ngày 28/02/1950 bộ phận tình báo quân đội xác nhập vào nha công an.
- Trong chiến dịch ĐBP, ban công an tiền phương được thành lập nằm trong hội đồng cung cấp mặt trận, góp phần làm nên chiến thắng ĐBP, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Thời kì này xuất phát nhiều tấm gương dũng cảm như: Võ Thị Sáu (tỉnh Bà Rịa), Trần Việt Hùng (tỉnh Hải Dương), Trần Văn Châu (tỉnh Nam Định)
b. Thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954-1975):
- 1954-1960 công an nhân dân Việt Nam dân góp phần ổn định an ninh.
- 1961-1965 ở miền Bắc công an nhân dân góp phần đấu tranh chống lực lượng phản cách mạng và tội phạm, bảo vệ công cuộc xây dựng xã hội. ở miền Nam, các lực lượng an ninh góp phần làm thất bại kế hoạch dồn dân lập ấp chiến lược của đế quốc Mĩ và tay sai.
- 1965-1968 công an nhân dân giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và làm thất chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam
- 1969-1973 đánh thắng chiến tranh phá hoại lần hai vào miền Bắc và chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mĩ ở miền Nam.
- 1973-1975 lực lượng công cùng với quân và dân cả nước làm nên chiến thắng mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch HCM..
c. Thời kì thống nhất, cả nước đi lên CNXH (1975-nay):
- Trên 60 năm xây dựng và trưởng thành công an nhân dân Việt đã được nhà nước phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang. Huân chương sao vàng, huân chương Hồ Chí Minh và những phần thưởng cao quí khác.
II. Truyền thống công an nhân dân Việt Nam:
1.Trung thành tuyệt đối với sự nghiệp của Đảng.
2. Vì nhân dân phục vụ, dựa vào dân làm việc và chiến đấu.
3. Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và tiếp thu vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm bảo vệ an ninh, trật tự và những thành tựu khoa học-công nghệ phục vụ công tác và chiến đấu.
4. tận tụy trong công việc, cảnh giác, bí mật, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm, kiên quyết, khôn khéo trong chiến đấu.
5. Quan hệ hợp tác trong sáng, thủy chung, nghĩa tình.

































Bài 3

ĐỘI NGŨ TỪNG NGƯỜI KHÔNG CÓ SÚNG

A. Mục đích yêu cầu:
- Hiểu được các động tác đội ngũ từng người không có súng trong điều lệnh đội ngũ.
- Thực hiện các động tác đội ngũ từng người không có súng.
- Tự giác luyện tập để thành thạo các động tác đội ngũ từng người không có súng, có ý thức tổ chức kỉ luật, sẵn sàng nhận và hoàn nhiệm vụ được giao.
B. Thiết kế dạy và học:

