Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ĐỜI SỐNG CÁC LOÀI CHIM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:33' 18-03-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
ĐỜI SỐNG CÁC LOÀI CHIM
Võ Quý
Nhà xuất bản KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT Hà Nội – 1978

MỤC LỤC
Lời nói đầu
1. Chim có những đặc điểm gì ?
2. Một giai đoạn lịch sử của Trái đất
3. Sự phân bố của chim trên thế giới
4. Bộ lông kỳ diệu
5. Mắt chim
6. Mũi chim có thính không ?
7. Chim cũng có tai
8. Sự vận chuyển của chim
9. Nhịp sống trong ngày
10. Tuổi thọ của các loài chim
11. Thức ăn của chim
12. Có bao nhiêu chim trên thế giới ?
13. Mùa sinh sản của chim
14. Vùng làm tổ
15. Kết đôi và khoe mẽ
16. Tổ chim
17. Trứng và chim non
18. Bản năng và "trí khôn" của chim
19. Ngôn ngữ của các loài chim
20. Mùa đông chim bay đi đâu ?
21. Nguồn gốc của hiện tượng di cư
22. Những tai nạn trên đường di cư
23. Nghiên cứu đường bay
24. Một vài "kiện tướng" di cư
25. Ðộ cao lúc bay di cư
26. Những bí ẩn của di cư
27. Con người với các loài chim

LỜI NÓI ĐẦU
Chim có ở khắp mọi nơi trên Trái đất chúng ta, từ vùng địa cực lạnh lẽo đến các rừng rậm âm u, từ biển
rộng bao la đến các đỉnh núi cao hùng vĩ, từ thành phố náo nhiệt đến các cánh đồng phẳng lặng. Ở đâu
chim cũng làm cho cảnh vật thêm đẹp, thêm vui.
Chúng ta yêu chim vì chim biểu hiện sự nhẹ nhàng thanh cao, sự tự do sảng khoái và cả sự bền bỉ, dẻo dai.
Chim luôn luôn ở quanh ta và gợi cho chúng ta lòng yêu Tổ quốc, yêu quê hương, và chắc chắn rằng một
thế giới không có cánh chim bay hay một mùa xuân không có tiếng chim hót sẽ là một sự thiếu thốn khó bù
đắp được đối với bất kỳ ai trong chúng ta.
Đời sống của các loài chim luôn luôn gần gũi với chúng ta, gợi lên trong chúng ta tình yêu cuộc sống, hơn
nữa trong đời sống của các loài chim lại có nhiều điều lý thú, kỳ lạ hình như vượt cả ra ngoài những quy
luật của tự nhiên làm cho chúng ta phải suy nghĩ.
Viết cuốn sách nhỏ này, chúng tôi hy vọng có thể giúp các bạn hiểu được những nét cơ bản nhất về đời
sống của các loài chim.
Cuốn sách chắc chắn còn nhiều thiếu sót, mong các bạn vui lòng góp ý cho.
Tác giả

1. CHIM CÓ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM GÌ ?
Chim sống khắp nơi trên hành tinh của nhúng ta : từ vùng núi cao đến các địa cực giá lạnh, từ vùng đồng
bằng đến các rừng sâu, từ các thành thị đông đúc cho đến các đại dương bao la. Một số loài chim còn thâm
nhập cả vào các vương quốc của cá và lặn sâu đến vài ba chục mét. Trong tất cả các động vật bậc cao,
chim là những động vật đẹp nhất, có tiếng hót hay nhất, được nhiều người ưa thích nhất và đồng thời cũng
cần được bảo vệ nhất. Chim được mọi người biết đến nhưng định nghĩa chim thế nào cho đúng cũng còn có
điều cần bàn cãi.
Khoảng 100 năm trước đây nhà tự nhiên học nổi tiếng người Anh là Tômat Hecxơli đã gọi chim là "những
con bò sát treo trên không trung". Cách định nghĩa như vậy e có phần nào xúc phạm đến những loài chim
khôn ngoan như vẹt, sáo, nhưng thật ra Hecxơli gọi chim như vậy cũng không phải là quá lời. Chim có khá
nhiều đặc điểm giống bò sát. Tuy nhiên chim cũng có những đặc điểm riêng biệt khác với tất cả các nhóm
động vật khác. Chim có bộ lông vũ và có đôi cánh kỳ diệu đã giúp chim chiếm lĩnh được bầu trời.
Chim là nhóm động vật tương đối đồng nhất trong giới động vật. Tuy có loại bay giỏi, có loài không biết
bay, có loài sống ở nước, có loài sống trên mặt đất, loài rất lớn, loài rất bé, nhưng tất cả đều có cùng một
sơ đồ cấu trúc : bộ xương chắc, xốp và nhẹ, hàm không có răng nhưng có mỏ sừng, hai chi trước biến thành
cánh, đi bằng hai chân, thân phủ lông vũ, tim có 4 ngăn, máu động mạch và máu tĩnh mạch riêng biệt, bán
cầu não và các giác quan, nhất là thị giác và thính giác rất phát triển.
Một cách ngắn gọn ta có thể nói : chim là những động vật có xương sống đi bằng hai chân, có bộ lông vũ
và hai chi trước biến thành cánh.
