Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

DANH NHÂN ĐẤT VIỆT

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:59' 28-02-2024
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
DANH NHÂN ĐẤT VIỆT

GIA TUÂN
tuyển chọn

DANH NHÂN
lữ

á

ủ

1 / lệ

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

t

LÊ QUÝ ĐÔN
(1726 -1784)

1. Chú bé n gỗ n g h ịc h
Lê Quý Đôn tự Doãn H ậu, hiệu Q uế Đường.
Người làng Diên Hà, huyện D iên Hà, tỉn h Thái
Bình. Con của T rung H iếu công Lê T rọng Thứ (đỗ
T iến sĩ, làm quan đến chức H ình bộ Thượng thư).
Từ thuở nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng th ần
đồng khắp trấ n Sơn Nam. Đ âu đâu người ta cũng
nói về cậu bé thông m inh có trí nhớ lạ kỳ. Năm
mười ba tuổi, ông theo cha lên học ở Kinh đô. Mười
bổh tuổi, ông đã học h ết T ứ thư, N gũ kinh, Sử,
Truyện và đọc đến cả Bách gia, C hư tử, một ngày
có th ể làm xong mười bài phú. Mưòi bảy tuổi, thi
Hương đậu Giải nguyên. H ai mươi sáu tuổi thi Hội
đậu đầu, vào thi Đình cũng đậu đầu, trú n g Bảng
n h ã n (vì khoa ấy không lấy T rạng nguyên).
Tương truyền, năm Lê Quý Đôn mối lên bảy
tuổi, m ột hôm có người bạn của cha đến chơi, th ấy

chú bé thông m inh đĩnh ngộ, hỏi đâu nói được đấy
th ì r ấ t lấy làm kinh ngạc. N hân m uốh th ử thêm
tà i của Đôn, ông khách trỏ vào con sông chảy
q uanh sau vưòn nhà, ở chỗ đó sông tự chia ra làm
ba n h án h , bèn tức cảnh ra một vế đốì: "Tam
xuyên" (ba con sông), v ế đôl này bề ngoài có vẻ
khá đơn giản, nhưng kỳ thực rấ t hóc búa, vì hai
chữ "Tam x u yê n ” chữ nào cũng chỉ có ba nét, hơn
nữa chữ "xuyên,” lại cũng chỉ là chữ "tam" quay
ngang lại (một phần tư vòng tròn, 90") m à thôi.
Chú bé bảy tuổi hiểu ngay cái lắ t léo của vế
đôi, n h ấ t th iế t không chịu mắc lừa vì vẻ dễ dàng
của nó. Đôn n hìn quanh để tìm ý. Chợt trông lên
m ặt ông khách, th ấy ông ta đang đeo mục kỉnh,
Đôn mừng quá, bèn tức cảnh đối lại ngay là "Tứ
mục" (bốn m ắt).
Vế đốì lại này h ết sức tà i tìn h ở chỗ Đôn đã
tìm ra hai chữ cũng rấ t đơn giản, mỗi chữ chỉ có
bô"n nét, n h ấ t là chữ "mục" là "mắt" lại cũng chính
là chữ "tứ" là "hốn" quay ngang (quay chệch một
p h ần tư vòng tròn, 90") m à th àn h , v ế đốì tức cảnh
lại còn nêu lên được một đặc điểm của ông khách
già là đeo kính. K hách th á n phục đứng dậy nắm
lấy hai vai của chú bé m à nói: "Tài học của chú rồi
sẽ dọc ngang m ột đời!".
~ ữ M ih t ih  n

l/ tệ t

Lê Quý Đôn thông m inh h o ạt bát, nhưng tín h
khí cũng vô cùng ngỗ ngược. Vì th ế đã làm cho
cha mẹ ông n h iều phen phải bực m ình về ông và
xấu hổ vởi khách.
Một hôm, ông cỏi truồng đi tắm sông. Tình cò
giữa đường gặp quan Thượng hỏi thăm vào nhà
cha m ình là T rung Hiếu công Lê Trọng Thứ, ông
liền đứng giạng hai chân ra bảo quan Thượng
rằng:
- Đô" ông b iết chữ gì đây? N ếu ông biết cháu sẽ
đưa ông vào nhà.
Ông kia th ấ y đứa trẻ hỗn xược, giận tím m ặt
không thèm nói gì cả. Lê Quý Đôn liền cười vang
lên m à nói rằng:
- Chữ thái th ế m à cũng không biết!*'^
T hấy đứa trẻ quá ngỗ ngược, nhưng cũng lại
r ấ t thông m inh, ông quan vừa ngạc nhiên, thích
th ú vừa bực m ình, sau hỏi ra mới biết là con
T rung H iếu công. Lúc vào chới nhà, ông Thượng
bèn đem chuyện ấy ra phàn nàn. T rung H iếu
công bèn gọi Lê Quý Đôn lên m ắng rằng:
1. ở đây Lê Quý Đôn dựa vào hình tượng của chữ đó
mà đô": Chữ Thái trông giống người đứng giạng hai
chân.
tihÃn