Phương Pháp
Nội Dung

































































































































































































































I. Động tác nghiêm:
a. Ý nghĩa:
- Để rèn cho mọi người có tác phong nghiêm túc, tư thế hùng mạnh, khẩn trương, đức tính bình tĩnh, nhẫn nại, đồng thời rèn luyện ý thức tổ chức kỉ luật, thống nhất và tập trung, sẵn sàng chấp hành mệnh lệnh.
b. Khẩu lệnh:
- “Nghiêm”
c. Động tác:
- Nghe dứt động lệnh “nghiêm”, hai gót chân đặt sát vào nhau, nằm trên một đường thẳng ngang, hai bàn chân mở rộng một góc 450 (tính từ mép trong của hai bàn chân), hai đầu gối thẳng, sức nặng toàn thân dồn đều vào hai bàn chân, ngực nở, bụng hơi thót lại, hai vai thăng bằng, hai tay buôn thẳng, năm ngón tay khép lại, cong tự nhiên, đầu ngón tay cái đặt vào giữa đốt thứ nhất và đốt thứ hai của ngón trỏ, ngón tay giữa đặt theo đường chỉ quần, đầu ngay, miệng ngậm, mắt nhìn thẳng.
II. Động tác nghỉ:
a. Ý nghĩa:
- Giúp cho quân nhân đứng trong đội hình đỡ mỏi, đứng lâu mà vẫn tập trung sự chú ý, giữ được tư thế, hàng ngũ nghiêm chỉnh.
b. Khẩu lệnh:
- “nghĩ”
c. Động tác:
- Nghe dứt động lệnh nghỉ, đầu gối chân trái hơi chùng, sức nặng toàn thân dồn vào chân phải, thân trên và hai tay vẫn giữ như đứng nghiêm. Khi mỏi trở về tư thế nghiêm rồi đổi chân.
- Động tác nghỉ hai chân mở rộng bằng vai: áp dụng đối với thủy thủ khi đứng trên tàu và khi luyện tập thể dục thể thao. Nghe dứt động lệnh “nghỉ” chân trái bước sang bên trái mộ bước rộng bằng vai, đầu gối thẳng tự nhiên, thân trên vẫn giữ thẳng như khi đứng nghiêm, sức nặng toàn thân dồn đều vào hai chân, đồng thời hai tay dưa về sau lưng, tay trái nắm cổ tay phải, bàn tay phải nắn lại tự nhiên, lòng bàn tay hướng về sau, khi mỏi thì đổi tay.
III. Động tác quay tại chỗ:
* Ý nghĩa: Dùng để đổi hướng đội hình nhanh chống chính xác mà vẫn giữ được vị trí đứng. quay tại chỗ là động tác cơ bản làm cơ sở cho đổi hình, đổi hướng trong phân đội được trật tự thống nhất.
1. Quay bên phải:
a. Khẩu lệnh: “Bên phải…quay”
b. Động tác:
+ Cử động 1: thân trên vẫn giữ ngay ngắn, hai đầu gối thẳng tự nhiên, lấy gót chân phải và mũi chân trái làm trụ, phối hợp với đà xoay của thân người quay toàn thân sang phải một góc 900, sức nặng toàn thân dộn vào chân phải.
+ Cử động 2: Đưa chân trái lên, đặt hai gót chân sát vào nhau thành tư thế đứng nghiêm.
2. Quay bên trái:
a. Khẩu lệnh: “Bên trái …quay”.
b. Động tác:
+ Cử động 1: Thân trên vẫn giữ ngay ngắn, hai đầu gối thẳng tự nhiên, lấy gót chân trái và mũi chân phải làm trụ, phối hợp với đà xoay của thân người quay toàn thân sang trái một góc 900, sức nặng toàn thân dồn vào chân trái.
+ Cử động 2: Đưa chân phải lên, đặt hai gót chân sát vào nhau thành tư thế nghiêm.
3. Quay nửa bên phải:
a. Khẩu lệnh: “Nửa bên phải …quay”
b. Động tác:
+ Nghe dứt động lệnh “quay”, thực hiện hai cử động như quay bên phải, chỉ khác là quay sang phải một góc 450.
4. Quay nửa bên trái:
a. Khẩu lệnh: “Nửa bên trái…quay”
b. Động tác:
+ Nghe động lệnh “quay” thực hiện hai cử động như quay bên trái, chỉ khác là quay sang trái một góc 450.
5. Quay đằng sau:
a. Khẩu lệnh: “Đằng sau …quay”
b. Động tác: Giống như động tác quay bên trái nhưng quay sang trái một góc 1800
IV. Động tác chào:
* Ý nghĩa: Động tác biểu thị tính tổ chức, tính kỉ luật, tinh thần đoàn kết, nếp sống văn minh và tôn trọng lẫn nhau.
1. Động tác chào cơ bản khi đội mũ cứng, kêpi:
a. Khẩu lệnh: “chào”
b. Động tác: Nghe dứt động lệnh “chào”, tay phải đưa lên theo đường gần nhất, đặt đầu ngón tay giữa chạm vào bên phải vành mũ, năm ngón tay khép lại và duỗi thẳng, bàn tay úp xuống và hơi chếch vè trước, bàn tay và cánh tay thành một đường thẳng, cánh tay cao ngang tầm vai, mắt nhìn thẳng vào đối tượng mình chào.
* Thôi chào:
+ Khẩu lệnh: “Thôi”
+ Nghe dứt động lệnh “Thôi”, tay phải bỏ xuống theo đường gần nhất thành tư thế đứng nghiêm.
2. Động tác nhìn bên phải (trái) chào:
a. Khẩu lệnh: “nhìn bên phải (trái) chào”
b. Động tác: Khi nghe dứt động lệnh “chào”, tay phải đưa lên vành mũ chào, đồng thời đánh mặt sang phải “trái” một góc 450 và nhìn lên 50 (tay không đưa theo vành mũ)
* Thôi chào:
+ Khẩu lệnh: “Thôi”
+ Nghe dứt động lệnh “thôi”, tay phải đưa xuống theo đường gần nhất, đồng thời quay mặt thành tư thế nghiêm.
3. Chào khi không đội mũ:
- Quân nhân mặc quân phục khi không đội mũ, trong trường hợp: gặp nhau hoạc tiếp xúc với nước ngoài, khi báo cáo cấp trên, khi được giới thiệu trước và sau khi phát biểu trong hội nghị, trước khi bắt tay cấp trên, khi giới thiệu chương trình và tham gia hoạt động văn hoá, văn nghệ vẫn thực hiện động tác chào như đội mũ, chỉ khác đầu ngón tay giữ ngang đôi lông mài phải.
4. Chào khi đến gặp cấp trên:
Đến trước cấp trên từ 3-5 bước đứng nghiêm, giơ tay chào và báo cáo, báo cáo xong bỏ tay xuống, nội dung báo cáo như sau:
- Đối với cấp trên trực tiếp: “Báo cáo đồng chí, chức vụ hoặc cấp bậc, nội dung cần báo cáo, hết”
- Đối với cấp trên không trực tiếp: “Xưng hô họ tên, chức vụ hoặc cấp bậc, báo cáo đồng chí, chức vụ hoặc cấp bậc, nội dung cần báo cáo, hết”
Khi được phép đi, quân nhân phải chào, khi cấo trên chào đáp lễ xong, bỏ tay xuống rồi quay về hướng định đi, sau khi quay xong trở về tư thế đứng nghiêm, sau đó đi đều hoặc chạy đều về vị trí.
Trong các trường hợp không thể dùng tay để chào thì đứng nghiêm. Nếu đang đi, vùa đi quay mặt vào người mình chào, có thể kết hợp với lời nói để chào.
V. Động tác đi đều, đứng lại, đổi chân khi đang đi:
1. Động tác đi đều:
a. Ý nghĩa: Động tác đi đều vận dụng để di chuyển vị trí và đội hình có trật tự, thống nhất hùng mạnh, nghiêm trang.
b. Khẩu lệnh: “Đi đều…bước”
c. Động tác:
- Nghe dứt động lệnh “bước”, thực hiện hai cử động như sau:
+ Cửi động 1: Chân trái bước lên một bước cách chân phải 60cm, đặt gót rồi đặt cả bàn chân xuống, sức nặng toàn thân dồn vào chân trái, đồng thời tay phải đánh ra trước, khủy tay gập và hơi nâng lên, cánh tay hợp với thân người một góc 450, cẳng tay gần thành đường thăng bằng, nắm tay úp xuống và hơi chếch về trước, khớp xương thứ 3 của ngón tay trỏ cách thân người 20 cm, thẳng với hàng khuy áo, tay trái đánh về sau một cách tự nhiên, lòng bàn tay quay vào trong, mắt nhìn thẳng.
+ Cử động 2: Chân phải bước lên cách chân trái 60 cm, tay trái đánh ra phía trước, tay phải đánh về phía sau. Cú như vậy chân nọ tay kia tiếp tục bước với tốc độ 110 bước/phút.
2. Động tác đứng lại:
a. Ý nghĩa: Động tác đứng lại để đang đi đều dừng lại được nghiêm chỉnh, trật tự thống nhất mà vẫn giữ được đội hình.
b. Khẩu lệnh: “Đứng lại…Đứng”. Khi đang đi đều người chỉ huy hô dự lệnh “Đứng lại” và động lệnh “Đứng” khi chân phải bước xuống.
- Khi nghe động lệnh “đứng” thực hiện hai cử động:
+ Cử động 1: Chân trái bước lên một bước, bàn chân đặt chếch sang trái một góc 22030.
+ Cử động 2: Chân phải đưa lên, đặt hai gót chân sát vào nhau, đồng thời hai tay đưa về thành tư thế nghiêm.
3. Động tác đổi chân trong khi đi đều:
- Động tác đổi chân khi đang đi đều để thống nhất nhịp đi chung trong phân đội hoặc theo tiếng hô của người chỉ huy.
- Trường hợp khi đang giậm chân, nghe tiếng hô của người chỉ huy: “Một” khi chân phải giậm xuống, “Hai” khi chân trái giậm xuống, hoặc thấy giậm sai nhịp chân của phân đội phải đổi chân ngay.
- Động tác đổi chân thực hiện ba cử động:
+ Cử động 1: Chân trái giậm tiếp một bước.
+ Cử động 2: Chân phải giậm liên tiếp 2 bước (tại chổ), hai tay giữ nguyên.
+ Cử động 3: Chân trái giậm xuống, rồi tiếp tục giậm chân theo nhịp thống nhất.
VI. Động tác giậm chân, đứng lại, đổi chân trong khi đang giậm chân:
1. Động tác giậm chân:
a. Ý nghĩa:
- Động tác giậm chân để điều chỉnh đội hình trong khi đi được nhanh chóng trật tự.
b. Khẩu lệnh: “Giậm chân…Giậm”
c. Động tác: Nghe dứt động lệnh giậm thực hiện hai cử động:
+ Cử động 1: Chân trái nhấc lên, mũi bàn chân thả lỏng tự nhiên, cách mặt đất 20 cm, tay phải đánh ra phía trước, tay trái đánh về sau như khi đi đều.
+ Cử động 2: Chân trái giậm xuống, chân phải nhấc lên, tay trái đánh lên, tay phải đánh về sau. Cứ như vậy chân nọ tay kia phối hợp nhịp nhàng giậm chân tại chỗ với tốc độ 100 bước/phút.
2. Động tác đứng lại:
- Khẩu lệnh: Đứng lại… Đứng”
- Khi đang giậm người chỉ huy hô dư lệnh và động lệnh đều rơi vào chân phải.
- Nghe dứt động lệnh thực hiện hai cử động:
+ Cử động 1: Chân trái giậm xuống, bàn chân đặt chếch sang trái một góc 22030, chân phải nhấc lên.
+ Cử động 2: Chân phải đặt xuống để hai gót chân đặt sát nhau. Đồng thời hai tay đưa về thành tư thế nghiêm.
3. Động tác đổi chân khi đang giậm chân:
- Động tác đổi chân khi đang giậm chân để thống nhất nhịp chung trong phân đội hoặc theo tiếng hô của người chỉ huy.