Về mặt sinh học thì chim có hai đặc điểm chủ yếu : một mặt là tính mãnh liệt của sự trao đổi chất trong cơ
thể, tính mãnh liệt của các hoạt động sống và mặt khác là sự di chuyển của chim trong không khí bằng cách
bay. Chính hai đặc điểm này đã chi phối tất cả các đặc điểm sinh học của chim và cũng vì chính hai đặc
điểm này mà chim khác với các động vật có xương sống khác.
Để bay được trong không khí, các cơ cánh phải hoạt động mạnh, do đó hàng ngày chim phải tiêu hao rất
nhiều năng lượng, sự trao đổi chất trong cơ thể chim xảy ra mãnh liệt, nhiệt độ cơ thể cố định và cao (37o8
- 45o5 C.). Tuy phổi chim không lớn nhưng nhờ có hệ thống túi khí và nhờ cách hô hấp kép (nghĩa là cả lúc
hít vào và thở ra, không khí đều đi qua phổi và đều có trao đổi khí : lần thở vào, không khí từ phía ngoài,
qua phổi rồi vào túi khí và lần thở ra, không khí từ túi khí qua phổi đi ra ngoài), mà chim được cung cấp
đầy đủ oxy. Mặt khác, do sự tiêu hao nhiều năng lượng mà chim cần rất nhiều thức ăn. Quá trình tiêu hóa
thức ăn biến diễn rất nhanh chóng, như các loài chim ăn côn trùng, mỗi ngày phải ăn đầy dạ dầy 5-6 lần
mới đủ sống. Lượng thức ăn khô cần cho chim hàng ngày là 12-28% trọng lượng toàn cơ thể. Đối với chim
non, lượng thức ăn cần thiết còn cao hơn nhiều, vì thế mà chim non lớn rất nhanh.
Về mặt sinh sản, chim đẻ trứng tương tự như bò sát, nhưng sinh học sinh sản của chim thì phức tạp hơn bò
sát nhiều.
Ngoài ra chim còn có nhiều tập tính kỳ lạ, lý thú mà không thấy có ở các nhóm động vật khác.

2. MỘT GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ CỦA TRÁI ĐẤT
Nếu như sự sống xuất hiện trên Trái đất vào khoảng ba tỷ rưỡi năm, theo như những tài liệu mới nhất hiện
nay, thì chim chỉ là nhóm động vật sinh sau đẻ muộn. Trong quá trình tiến hóa của sinh vật, các loại chim
đã được sinh ra từ một nhóm bò sát cổ vào khoảng 200 - 300 triệu năm nay, có lẽ chậm sau các loài thú cổ
ít lâu.
Nhưng tại sao lại có thể xảy ra hiện tượng kỳ lạ là từ những động vật bò sát chậm chạp, nặng nề, sống trên
mặt đất lại có được những đột biến để tạo nên những động vật nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, có khả năng chiếm
lĩnh không trung ?
Đầu tiên có lẽ vào thời ấy nhờ có khí hậu thuận lợi, thực vật phát triển, nhiều cây có hoa xuất hiện lôi kéo
theo cả sự phát triển của côn trùng. Nhiều động vật ăn côn trùng lúc bấy giờ cũng phải có những thích nghi
mới để bắt được những con mồi đã biết bay. Nhiều loài ếch nhái đã nhảy được khá nhanh, một số loài thằn
lằn có động tác nhanh nhẹn và chính xác hay có lưỡi dài với đầu lưỡi có chất dính, có thể phóng ra xa bắt
lấy con mồi. Một nhóm thằn lằn khác sống ở trên cây đã có những thích nghi mới, hơn hẳn các loài kia để
bắt được côn trùng. Chúng không chịu bò từ cành này đến cành kia một cách chậm chạp mà đã có cách di
chuyển nhanh hơn là nhảy từ cành này qua cành kia để đuổi con mồi. Ban đầu chúng chỉ nhảy qua được
những khoảng ngắn, sau đó bước nhảy có thể xa hơn nhờ các vẩy ở cạnh sau của chân trước và ở hai bên
sườn phát triển tạo nên được mặt phẳng rộng để đỡ không khí. Tiếp đến là các vẩy biến thành lông vũ như
lông chim. Bằng cách như vậy, với thời gian, đời này qua đời kia, có lẽ phải trải qua hàng triệu năm, đôi
cánh mới xuất hiện và loài bò sát cổ đã biến thành chim.
H.1. Thằn lằn cổ sống trên cây. Phải chăng đây là bước đầu tiên trên con đường bò sát tiến hóa thành chim.