1 /ỉịt

- Con là đứa ngỗ nghịch rắ n m ày rắ n m ặt,
phải vịnh một bài thơ tự trác h m ình, nếu không
làm được th ì ta đánh đòn!
Lê Quý Đôn vâng lời làm ngay bài thơ Nôm
như sau:
C hẳng p h ả i liu điu củng giống nhà
R ắn đầu biếng học chẳng ai tha.
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
N a y thét m ai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chi quen tuồng nói dối
Lằn lưng cam chịu dấu roi tra.
T ừ rày T râu, Lỗ chăm nghề học
Kẻo hổ m ang danh tiếng th ế gia!
Bài thơ vừa ra giọng tự trác h m ình lại vừa có
ý nêu tên một sô" loại rắ n (1ÍU điu, hổ lửa, m ai
gầm, ráo, th ằ n lằn, trâu , lỗ, hổ m ang), vậy m à đọc
vẫn không th ây gì gượng gạo. ô n g khách th ấy
Lê Quý Đôn mới tí tuổi m à đã tà i như thế, bao
nhiêu bực tức đều tiêu ta n hết, tấm tắc khen m ãi
không thôi.

1. Trâu, Lỗ cũng là tên nưốc của Mạnh Tử và
Khổng Tử. Câu này có ý nói từ nay sẽ chàm học theo
đạo Khổng - Mạnh.
'ữ íu ih tih  H

l^ ệ t

2. "Bậc kỳ tà i xư a n ay hiếm"
N ăm mười bảy tuổi, Lê Quý Đôn dự khoa thi
Hương, đỗ Giải nguyên, mười năm sau, tròn hai
mươi bảy tuổi, th i Hội đỗ Hội nguyên, vào thi
Đ ình đỗ B ảng nhãn. S au khi th i đậu, ông ra làm
quan, giữ nhiều trọng trá c h trong triều.
Lê Quý Đôn là m ột n h à bác học có kiến thức
uyên bác và sự hiểu biết sâu rộng. Có thể nói ông
là người th â u tóm được mọi m ặt tri thức của thời
đại lúc bấy giò.
N ăm 1759 (triều Lê H iển Tông), Thái thượng
hoàng Lê Ý Tông m ất, triề u đình cử ông làm phó
sứ cùng với T rần H uy M ật cầm đầu một phái
đoàn sang báo ta n g và cổhg lễ cho nh à Thanh.
Trong dịp này, khi sứ đoàn An Nam đi qua
các châu phủ T rung Hoa đều bị họ gọi là di quan
di mục, nghĩa là quan lại mọi rỢ. Khi sứ đoàn đến
Q u ế Lâm, Lê Quý Đôn viết th ư cho quan tổng
tr ấ n Q uảng C hâu để p h ả n đối cách gọi này. Với
uy tín và học vấn của Lê Quý Đôn, triều đình
T ru n g Hoa đ àn h phải chấp n h ậ n bỏ những danh
từ m iệt th ị k h inh khi này và gọi sứ đoàn là An
N am Cống sứ.
lữím h tihÂn

l/ĩệ t

Đến nay, người ta vẫn còn tru y ền tụ n g lại
những câu chuyện thứ vị, ca ngợi tà i n ăn g uyên
bác của ông trong dịp đi sứ Tàu.
Một vị quan triều T hanh, cũng có tiếng là
uyên thâm , nghe tiếng Lê Quý Đôn có trí nhố kỳ
lạ, mới bày cách để thử tà i ông. ô n g này dẫn Lê
Quý Đôn đến chùa xem văn bia, cạnh ngôi chùa
có con sông, th ủy triề u lên rấ t m ạnh. Chò đến khi
thủy triề u dâng tói chân bia, vị này mới dẫn ông
tối xem. Sau đó, trên đường về, ông ta hỏi:
- Tiên sinh th ấy nội dung bài văn bia th ế nào?
Lê Quý Đôn th ả n nhiên đọc lại vanh vách,
không sai một chữ.
Vị quan nọ ngạc nhiên đến sửng sô"t, không
thốt lên lòi. N guyên do là chữ H án cổ viết từ trê n
xuốhg dưới, từ phải qua trái, nước lại ngập từ
dưới lên. Vị quan nọ chắc m ẩm Lê Quý Đôn có tà i
th á n h cũng không đọc nổi. T h ế mà, ông nhớ
không sót m ột chữ. Thì ra, Lê Quý Đôn đọc từ
dưới lên trên , theo mực nước dâng. B iết được điều
đó, vị học giả người T àu kinh ngạc th ố t lên: "ô n g
là bậc kỳ tà i xưa nay hiếm".
10