- Trường khi đang giậm chân, nghe tiếng hô củ người chỉ huy: “Một khi chân phải giậm xuống, “Hai” khi chân trái giậm xuống, hoặc thấy giậm sai chân trong phân đội thì đổi chân ngay.
- Động tác đổi chân thực hiện 3 cử động:
+ Cử động 1: Chân trái giậm tiếp 1 bước.
+ Cử động 2: Chân phải giậm liên tiếp hai bước (tại chổ) hai tay giữ nguyên.
+ Cử động 3: Chân trái giậm xuống, rồi tiếp tục giậm chân theo nhịp thống nhất.
VII. Động tác giậm chân chuyển thành đi đều và ngược lại:
1. Động tác giậm chân chuyển thành đi đều và ngược lại:
- Khẩu lệnh: “Đi đều …bước”, người chỉ huy động lệnh và dự lệnh khi chân phải giậm xuống.
- Đang giậm chân, nghe dứt động lệnh “Bước”, chân trái bước lên chuyển thành động tác đi đều.
2. Động tác đang đi đều chuyển thành giậm chân:
- Khẩu lệnh: “Giậm chân… Giậm”, người chỉ huy hô dự lệnh “Giậm chân” và động lệnh “Giậm” khi chân phải bước xuống.
- Khi đang đi đều, nghe dứt động lệnh “giậm”, chân trái bước lên một bước rồi dừng lại, chân phải nhấc lên, mũi bàn chân cách mặt đất 20 cm rồi đặt xuống. Cứ như vậy chân nọ tay kia phối hợp nhịp nhàng giậm chân tại chổ theo nhịp thống nhất.
VIII. Động tác tiến, lùi, qua phải, qua trái:
* Ý nghĩa: Động tác tiến, lùi, qua phải, qua trái
1. Tiến, lùi:
- Khẩu lệnh: “Tiến (lùi) X bước – Bước”
- Khi tiến: Nghe dứt động lệnh “bước”, chân tái bước lên cách chân phải 60cm. cứ như vậy, hai chân bước tiến đủ số bước thì chân phải (trái) bước lên thành tư thế nghiêm.
- Khi lùi: Nghe dứt động lệnh “bước”, chân trái lùi một bước về sau cách chân phải 60 cm, thân trên vẫn ở tư thế nghiêm, chân phải lùi tiếp cách chân trái 60 cm. Cứ như vậy 2 chân bước lùi đủ số bước thì chân phải (trái) đưa về thành tư thế nghiêm.
2. Qua phải, qua trái:
- Khẩu lệnh: “Qua phải (trái) X bước – Bước”
- Động tác: Nghe dứt động lệnh “bước”, chân phải (trái) bước sang phải (trái) mỗi bước rộng bằng vai (tính từ mép ngoài của hai bàn chân), sau đó chân trái (phải) đưa về thành tư thế nghiêm rồi tiếp tục bước, bước đủ số bước qui định thì đứng lại về thành tư thế đứng nghiêm.
IX. Động tác ngồi xuống, đứng dậy:
* Ý nghĩa: Động tác ngồi xuống vận dụng để học tập, nghe nói chuyện ở ngoài bãi tập được trật tự thống nhất.
1. Ngồi xuống:
- Khẩu lệnh: “ngồi xuống”.
- Động tác: Nghe dứt động lệnh ngồi xuống, thực hiện hai cử động:
+ Cử động 1: Chân phải bước chéo qua chân trái, gót chân phải đặt ngang ½ chân trái.
+ Cử động hai: Người từ từ ngồi xuống, hai chân chéo nhau hoặc để rộng bằng vai, hai tay cong tự nhiên, hai khuỷu tay đặt trên hai đầu gối, bàn tay trái nắm cổ tay phải, khi mỏi thì đổi tay.
2. Đứng dậy:
- Khẩu lệnh: “Đứng dậy”
- Động tác: Nghe dứt động lệnh “đứng dậy”, thực hiện hai cử động:
+ Cử động 1: Hai chân bắt chéo nhau như khi ngồi xuống, hai tay nắm lại chống xuống đất (mu bàn tay hướng về trước) cổ tay thẳng, phối hợp hai chân đẩy người đứng dậy.
+ Cử động 2: Chân phải đưa về sát gót chân trái thành tư thế nghiêm.




