Hiện nay vì thiếu những tài liệu về cổ sinh vật nên khó mà xác định được chim đã tách khỏi bò sát vào thời
gian nào. Hóa thạch đầu tiên của loài chim cổ nhất (cổ điểu) được phát hiện vào năm 1861 ở kỷ Jura
(khoảng 150 triệu năm trước đây) thuộc vùng Bavi nước Đức và sau đó ít lâu vào năm 1877 lại phát hiện
được mẫu thứ hai và mãi gần đây, năm 1956 mới phát hiện thêm được mẫu thứ ba. Lúc đầu các nhà sinh
học chưa thống nhất về vị trí phân loại của các hóa thạch này. Một số người cho đây là chim thực thụ vì có
bộ lông vũ, có cánh và các chi sau điển hình của chim ; một số người khác lại xếp các mẫu hóa thạch này
vào nhóm bò sát vì ở hàm còn có răng như răng thằn lằn, đuôi không phải là hình phao câu mà có 20 đốt
xương dài và ở chi trước còn có 3 ngón có móng sừng. Nhưng rồi các nhà khoa học đã đặt tên cho các hóa
thạch đó là cổ điểu - chim cổ (Archeopteryx) có nghĩa là họ đã thống nhất xếp chúng vào nhóm chim, tuy
nhiên cổ điểu còn có nhiều đặc điểm của bò sát. Theo cấu tạo thì cổ điểu có đời sống trên cây, nhưng chưa
có khả năng bay thực sự, mà chỉ mới lượn được từ trên cao xuống như kiểu sóc bay, còn muốn lên cao lại
phải trèo nhờ cánh có ngón để bám vào vách đá hay cành cây. Chúng ta cũng có thể hình dung được một
cách dễ dàng là 3 mẫu cổ điểu tìm thấy trên đã chết trong trường hợp nào mà còn giữ được tương đối
nguyên vẹn toàn thân. Có lẽ chúng đã bị kẻ thù ăn thịt nào đó đuổi bắt và không may đã bị rơi vào bùn mà
không thoát ra được. Với thời gian, xác của chúng đã hóa đá. Không còn nghi ngờ gì nữa, các cổ điểu tìm
thấy trên là gạch nối quan trọng giữa hai lớp động vật : bò sát và chim và đã cung cấp những dấu hiệu quý
giá về lịch sử tiến hóa của sinh vật. Chúng cũng đã nói lên rằng chim bắt đầu bay bằng kiểu lượn từ trên
xuống chứ không phải nhảy từ mặt đất lên.
H.2. Tổ tiên của chim cổ.
Một điều đáng chú ý là hiện nay còn có một loài chim còn giữ lại một số nét của cổ điểu. Đó là loại hoaxin

(Opisthocomus hoazin) sống ở các rừng ngập nước nhiệt đới, vùng Amazon, Nam Mỹ, có họ hàng gần với
gà. Chim non nở ra chỉ có một ít lông tơ phủ thân nhưng đã trèo được trên cành cây một cách vững vàng
nhờ chân, mỏ và cánh có 2 ngón phát triển và có móng sắc. Thỉnh thoảng chim non của hoaxin cũng có thể
trượt ngã xuống nước, nhưng không hề gì. Nó có thể bơi khá giỏi và còn lặn được nữa, trong lúc đó chim
hoaxin trưởng thành lại mất khả năng bơi, lặn và thậm chí cũng không biết trèo vì móng của các ngón ở
cánh đã rụng mất.
H.4. Chim hoaxin.
Tổ tiên của cổ điểu như thế nào thì hiện nay chưa ai biết rõ, nhưng tiếp sau cổ điểu nhiều hóa thạch mới
hơn đã được tìm thấy và càng về sau càng có nhiều đặc điểm gần với chim hiện đại hơn. Sau cổ điểu
khoảng 50 triệu năm hay cách ngày nay khoảng 100 triệu năm chim đã khá tiến bộ, nhiều loài chim đã bay
rất giỏi, có loài đã thích nghi được với đời sống ở nước và bơi lặn giỏi, tuy nhiên ở mỏ của chúng còn có
dấu vết của răng. Từ khi được hình thành, chim phát triển rất nhanh chóng, thích nghi được với nhiều điều
kiện sống khác nhau trên Trái đất và vào đầu kỷ đệ tam, tức là khoảng 50 - 60 triệu năm trước đây chim đã
rất đa dạng và hầu như đã có đủ đại diện của các nhóm chim như ngày nay. Ðến cuối kỷ đệ tam, khoảng 2 3 triệu năm trước đây là thời kỳ chim phong phú nhất và có số loài nhiều nhất, ước tính được khoảng
11.600 loài, nhiều hơn ngày nay khoảng một phần ba.
H.3. Hóa thạch chim cổ.
Sau đó ít lâu đến thời đại plâytôxen, trong khoảng thời gian một vài triệu năm, tất cả các sinh vật trên Trái
đất phải trải qua một cuộc thử thách khá nặng nề và nhiều loài đã không chịu đựng nổi trong đợt thử thách
đó. Đợt băng hà này xuất hiện tiếp nối đợt băng hà kia làm cho khí hậu trên Trái đất lúc bấy giờ thay đổi
đột ngột, lúc nóng, lúc lạnh. Những tảng băng khổng lồ đã tiêu hủy nhiều cây cối và tất nhiên cả các loài
chim và nhiều động vật khác sống trong đó cũng bị tuyệt diệt.
Tổng số các loài chim hiện nay đang sống trên Trái đất là 8580 với sai số khoảng vài chục loài, tuỳ theo
quan niệm phân loại. Số loài chim bị tuyệt diệt đã được mô tả theo dấu vết hóa thạch của chúng mới chỉ có
khoảng 800, nghĩa là chưa đầy 10% tổng số loài đang sống. Những con số trên còn xa mới biểu hiện được
tổng số loài chim đã được hình thành trong khoảng 150 triệu năm lịch sử từ khi xuất hiện cổ điểu đến nay.