nhÂỉt ^ Ấ t

Trong thòi gian đi sứ, ông m ang theo m ột sô'
tác phẩm của m ình. Các vị Nho th ầ n người Tàu
tru y ền n h a u xem và r ấ t th á n phục. Đề đốc Q uảng
Tây C hu Bội Liên, m ột học giả có tiếng đời T hanh,
n h ậ n xét; "Nưốc tôi có nhiều n h ân tài, nhưng
n h ữ n g người có tà i như sứ quân chỉ được có
m ột vài".
N ăm 1764, ông xin về trí sĩ, đóng cửa viết
sách. Tương tru y ền , thòi gian này, có sứ nhà
T h an h sang, tới cửa ải th ì dừng lại không đi nữa.
m à chỉ đưa m ột tấ m vóc, có đê một chữ rấ t lạ, và
n h ắ n chừng nào giải được, th ì sứ mới vào nước.
Vua chúa hội cả quần th ầ n lại hỏi, chẳng ai
đoán ra chữ gì cả, chúa lo lắm. Các quan tâ u rằn g
p h ải hỏi Lê Quý Đôn th ì m ay ra mới xong được.
C húa sai người đến mời Lê Quý Đôn giải, ô n g
bảo xin vua gửi cho sứ nh à T hanh một tấm áo
cầu^'\ họ sẽ tức khắc đến ngay. Vua chúa, quần
th ầ n cũng chưa hiểu ý nghĩa ra sao, nhưng cứ theo
lời Lê Quý Đôn. Quả nhiên, nhận được áo, sứ
T h an h đến ngay. Ngày sứ đến, Lê Quý Đôn được
1. Áo may bằng da, dùng cho quan lại, quý tộc.
'ữ ắ t 1 /ĩệt

11

cử ra tiếp sứ. Đôn viết vào một m ảnh giấy đỏ bốn
chữ "Phỉ xa bất đông" (không phải chữ xa (xe) cũng
không phải chữ đông (phía đông)) rồi đưa sứ xem.
Sứ đứng dậy vái bốh vái, rồi lấy áo cầu giả lại, tỏ
lòng hết sức khâm phục tài trí của người Nam. Bấy
giò vua chúa, quần th ầ n nhà Lê mới biết đó là đô"
mẹo. Chữ viết không ra chữ xa m à cũng chẳng ra
chữ đông, là trích thơ của Mao Khưu trong K inh
Thứ. Hồ cừu mông nhung, p h ỉ xa hất đông. Nghĩa
là: "Áo hồ cừu rách rưối, chẳng phải là không có xe
mà không sang phía đông". Sứ T hanh muốh nói là
mình không có áo đại lễ nên không dám đến. c ả
một câu mà thu gọn vào có một chữ, chỉ một chữ
mà thay th ế đủ lòi lẽ của cả một bức thư, triều
đình xôn xao khen kẻ đô" mười phần thì lại càng
phục người giải trăm phần.
3. Trước tác đề lạ i
Lê Quý Đôn để lại cho đời nhiều công trìn h
nghiên cứu có giá trị, như Đại Việt thông sử (Bộ sử
thông suốt cổ kim về nước Đại Việt), Phủ biên tạp
lục (Ghi chép tản m ạn trong khi đi vỗ yên vùng
biên), Thư kinh diễn nghĩa (Diễn nghĩa Kinh thi),
12

Vân đài loại ngữ (Ghi chép những điều th u hoạch
được th à n h từng loại). Nói chung, trước tác của ông
hết sức đồ sộ, ngày nay phần th ấ t lạc cũng nhiều,
m à p h ần còn lại cũng tương đốỉ lón. Bởi ông không
những có th iên tài mà làm việc cũng hết sức cần
cù, chịu khó, không sách gì ông không đọc, không
việc gì ông không suy nghĩ, quan sát, ghi chép. Chỉ
riêng trong cuốh Vân đài loại ngữ, ông đã trích
dẫn cả th ảy 557 cuô"n sách, trong đó có những cuốn
sách của châu Au dịch ra tiếng T rung Quốc.
T rong khôi lượng tri thức đồ sộ của Lê Quý
Đôn có m ột đặc điểm rấ t đáng chú ý là ông kết
hỢp đưỢc cả hai m ặt tri thức sách vở và tri thức
thực tiễn. T ri thức sách vở của ông có hệ thống, có
chiều sâu. T h ật đúng như P h a n Huy Chú đánh
giá: "Ồng tư ch ất khác đòi, thông m inh hơn
người... B ình sinh làm sách rấ t nhiều. Bàn về
k in h sử th ì sâu sắc, rộng rãi, m à nói về điển cô" thì
đầy đủ, rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn
cả, nổi tiế n g ở trê n đòi".