Bài 4:

ĐỘI NGŨ ĐƠN VỊ

A. Mục đích yêu cầu:
- Hiểu được ý nghĩa, thứ tự động tác tập hợp các đội hình cơ bản của tiểu đội, trung đội.
- Biết điều khiển (chỉ huy) tập hợp các đội hình cơ bản của tiểu đội, trung đội, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, khẩn trương nghiêm túc.
- Có ý thức tổ chức kỉ luật, Tự giác chấp hành điều lệnh và nội qui của nhà trường.
B. Thiết kế dạy và học:

Phương Pháp
Nội Dung

I. Đội ngũ tiểu đội:
1. Đội hình tiểu đội hàng ngang:
a. Đội hình tiểu đội 1 hàng ngang:
- Ý nghĩa: Đội hình triểu đội 1 hàng ngang thường dùng trong học tập, sinh hoạt, hạ mệnh lệnh, kiểm tra quân số, khám súng, giá súng…
- Động tác: Trình tự tập hợp đội hình tiểu đội 1 hàng ngang gồm bốn bước: Tập hợp đội hình, điểm số, chỉnh đốn hàng ngũ, giải tán.
* Bước 1: Tập hợp đội hình
+ Khẩu lệnh: “Tiểu đội X thành 1 hàng ngang … tập hợp”
+ Động tác của tiểu đội trưởng và các chiến sĩ:
• Tiểu đội trưởng: Xác định vị trí tập hợp, hướng tập hợp, sau đó quay mặt về hướng các chiến sĩ.
• Chiến sĩ: Khi nghe khẩu lệnh “tiểu đội X”, toàn tiểu đội quay mặt về phía tiểu đôi trưởng, đứng nghiêm sẵn sàng nhận lệnh
• Tiểu đội trưởng: khi thấy toàn tiểu đội đã đứng nghiêm sẵn sàng nhận lệnh, tiểu đội trưởng hô tiếp “thành 1 hàng ngang … tập hợp”, rồi quay về hướng định tập hợp, đứng nghiêm làm chuẩn cho các chiến sĩ vào tập hợp.
• Chiến sĩ: Khi nghe dứt động lệnh “tập hợp” các chiến sĩ im lặng, nhanh chóng chạy vào vị trí tập hợp đứng bên trái tiểu đội trưởng thành một hàng ngang, đứng đúng giãn cách qui định (giãn cách giữa hai người đứng cạnh nhau là 70 cm) tự động giống hàng, xong đứng nghỉ.
• Tiểu đội trưởng: Khi thấy có 2-3 chiến sĩ đứng vào vị trí bên trái mình, tiểu đội trưởng đi đều về phía trước chính giữa đội hình, cách đội hình 3-5 bước thì đứng lại, quay vào đội hình đôn đốc tập hợp.
* Bước 2: Điểm số
- Khẩu lệnh: “Điểm số”.
- Động tác của tiểu đội trưởng và các chiến sĩ:
• Tiểu đội trưởng: Khi thấy các chiến sĩ đã đứng vào vị trí tập hợp, tại vị trí chỉ huy, tiểu đội trưởng hô khẩu lệnh “điểm số”.
• Chiến sĩ: Nghe dứt động lệnh “điểm số” từng chiến sĩ theo thứ tự từ bên phải sang bên trái trở về tư thế nghiêm, hô rõ số của mình, đồng thời quay mặt sang bên trái 450, khi điểm số xong quay mặt trở lại. Lần lượt điểm số từ một cho đến hết tiểu đội. Người đứng cuối cùng của hàng, khi điểm số không cần phải quay mặt, sau khi điểm số xong thì hô “Hết”.
* Bước 3: Chỉnh đốn hàng ngũ
- Khẩu lệnh: “Nhìn bên phải (trái) – thẳng”.
- Động tác của tiểu đội trưởng và các chiến sĩ:
• Tiểu đội trưởng: Trước khi chỉnh đốn hàng ngũ, tiểu đội trưởng phải hô cho các chiến sĩ trong hàng đứng nghiêm.Khi thấy các chiến sĩ đã đứng nghiêm sẵn sàng nhận lệnh, tiểu đội trưởng hô tiếp “nhìn bên phải (trái) – thẳng”.
• Chiến sĩ: Nghe dứt động lệnh “thẳng” trừ chiến sĩ làm chuẩn vẫn nhìn thẳng, các chiến sĩ còn lại quay mặt sang phải (trái), xê dịch lên xuống để gióng hàng.
• Tiểu đội trÆ
 
Gửi ý kiến