Điều đó cũng rất dễ hiểu vì xương chim, vừa rỗng vừa giòn - không được cứng như vỏ trai, vỏ ốc hay
xương thú và bò sát nên rất khó mà bảo tồn được. Con đường phát triển từ cổ điểu cho đến các loài chim
ngày nay đã phải bước qua biết bao nhiêu đổi thay. Một số loài này được hình thành, sinh sống trong một
thời gian, và trước lúc chết đi lại là cơ sở để hình thành nên những loài mới có nhiều đặc điểm tiến bộ hơn
và thích nghi hơn với những điều kiện sống mới cũng luôn luôn thay đổi. Các nhà sinh học thường dùng
thuật ngữ "thích nghi tỏa tròn" hay "thích nghi phóng xạ" để nói lên hiện tượng đó. Với nghĩa tiến hóa, thuật
ngữ đó có nghĩa là các hậu thế của một loài động vật nào đó có thể thích nghi với các điều kiện sống khác
nhau và các phương thức sống khác nhau. Kết quả là chúng đã tỏa ra, tạo nên nhiều dạng khác nhau và khác
với cả tổ tiên chúng. Bằng cách thích nghi như vậy, con cháu của cổ điểu, từ chiếc nôi đầu tiên là rừng đã
tỏa ra khắp nơi, thích nghi với những điều kiện sống mới khác nhau và đã hình thành nên hàng triệu loài
khác nhau. Mới đây Bơrôtkor sử dụng mọi thành quả của cổ sinh học hiện đại đã ước tính được tổng số
các loài chim, con cháu của cổ điểu, kể cả những loài đã bị tuyệt diệt và những loài còn sống là khoảng
1.650.000 loài. Như vậy thì số loài chim hiện nay đang cư trú trên Trái đất chỉ chiếm một phần rất nhỏ
không đầy 1% tổng số. Sự tiến hóa của sinh vật là quá trình biến đổi không ngừng. Ta có thể minh họa quá
trình tiến hóa đó của các loài chim cũng như của các loài động vật khác như một cây cổ thụ có nhiều cành
lá sum suê được gọi là cây gia hệ. Trên cây gia hệ những cành nhỏ nhất đang nẩy lộc, đó là những loài

đang tồn tại, còn những cành đã bị khô héo, chết đi là những loài đã tuyệt diệt. Trên cây gia hệ chim, tất cả
8580 loài hiện đại đang sống tương ứng vớl chừng ấy cành nhỏ nhất đang phát triển. Mỗl cành là một loài,
nghĩa là một nhóm cá thể, mà các nhà sinh học gọi là quần thể, có cấu tạo giống như nhau, cùng sinh sống
trong những điều kiện như nhau, cùng có khả năng giao phối với nhau để tạo ra hậu thế giống như mình và
về mặt sinh sản lại hoàn toàn cách biệt vớl các loài khác. Cây gia hệ còn diễn tả cả mối liên hệ họ hàng
giữa các loài. Những loài gần nhau nghĩa là cùng một nguồn gốc họp thành một giống, cũng như nhiều cành
con được sinh ra từ một cành lớn hơn. Nhiều giống gần nhau lại họp thành một họ, rồi nhiều họ thành một
bộ và tất cả các bộ thành lớp chim. Các nhà nghiên cứu chim đã chia lớp chim thành 40 bộ và 155 họ.

3. SỰ PHÂN BỐ CỦA CHIM TRÊN THẾ GIỚI
Có thể nói rằng không có một vùng nhỏ nào trên thế giới dù đó là vùng đất khô cằn hay nơi ngập nước lại
vắng bóng các loài chim, có chăng chỉ còn vài nơi ở châu Nam cực là chưa có cánh chim lướt qua. Chim
là nhóm "động vật toàn cầu" - đúng với nghĩa của nó.
Nhìn chung trên mặt đất, chỗ nào cũng có chim nhưng chúng phân bố không đều. Phần lớn các loài tập
trung ở vùng nhiệt đới, nhất là vùng rừng nhiệt đới, nơi có điều kiện sống thuận lợi nhất. Càng đi xa về
phương bắc và phương nam, số loài càng giảm dần và ở hai địa cực là chỗ có số loài chim ít nhất. Ở Bắc
cực người ta cũng đã gặp 4 loài chim và ngay cả sát Nam cực, nơi có khí hậu khắc nghiệt nhất, các nhà
thám hiểm cũng đã thấy có một loài nhàn biển bay qua. Ở các mỏm đá trồi lên giữa những tảng băng, nằm
sâu trong châu Nam cực, các nhà khoa học đã tìm thấy hai loài nhàn biển làm tổ. Nhiều tập đoàn chim cánh
cụt cũng sinh sống ở đây. Trên toàn châu Nam cực có 16 loài chim làm tổ, tất cả đều là chim biển, và nếu
kể cả toàn vùng, trong đó có cả các đảo lân cận thì danh sách các loài chim ở đây lên đến con số gần 50.