/ứíÃ/v

1/tệt

13

TRẦN HƯNG ĐẠO
(1232? -1300)

1. Tâm gư ơng sá n g v ể lò n g tr u n g n g h ĩa
Tên th ậ t là T rần Quốc T uấn, n h à quân sự,
chính trị kiệt xuất, đồng thòi cũng là n h à văn đời
Trần. Ồng quê ỏ hương Tức Mặc, phủ Thiên
Trường, nay thuộc tỉn h N am Đ ịnh, được phong ấp
ỏ hương Vạn Kiếp, huyện Chí Linh, châu Nam
Sách, lộ Lạng Giang, nay thuộc tỉn h H ải Dương.
Năm sinh của ông cho đến nay vẫn chưa rõ
ràng, có tài liệu cho rằn g ông sinh năm 1228,
tài liệu khác lại cho rằn g ông sinh năm 1230
hay 1232.
Ông là con tra i của An Sinh vương T rần Liễu,
cháu gọi vua T rần T hái Tông bàng chú. Từ nhỏ đã
có năng khiếu văn chương và có tà i võ nghệ. Bảy
tuổi đã biết làm thơ. Đ ại Việt sử ký toàn th ư có
chép; "Lúc mới sinh ra, có m ột th ầy tướng xem
cho và bảo; "Người này, ngày sau có th ể cứu nước
giúp đời."
14

tih^n "ữẲt 1 /ỉêt

Khi lốn lên, ông có dung mạo khôi ngô, thông
m inh hơn người, học vấn uyên bác, cưỡi ngựa, bắn
cung đều th u ầ n thục.
N ăm 1257, quân N guyên xâm lược nước ta,
ông được cử cầm quân giữ biên thùy phía Bắc. Ba
mươi năm sau, trong hai cuộc k háng chiến chống
quân N guyên lần th ứ hai (1285) và lần thứ ba
(1287), ông được đề b ạ t làm Quốc công tiế t chê
thông lĩnh toàn quân. Dưới sự lãnh đạo của ông,
q u ân đội n h à T rần đã vượt qua mọi khó k hăn
nguy hiểm , hai lần đánh ta n trê n bảy mươi vạn
q u ân N guyên - Mông xâm lược, giành th ắ n g lợi
lẫy lừng. Công lao to lớn này đưa T rần Quổc T uấn
lên h àn g m ột th iên tài quân sự có tầm chiến lược,
và m ột a n h hùng dân tộc bậc n h ấ t của nhà T rần.
Người đời còn k ính trọng và ngưỡng mộ ông ơ
lòng tru n g nghĩa, gạt bỏ hiểm khích riêng để đoàn
k ế t các tướng lĩnh và tôn th ấ t nhằm đánh bại kẻ
th ù . N guyên cha của ông là T rần Liễu có hiềm
khích với em ru ộ t của m ình là T rần c ả n h (tức
vua T rầ n T hái Tông). N guyên n h â n dẫn đến việc
ấy là: T rần c ả n h lấy công chúa Lý Chiêu Hoàng
làm vỢ khi bà mới bảy tuổi, còn T rần Liễu lấy chị
của Lý Chiêu Hoàng là T h u ận T hiên công chúa.
T^íUiíi ídìứn

1/íệt

15

Sau này, Lý Chiêu Hoàng không có con, T hái sư
T rần Thủ Độ mới ép vỢcủa T rần Liễu lúc ấy đã có
th ai ba th án g về làm vỢ của T rần c ả n h . C hính vì
lẽ đó m à T rần Liễu oán giận T rần Cảnh, thê nên
trước khi m ất, T rần Liễu cầm tay T rần Quôc
T uấn, tră n g trõì lại: "Con không vì cha m à lấy
được th iên hạ, th ì cha chết dưới suôi vàng cũng
không n hắm m ắt được".
Đến khi vận nước lâm vào cảnh binh đao,
quyền quân, quyền nước đều ở trong tay, ông đem
lời cha tră n g trôi để thử lòng hai gia nô th â n tín
l.à Yết Kiêu và Dã Tượng. Hai người th ư a rằng;
- Làm k ế ấy tuy được phú quý m ột thòi nhưng
để lại tiếng xấu ngàn nám . Nay Đại vưđng vẫn
chưa đủ phú quý hay sao? C húng tôi th à xin chêt
già làm gia nô, chứ không m uốn làm quan mà
không có tru n g hiếu.
Quôc T uấn cảm kích đến khóc, ban rượu
mừng và h ế t lồi khen ngđi. Một hôm, ông lại hỏi
con tra i cả là Hưng Vũ vương T rần Quốc Hiến:
- Người xưa có cả thiên hạ để tru y ền cho con
cháu, con nghĩ th ê nào?
H ưng Vũ vương T rần Quốc H iến hiểu ý cha,
thưa:
16