Các vùng đại dương cũng là những vùng nghèo nàn nhất về số loài chim. Ở đây rất ít gặp hay có chỗ hoàn
toàn không có chim lục địa, nhất là những đảo ở xa đất liền. Nếu ta đi về phương đông, qua các quần đảo
rải rác ở Thái bình dương thì thấy rất rõ là số loài chim có quê hương từ lục địa ít dần : Xôlômông - 127
loài, Tân Calêđôni - 77 loài, Phigi - 54 loài, Xamoa - 33 loài, Xôxiêti - 17 loại, Mackiđa - 11 loài, và
Estơ là đảo xa nhất hoàn toàn không có loài chim lục địa nào cả. Ở nước ta trên quần đảo Hoàng Sa, tuy
diện tích nhỏ nhưng cũng có khoảng 10 loài chim, trong đó có vài loài có gốc từ đất liền.
H.5. Bản đồ phân bố chim trên thế giới.
Các loài chim sinh sống ở những vùng rất nghèo chim, phần lớn là những loài đặc trưng, nghĩa là những
loài rất thích nghi với điều kiện sống khó khăn ở đó và thường là những loài có số lượng cá thể rất nhiều.
Chúng tập trung có khi đến hàng triệu con, trên một diện tích bé nhỏ, con này đậu sát con kia mà ta thường
gọi là chợ chim.
Các vùng nghèo chim, có số loài từ 63 - 125 và vùng ít, có số loài từ 125 - 250 đều là những vùng ít nhiều
có những khó khăn đối với đời sống của chim. Có thể đó là do ở cách quá xa lục địa như các vùng đảo,
hay vì quá lạnh hay quá nóng và sinh cảnh đơn điệu như các vùng sa mạc ở châu Phi, châu Mỹ, các dải
rừng taiga, rừng lá kim rộng lớn ở suốt các miền cực bắc của các châu Âu, Á, Mỹ.
Các vùng có số loài chim trung bình với số loài dưới 500 phần lớn là những vùng có khí hậu ôn hòa và có
thực bì kiểu xa van. Một vài vùng bán sa mạc nhiệt đới ở châu Phi, ở Nam Mỹ và châu Úc cũng thuộc vào
loài vùng có số loài chim trung bình. Ta có thể kể một vài vùng điển hình như Taxmania - 255 loài, Tân
Tây lan - 256, Phần lan - 327, Hy lạp - 339, Apganixtan - 341, Irắc - 354, Xây lan - 379, Nhật bản – 425,
Úc – 436, Anh và Aixơlen – 450, Philipin - 450 và Nigiêria – 488 loài.
Vùng có nhiều loài chim, có từ 500 - 1.000 loài là các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới có sinh cảnh đa dạng,
nhất là có những khu rừng rậm rạp ở Đông nam Á, ở châu Úc, châu Phi và châu Mỹ như Bocnêô - 650 loài,
Mã lai - 575, Tân Ghi nê – 650, Miến điện - 953, Gana - 627, Camêrun - 670, Zambia - 674, Rôđêdia 675, Xu đăng – 871, Ăngôla - 875, Mêhicô - 967 loài.
Vùng có rất nhiều loài chim, trên 1.000 loài không nhiều lắm. Đây là những vùng nhiệt đới có những khu
rừng rậm rạp như ở lưu vực sông Côngô ở châu Phi có 1.040 loài, Trung Mỹ từ nam Mêhicô đến Panama 1.190, Vênêduêla - 1282, Êquađo - 1.357 và Bơrêdin - 1.440 loài.

Vùng có nhiều loài chim nhất trên thế giới là Côlômbia ở Trung Mỹ có đến 1.700 loài.
Trên đất nước ta có đến 767 loài chim chiếm khoảng 8% tổng số các loài chim trên thế giới và nước ta
được xếp vào vùng có nhiều loài chim.

4. BỘ LÔNG KỲ DIỆU
Chim bay được trước tiên là nhờ có bộ lông vũ. Cũng cần phải nói thêm rằng, trong giới động vật không
phải chỉ có chim mới biết bay. Ngoài chim ra còn nhiều nhóm động vật biết bay như bướm, ong và có cả
một họ động vật có vú bay giỏi là họ giơi. Xưa kia, hàng trăm triệu năm về trước cũng đã có nhiều loài bò
sát cổ bay giỏi và thậm chí con người ngày nay cũng đã "bay" được nhờ chế tạo được máy bay, tên lửa.
Nhưng bộ lông vũ thì chỉ riêng chim mới có và chính nhờ có bộ lông kỳ diệu đó mà chim đã vượt lên hàng
đầu trong các nhóm động vật biết bay.
Lông vũ đúng là một tác phẩm tuyệt diệu của thiên nhiên. Vừa nhẹ nhàng, vừa mềm mại lại vừa vững bền,
nên lông vũ đã đảm nhiệm được nhiều chức năng phức tạp mà màng da của cánh giơi hay màng mỏng của
cánh côn trùng và cả đôi cánh cứng chắc của máy bay cũng không thể sánh kịp.
Ta hãy quan sát một chiếc lông cánh của bồ câu. Dọc giữa lông là thân lông có phần gốc cứng và rỗng cắm
sâu vào da, còn phần thân lông chính thức lại đặc nhưng xốp và thuôn nhỏ dần về phía mút làm cho cả
chiếc lông vừa vững chắc lại vừa mềm mại. Đặc điểm đó rất cần thiết để chim bay. Hai bên thân lông là
phiến lông rộng mỏng gồm nhiều sợi lông nhỏ ghép sát vào nhau như tàu lá chuối. Lấy tay vuốt ngược lông,
phiến lông bị rách nát, nhưng ta hãy kẹp phiến lông giữa hai ngón tay rồi vuốt xuôi từ gốc ra như thể chim
dùng mỏ để chải lông thì phiến lông trở lại lành lặn, phẳng phiu, bóng bẩy như không hề bị rách nát lần nào
cả. Ấy là do phiến lông có cấu tạo rất phức tạp. Muốn thẩy rõ sự cấu tạo đó phải quan sát lông chim dưới
kính hiển vi. Các sợi lông xếp song song với nhau ở hai bên thân lông để tạo nên phiến lông thực ra không
phải là những sợi đơn giản. Mỗi sợi lông cũng có cấu tạo như một chiếc lông vũ tí hon, cũng có thân của
sợi lông và hai bên thân đó cũng có những sợi nhỏ xếp song song với nhau gọi là tơ lông. Các tơ ở hàng
trên có nhiều móc rất nhỏ, các móc này lần lượt móc vào các tơ ở hàng dưới của sợi phía trên. Với kính
hiển vi ta có thể đếm được hàng trăm nghìn tơ lông và hàng triệu móc lông trên một chiếc lông. Khi vuốt
ngược lông, các móc lông tuột ra khỏi các tơ lông của sợi lông kề trên, nhưng khi vuốt xuôi các móc lông
lại ngoắc vào đúng vị trí cũ làm cho lông trở lại lành lặn. Chính nhờ cấu tạo phức tạp đó mà lông chim vừa
nhẹ, vừa vững lại vừa bền. Các lông càng tham gia nhiều vào hoạt động bay như lông cánh và lông đuôi thì
số móc lông càng nhiều và lông càng vững chắc còn ở các lông khác số tơ lông và móc lông thưa hơn
nhiều.
H.6. Lông ống - loại lông mọc ở cánh và đuôi chim, và một phần nhỏ của lông nhìn dưới kính hiển vi.
Bộ lông vũ của chim đảm nhiệm nhiều chức phận khác nhau. Không những nó tạo nên diện rộng ở cánh vả
đuôi để đỡ không khí lúc bay mà còn bảo vệ cho chim khỏi mưa nắng và là bộ áo ấm giữ cho nhiệt của cơ
thể không bị tỏa ra nhanh chóng. Trên cơ thể chim có rất nhiều loại lông khác nhau, tuy nhiên ta có thể phân
biệt 4 loại lông chính. Loại lông có số lượng nhiều nhất là lông bao, phủ toàn thân chim, tạo nên hình thuôn
tròn của cơ thể để giảm được sức cản của không khí lúc bay, đồng thời giữ cho nhiệt độ của cơ thể luôn ở
mức trung bình là 40,4oC. Phía trong các lông bao, sát với da có một loại lông rất mềm, xốp như bông gọi
là lông bông. Lông bông giúp cho bộ lông thêm ấm vì vậy mà các loài chim ở xứ lạnh có rất nhiều lông
bông và đối với từng loài, về mùa đông số lông bông cũng nhiều hơn về mùa hè. Giữa hai loại lông trên ở
cơ thể chim còn có một loại lông rất mảnh hình tơ, mọc ở gốc các lông bao gọi là lông tơ. Lông này chỉ có
chức phận cảm giác. Các lông mọc ở cánh và đuôi có phiến rộng và chắc, là loại lông ống. Ở các loài cú
ăn đêm là những loài chim ăn động vật mà chủ yếu là chuột, có cơ quan giảm âm hình lược ở mép của
phiến lông ống nên khi bay không phát ra một tiếng động nhỏ nào, giúp cho chim bắt mồi được dễ dàng.
Ngoài 4 loại lông trên ở chim còn có lông mép, mọc ở mép mỏ là loại lông chỉ có thân lông mà không có
phiến lông. Ở nhóm cò, vạc còn có một loại lông hình bột rất mịn tập trung thành đám ở trước ngực hay

trên hông mà chim dùng chải lên lông để chống thấm nước.
H.7. Các loại lông chim
Chim có bao nhiêu lông ? Đây là một câu hỏi mà ít người chú ý đến. Tuy nhiên cũng có nhiều nhà khoa học
đã chịu khó đếm số lông của một vài loài chim. Về nguyên tắc mà nói thì chim càng lớn số lông càng
nhiều. Người ta đã đếm được số lông của gà là 8.325, của thiên nga là 25.216 trong đó 80% là lông ở cổ
và đầu vì lông ở đây rất bé mà lại mọc rất sít nhau. Ai đã từng vặt lông gà, vịt cũng đều thấy rõ điều đó.
Chim ruồi ở Châu Mỹ là loài chim bé nhất, có số lông ít nhất là 940, nhưng nếu ta so mật độ trên một đơn
vị diện tích thì chim ruồi có mật độ lông cao hơn thiên nga. Các loài chim thuộc bộ Sẻ có cỡ nhỏ và trung
bình như sẻ, chào mào, bách thanh, sáo, vv..., có số lông thay đổi từ 1.100 đến 4.600. Số lông cũng có thể
thay đổi chút ít theo mùa. Chim sẻ về mùa đông có khoảng 3.550 lông nhưng về mùa hè số lông ít hơn
khoảng 400 chiếc.