ti/ĩÂ H

1 /ĩc t

- D ẫu khác họ cũng không nên, huốhg chi là
cùng m ột họ.
T rầ n Quốc T u ấn ngẫm cho là phải. Lại một
hôm, ông đem chuyện ấy hỏi người con th ứ là
H ưng N hượng vương T rần Quốc Tảng. T rần Quốc
T ản g tiế n lên th ư a rằng:
- Tống T hái tổ vốh là m ột ông lão làm ruộng,
đã th ừ a cơ dấy vận nên có được th iên hạ.
T rầ n Quốc T u ấn rú t gươm m ắng: "Loạn th ầ n
là từ đứa con b ấ t hiếu m à ra" và định giết Quốc
Tảng, H ưng Vũ vương hay tin, vội chạy tới khóc
lóc xin chịu tội thay, Quốc T u ấn mới tha.
S au đó, ông dặn H ưng Vũ vương:
- S au khi ta chết, đậy nắp q uan tà i lại rồi mới
cho Quốic T ảng vào viếng.
T rầ n Quốc T u ấn quả th ậ t là m ột tấm gương
sá n g về lòng tru n g nghĩa, ông không nghe theo lời
d ặn của cha là phải cướp ngôi n h à T rần, m à trá i
lại đã phâ'n đấu xây đắp cho cơ nghiệp n h à T rần
càng bền vững hơn, trê n cơ sở đó, củng cố quốc gia
Đ ại V iệt ngày càng vững m ạnh.
2. T rần Q u ôc T u ân vớ i T rần Q u an g K hải
T rần Q uang K hải (1241 - 1294), tự Chiêu
M inh, là con trai th ứ ba của vua T rần Thái Tông,
~ ữ e u ịjị t ìh  ỉt

17

em ruột vua T rần T hánh Tông, nổi tiếng học rộng
biết nhiều, nên được nhà T rần biệt đãi, ngay từ hồi
còn trẻ đã sớm trở th à n h chỗ dựa của triề u đình.
Năm 1271, được vua T rần T hánh Tông phong làm
Tưóng quốc Thái úy. Năm 1282, khi quân Nguyên
chuẩn bị sang xâm lược nước ta lần th ứ hai, ông
được cử giữ chức Thượng tướng T hái sư, nắm toàn
quyền công việc nội chính. Năm 1285 và 1287, hai
cuộc kháng chiến chông Nguyên k ế tiếp nổ ra, ông
và T rần Quốc T uấn là hai n hân vật chèo lái chủ
chốt, đã góp công sức quan trọng vào th ắn g lợi.
Ong có m ặt ở nhiều nơi, tham gia nhiều chiến dịch,
nổi tiếng n h ấ t là chiến dịch Chương Dương T hăng Long. Bài thơ "Tụng giá hoàn kinh sư"
(Theo xa giá về kinh sư) mà ông làm vào th án g 7
năm 1285 đã cho chúng ta th ấy rõ được một tình
yêu thâm trầm m à cháy bỏng đốì với đ ất nước,
cùng với tầm tư tưởng xa rộng, khí phách kiên
cường và lòng tin vững chắc vào th ắn g lợi.
Bài thơ n hư sau:
Đoạt sáo Chương Dương độ
C ầm hồ H à m T ử quan
T hái binh tu nỗ lực
Vạn cô th ử g iang san.
18

1 /ĩệt

Dịch nghĩa:
Chương Dương cướp giáo giặc
H à m T ử bắt quân thù
T h á i bình nên gắng sức
N o n nước ấy nghìn thuJ^'
Cuộc đòi của T rần Q uang K hải cũng là một
tấm gương sán g về tin h th ầ n yêu nước, tậ n tụy
với trá c h nhiệm , biết g ạt bỏ hiềm khích riêng để
chung lưng đấu cật đ ánh th ắ n g kẻ th ù . Tuy là
m ột tể tướng địa vị bậc n h ấ t trong triều , tín h tìn h
ông v ẫn r ấ t phóng khoáng, thích học, hay thơ, ông
còn có tập thơ "Lạc đạo tập" lưu h à n h cho đời.
Nói về mốì q uan hệ giữa T rần Quốc T uấn và
T rần Q uang Khải, tu y cùng dòng dõi tôn th ất,
m ột người là Quốc công tiế t chế, một người là
Thượng tướng T hái sư, như ng T rần Q uang Khải
vì lo lắn g về mốì th ù của T rần Liễu để lại m à có
sự hiềm nghi xa cách, còn T rần Quốc T u ấn cũng
có nỗi khổ riên g trong lòng không nói ra, nên hai
người vẫn có khoảng cách.
M ột lần, T rần Q uang K hải theo vua T rần
T h á n h Tông đi dẹp giặc ngoài biên ải. G hế Tể

1. Trần Trọng Kim dịch.
tth^n lữ ắ t l^ ệ t

19

tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương Bắc đến.
T rần T hái Tông (tức vua cha của T rần T h án h
Tông) gọi H ưng Đạo vương T rần Quốc T u ấn tới
bảo: "Thượng tướng đi theo h ầu vắng, trẫ m định
lấy k h an h làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc".
T rần Quốc T uấn thưa:
- Việc tiếp sứ giả, th ầ n không dám từ chối, còn
như phong th ầ n làm Tư đồ th ì th ầ n không dám
vâng chiếu. Huống chi Q uan gia^^'* đi đánh giặc xa,
Thái sư theo h ầu m à bệ hạ lại tự ý phong chức, thì
tìn h nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không
làm vui lòng Q uan gia và Thượng tướng. Đợi khi
xa giá trở về, xin vâng lệnh cũng chưa muộn.
L ần khác, T rần Quốc T uấn đi th u y ền từ Vạn
Kiêp tới, T rần Q uang K hải nghe tin, xuống
th u y ền gặp ông, trước là thăm hỏi, sau là bàn việc
quân cơ. T rần Q uang K hải ở đó suốt m ột ngày
mói về.
T rần Quốc T u ấn vốn là người sạch sẽ, thích
tắm lá thơm, ngược lại T rần Q uang K hải lại rấ t
sỢ tắm gội. N hân cơ hội ây, T rần Quốc T u ấn sai
người n ấu m ột nồi nưốc lá th ậ t to. Rồi vừa cười
vừa bảo Q uang Khải:
1. Chỉ vua Trần Thánh Tông.
20

tihắiv

1 /ĩẹt

- M ình m ẩy cáu bẩn, xin tắm giùm!
Rồi ông ân cần cởi áo T rần Q uang K hải ra,
giội nước thơm tắm cho Q uang K hải và nói:
- Hôm nay được tắm cho Thượng tướng.
T rần Q uang K hải cảm động đáp:
- Hôm nay đến chơi, lại được Quốc công tắm
cho, th ậ t m ay m ắn cho tôi.
Từ đó, hai ông trở nên th â n tình, tin tưởng
n h au , tìn h ng h ĩa càng trở nên m ặn mà. Trong
việc phò vua giúp nước, hai ông đều có công đầu.
3. S u ố t đời v ì d ân , v ì nước
Có th ể nói, tư tưởng q uán xuyến suôt đòi
T rần H ưng Đạo là tấm lòng tậ n tụ y với đ ấ t nước,
và ý muôn đoàn k ết mọi tầ n g lớp trong dân tộc
th à n h m ột lực lượng thống n h ấ t, là tìn h yêu
thương dân chúng, ô n g cũng là người biết sử
dụng những người giỏi, như Dã Tượng, Yết Kiêu
là gia th ầ n của ông - có công lớn trong việc đánh
bại ô Mã Nhi, Toa Đô. P hạm Ngũ Lão, Trương
H án Siêu, T rịn h Dũ... vốh là môn khách của ông,
đều là nhữ ng người nổi tiếng thời đó về văn
chương và chính sự. N hiều người tà i theo ông như
thế, cũng bởi ông có tà i m ưu lược, có khí ch ất anh
tiẨìÂn