Bộ lông rất quan trọng đối với chim, vì vậy mà chim luôn luôn lo lắng chăm sóc bộ lông của mình khỏi bị
mòn hay bị rách nát. Ở phần lớn các loài chim, phía trên phao câu có tuyến đặc biệt gọi là tuyến phao câu.
Thường ngày chim dùng mỏ ấn vào tuyến để chất mỡ nhầy trong tuyến chảy ra. Chim dùng chất mỡ đó để
chải lông cho trơn. Trong chất mỡ của tuyến còn có chất tiền vitamin D. Chất này mỗi khi được chải lên
lông và phơi ra ánh nắng sẽ biến thành vitamin D. Khi chải lông, chim đã nuốt một phần vitamin đó vào cơ
thể. Ở một số loài chim không có tuyến phao câu thì bộ lông được chải bằng lông bột.
Dù chăm sóc tốt mấy đi chăng nữa, sau một thời gian bộ lông cũng bị mòn hay hư hỏng ít nhiều, vì vậy mà
hàng năm chim thay toàn bộ lông một lần, thường là sau mùa sinh sản. Sự thay lông thường diễn ra theo
một thứ tự nhất định, từ đuôi lên đầu, dần dần và cân đối, do đó mà trong lúc thay lông chim vẫn không mất
khả năng bay. Ở một số loài như vịt, ngỗng và vài loài chim ở nước khác như gà đồng, tất cả lông cánh và
đuôi cùng thay một lúc. Chúng mất khả năng bay một thời gian nhưng vẫn đảm bảo được việc kiếm ăn và
không bị kẻ thù sát hại vì chúng sống ở các vực nước lớn. Cũng có một vài trường hợp hãn hữu như chim
cánh cụt thì tất cả lông đều rụng cùng một lúc do các lông non ở dưới da đùn lên để thay thế. Vì chim cánh
cụt không bay nên việc thay toàn bộ lông cùng một lúc không gây tai hại gì đáng kể cho chim, nhưng ở một
số loài khác, do ảnh hưởng của cách thay lông như vậy mà chim bị yếu đi rất nhiều. Chim mái của các loài
phượng hoàng đất, và niệc trong thời kỳ ấp trứng hầu như cũng thay toàn bộ lông cùng một lúc. Để bảo đảm
an toàn, lúc bắt đầu ấp trứng nó "buộc" phải bị nhốt vào trong tổ làm trong hốc cây, phía ngoài tổ được vít
kín chỉ trừ một lỗ nhỏ đủ để chim trống tiếp tế thức ăn cho đến lúc đàn con rời tổ. Cũng vì một thời gian
dài bị nhốt, không vận động và một phần bị yếu đi vì thay lông toàn bộ mà lúc ra khỏi tổ nhiều con mái
không bay được và thường bị rơi xuống đất. Ngoài đợt thay lông toàn bộ, ở một số loài còn có một đợt
thay lông thứ hai, chỉ thay một số lông nhất định, chủ yếu là các lông trang hoàng làm cho chim có bộ lông
sặc sỡ hơn trước lúc bước vào mùa sinh sản mà người ta thường gọi là bộ áo cưới của chim.

5. MẮT CHIM
Trong giới động vật có lẽ không có loài nào có được đôi mắt tinh như mắt chim. Đại bằng trọc đầu lặng lẽ
bay lượn cao đến 2 km, kỳ thực là để tìm các xác chết động vật ở mặt đất; diều hâu, diều mướp lượn trên
đồng cỏ để tìm chuột; chim sâu, bạc má quan sát từng kẽ lá, khe vỏ cây để tìm sâu và trứng sâu; cốc đế lặn
sâu dưới nước để bắt cá, tất cả đều cần có đôi mắt thật tinh thì mới phát hiện được con mồi. So với mắt
người thì mắt chim tinh hơn nhiều, như mắt của chim cắt có thể tinh hơn mắt người đến 8 lần. Mắt chim tinh
không phải vì có cấu tạo kiểu "kính viễn vọng" như một số người tưởng mà chính là mắt chim có nhiều tế
bào cảm quang hơn mắt người nhiều. Ở đáy mắt của chim cắt có đến 1,5 triệu rưỡi tế bào cảm quang trong
lúc đó ở đáy mắt của người, trên vùng tương ứng chỉ có 200 nghìn tế bào cảm quang. Chính vì vậy mà hình
của một con thỏ in lên đáy mắt người chỉ là một hình thô, lờ mờ, trong lúc đó hình con thỏ in lên đáy mắt
của chim cắt là một hình rất rõ ràng. Cùng một con thỏ, ở độ xa như nhau, người ta chỉ thấy được một cách
đại khái còn chim cắt thì thấy rất rõ.
H.8. Mắt người và hình con thỏ in ở đáy mắt.
H.9. Mắt chim và hình con thỏ in ở đáy mắt.
Khác với mắt người, mắt chim còn có một cơ quan đặc biệt là cơ quan lược, có nhiều mạch máu dùng để
cung cấp thêm máu cho mắt. Cơ quan lược còn làm giảm bóng mờ ở đáy mắt giúp chim nhận thấy được
những vật chuyển động ở rất xa.