1 /íệ ố

21

hùng, lại m ột lòng tru n g nghĩa. Có lần T rần
T hánh Tông m uôn thử Ịòng ông mới bảo;
- T h ế giặc m ạnh như vậy, ta phải h àng thôi.
T rần Quốc T uấn khẳng khái trả lời;
- Bệ hạ chém đầu th ầ n trước rồi hãy hàng.
Vì thế, tiếng vang về ông đến tậ n phương Bắc,
chúng không dám gọi th ẳn g tên ông m à thường
gọi ông là An N am H ưng Đạo vương.
Khi ông sắp m ất, vua ngự giá đến thăm ,
hỏi ông:
- Nếu có điều chẳng may, m à giặc phương Bắc
lại sang xâm lược th ì k ế sách như th ê nào?
Ông khuyên vua "phải nới sức dân để làm kê
sâu rễ bền gốc", cho sự nghiệp lâu dài của nưóc nhà.
Sau khi ông m ất rồi, các châu, huyện ở L ạng
G iang hễ có tai nạn bệnh dịch, nhiều người cầu
đảo ông. Tín ngưỡng dân gian còn cho rằng, mỗi
khi đất nưóc có giặc vào xâm chiếm, đến lễ ở đền
thò T rần Quôc Tuấn, hễ trá p đựng kiếm có tiếng
kêu th ì thê nào cũng th ắn g lớn.
T rần H ưng Đạo được thờ phụng ở nhiều nơi,
trong đó lễ hội lớn n h ấ t diễn ra ở đền Kiếp Bạc
(thuộc huyện Chí Linh, tỉn h H ải Dương) - nơi
ngày xưa là phủ đệ của ông. ô n g được n h â n dân
22

^íưt/í lứì^n

l^ ịt

nhiều đòi sù n g kính, phong T hánh, để tỏ lòng tôn
kính, người ta không gọi trực tiếp tên ông, m à gọi
là H ưng Đạo vương, H ưng Đạo Đ ại vương, Đức
T h án h T rần , hoặc gọi là Cha. D ân gian vẫn lưu
tru y ền câu ca: "T háng tám giỗ Cha, th á n g ba giỗ
Mẹ"là để nhớ về ngày ông m ất (20-8 âm lịch).

tihÂn

1 /ỉệt

23

NGUYÊN TRÃI
(1380 -1442)

1.

Từ lò i d ạy tr ê n ải N am Q uan đ ế n B ì

N gô đ ại cáo
N guyễn T rãi là nhà văn, nh à chính trị, n h à tư
tưởng kiệt x u ất Việt Nam. H iệu là ức Trai, quê
làng N hị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉn h Hà Tây.
Cha ông là Nguj^ễn ứ n g Long tức N guyễn Phi
K hanh, mẹ ông là T rần Thị T hái - con gái của
T rần Nguyên Đán, thuộc dòng họ Tôn th ất.
Vì mẹ m ất sớm, nên từ nhỏ ông sôhg với cha ở
làng Nhị Khê. Vốn thông m inh, hiếu học lại được
cha rèn cặp nên chẳng bao lâu, kiến thức uyên
th âm của ông đã nổi tiếng khắp vùng.
N ăm 1400, ông đi thi, đỗ T hái học sinh, ra
làm quan với nh à Hồ'”.

1. Năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, lập ra
nưóc Đại Ngu, liền tổ chức khoa thi để lựa chọn nhân
tài cho vương triều mới.
24

tiiiẴn

1 /ĩệt

N ăm 1406, nh à M inh đem quân xâm lược
nước ta, cha con Hồ Quý Ly tổ chức kháng chiến
nhưng th ấ t bại và bị bắt. N hiều bề tôi nhà Hồ
cũng cùng chung sô" phận, trong đó có N guyễn Phi
K hanh. Tương truyền, vì thương cha, Nguyễn
T rãi bèn cùng với em là Phi H ùng, cải tra n g là
dân p h u đi theo để săn sóc cha.
Đến nử a

đường, N guyễn P hi K hanh gọi

N guyễn T rãi đến khuyên:
- Cha nghĩ một mình em con đi theo cha là đủ.
N guyễn T rãi rơm rớm nước m ắt, thưa:
- Nơi đ ấ t khách quê người nhiều hiểm nguy
rìn h rập, em H ùng còn nhỏ tuổi, sức vóc lại yếu,
con không yên tâm .
N guyễn P hi K hanh lắc đầu;
- Con nghĩ như vậy là tròn chữ hiếu, thê còn
chữ tru n g con tín h sao đây?
Nguyễn Trãi im lặng, thấy vậy, cha ông nói tiếp:
- Còn tín h m ạng của tră m vạn dân lành đang
sông trong cảnh điêu linh khôn khổ. Họ đang
ngóng đợi, trô n g mong vào những người như con
đó. Con đừng quên, nòi giống Lạc Hồng chúng ta,
từ ngàn xưa, b ấ t kể nam , phụ, lão, ấu đều không
chịu cúi đầu khom lưng trước ngoại bang.
tiíĩÂiv lữ ắ t 1 /ĩệt