Mắt chim có kích thước rất lớn. Nhiều loài chim có mắt lớn hơn cả khối não. Mắt của đại bàng và của dù
dì lớn bằng mắt người trong lúc đó trọng lượng của đại bàng và của dù dì chỉ bằng 1/10 trọng lượng của
người, còn mắt của đà điểu châu Phi, lớn gần bằng quả cam với đường kính khoảng 5 cm.
Chim không những phân biệt được các vật rõ hơn người mà còn nhìn thấy được các vật ở khoảng cách rất
xa mà chúng ta khó tưởng tượng được. Chim cắt có thể nhìn rõ con chuột ở khoảng cách trên 1.000 mét,
còn đà điểu thì phân biệt được kẻ thù ở khoảng cách 5 - 7.000 mét, vì vậy mà một số loài thú ăn cỏ như
ngựa vằn, sơn dương thường kiếm ăn quanh quẩn gần đà điểu lợi dụng đà điểu như vật canh gác bảo vệ
cho mình. Chim không những có thể nhìn thấy vật ở xa mà còn có khả năng nhìn thấy vật rất gần nhờ sự
điều chỉnh một cách rất nhanh chóng thủy tinh thể trong mắt. Chỉ trong nháy mắt thủy tinh thể của mắt chim
đã có thể chuyển từ dạng hơi dẹt thành dạng gần hình cầu để có thể thấy được rõ vật ngay ở đầu mỏ mình.
Điều đáng chú ý là mắt chim không những có thể sử dụng như một kính viễn vọng để nhìn rõ vật ở xa và
đồng thời như một kính lúp để nhìn rõ vật nhỏ ở rất gần mà còn có góc nhìn rất rộng.
Khác với mắt người, mắt chim không nằm về phía trước đầu (trừ các loài cú) mà nằm hai bên đầu và hơi
lồi ra phía ngoài, vì vậy mà mỗi mắt có góc nhìn khá rộng, thường là trên 180o.
Vùng mà riêng mỗi mắt nhìn thấy gọi là vùng nhìn một mắt. Phía trước mỏ có một vùng mà cả hai mắt đều
nhìn thấy gọi là vùng nhìn hai mắt. Đây là vùng chim nhìn rõ nhất. Ta hãy xem con sáo kiếm mồi trên bãi
cỏ, nó đang đi bỗng dừng lại, nghiêng đầu, chăm chú nhìn vào một phía, hình như nó đang chú ý nghe tiếng
động của con châu chấu dấu mình dưới khóm cỏ, nó hướng mỏ về phía có tiếng động, vùng mà cả hai mắt
đều nhìn thấy và đã phát hiện ngay được con mồi. Hầu hết các loài chim đều có góc nhìn rất rộng, trên
300o, phía trước mỏ là vùng nhìn hai mắt hẹp, hai bên đầu là vùng nhìn một mắt khá rộng, phía sau gáy là
vùng hẹp mà chim không nhìn thấy. Đó là góc nhìn của các loài chim phát hiện mồi bằng mắt. Rẽ giun có
góc nhìn hơi khác. Khi kiếm mồi rẽ giun thọc sâu mỏ dài vào bùn để dò tìm giun nhờ những tế bào xúc giác

có nhiều ở phần mút mỏ. Nó không cần nhìn thấy con mồi, nhưng lại rất cần đề phòng kẻ thù từ phía sau và
phía trên ập đến. Vì lý do đó mà mắt rẽ giun nằm gần về phía gáy và hơi dịch lên phía trên đầu. Với cách
bố trí mắt như vậy rẽ giun có góc nhìn đến 360o và có hai vùng nhìn hai mắt : ở phía trước đầu và sau gáy.
Cũng vì vậy mà rẽ giun có thể nhìn được cả 4 phía và cả phía trên đầu nữa, mà rõ nhất lại là phía sau gáy.
Mắt vịt cũng có góc nhìn tương tự, nhưng ở vùng sau gáy vịt nhìn hơi tồi hơn. Ðó là cách bố trí mắt của
những loài chim mò thức ăn ở trong bùn, nghĩa là những loài tìm thức ăn không phải bằng mắt.
H.10. Vùng nhìn của mắt cú, mắt sẻ và mắt rẽ giun.
Các loài cú có mắt rất lớn, hướng cả về phía trước như mắt người, vì vậy mà toàn bộ góc nhìn của cú rất
hẹp, chỉ vào khoảng 60o. Chủ yếu cú nhìn bằng hai mắt. Để có thể nhìn thấy rõ được mọi vật trong đêm tối,
thủy tinh thể của mắt cú rất lớn và nằm ở cuối một ống sừng gần sát với đáy mắt để tập trung ánh sáng
chiếu vào vùng võng mạc, nơi có nhiều tế bào cảm quang.
Mắt cú không những có góc nhìn hẹp mà còn bị gắn khá chắc vào ổ mắt nên không liếc được linh động như
mắt của các loài chim khác. Để bù cho nhược điểm trên của mắt, cổ cú lại đặc biệt mềm mại, nhờ đó mà
đầu cú có thể quay về hai bên trọn một vòng 360o để đưa mắt nhìn khắp 4 phía mà không cần phải xoay
thân.
H.11. Cú c...
 
Gửi ý kiến