25

Nghe lòi cha dạy, Nguyễn T rãi gạt nước mắt,
tìm cách trôn về Nam quốc. Lời dạy của cha khi nào
cũng văng vẳng bên tai: "Con phải nghe cha, trở về
trả th ù nhà, đền nỢ nước. Đuổi sạch giặc M inh ra
khỏi nước ta, đó cũng là cách trả th ù cho cha vậy".
K hoảng năm 1416, N guyễn T rãi tìm đến với
Lê Lợi - m ột an h hùng k iệt xuất, người đứng đầu
phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. N guyễn T rãi
được Lê Lợi h ết sức coi trọng, cho ông giữ chức
Tuyên phụng đại phu, H àn lâm th ừ a chỉ. ô n g đã
cùng với Lê Lợi xây dựng m ột đường lôi chính trị
và quân sự đúng đắn, đánh dấu m ột bước ngoặt
của khởi nghĩa Lam Sơn nh ư bỏ rừ n g nú i m à tiến
xuông đồng bằng, bỏ cố th ủ m à chủ động tấn
công, góp p h ần đưa nghĩa quân tiến từ n g bước tới
chiến thắng.
Khi đã tương quan lực lượng với giặc, Nguyễn
Trãi lại được Lê Lợi giao cho một nhiệm vụ quan
trọng là n h ân danh Lê Lợi viết thư cho tướng giặc
Minh. Các lá thư ấy đều thể hiện nàng lực của một
nhà tư tưởng, một nhà biện lu ận th iên tài, vừa
m ắng nhiếc, khiêu khích giặc, vừa ph ân tích lý lẽ
phải trái, vừa mềm mỏng dụ hàng. T ất cả đều
nhằm đẩy kẻ địch tới những tìn h th ế khó khăn.
26

N guyễn T rãi không chỉ dừng lại ở việc vạch
k ế hoạch và th ảo th ư chiếu, ô n g còn đích th â n
đến m ột sô" th à n h để dụ hàng, ồ n g th u y ết phục
đưỢc n h iều tướng giặc ra hàng, trong sô" đó có
người n h ư T hái Phúc về sau đã giúp nghĩa quân
tro n g việc binh vận, làm cho quân M inh thêm rã
ngũ. Và

CUỐI

năm 1427, trong chiến dịch Chi

L ăng - Xương Giang, ông có công lốn giúp nghĩa
q u â n của ta đánh ta n 15 vạn quân cứu viện của
giặc do tướng Liễu T hăng và Mộc T h ạn h chỉ huy,
k ế t thúc

th ắ n g

lợi cuộc k h án g chiến chông

q u â n M inh.
N ăm 1428, đ ấ t nước hoàn toàn giải phóng.
N guyễn T rãi vâng lệnh vua, viết "Bình Ngô đại
cáo" - "một áng th iên cổ hùng văn" nhằm tuyên
cáo với to àn th ể n h â n dân về nền độc lập của xã
tắc và k h ẳn g định thêm m ột lần nữa rằn g nước
Đ ại V iệt ta:
... T uy m ạnh yếu có lúc khác nhau
S o n g hào kiệt đời nào củng có.
2. D u y ê n nỢ với N g u y ể n T hị Lộ
N guyễn T rãi có người vỢ yêu tên là N guyễn
T hị Lộ, n h a n sắc m ặn mà, lại thạo văn từ nên hai
27

người đôi với n h a u rấ t tâm đầu ý hỢp, thường
đàm đạo với n h au về văn chương thời thế. Chuyện
hai người gặp n h au cũng lý th ú vô cùng, tương
truyền, một buổi tròi đã sẩm tôl, N guyễn T rãi
đang đi trê n đường Cô" Ngự, về phía Nghi Tàm th ì
gặp một thiếu nữ đội m ột bó chiếu đi xuông, th ấy
người con gái n h an sắc tu y ệt trần , ông liền đọc
bỡn m ấy câu:
Ả ở đâu ta bán chiếu gon?
C hẳng hay chiếu ấy hết hay còn'?
X u â n thu phỏng độ chừng bao tuổi?
Đã có chồng chưa, được m ấy con?
Lúc bấy giờ, cô gái mới đ ặ t bó chiếu

AUÔng.

Tay vuôt m ấy sỢi tóc mai, láu lỉnh đáp trả:
Tôi ở Tây H ồ bán chiếu gon,
Cớ chi ông hỏi hết hay còn?
X u â n thu tuổi mới trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, hỏi chi con!
Nguyễn T rãi hơi mỉm cười, cô gái đôi chọi lại
câu đùa bỡn của ông sắc sảo quá. M ến tài, mến
sắc cô gái, N guyễn T rãi cho người đi tìm m anh
mốì nàng. Thì ra, n àng tên N guyễn Thị Lộ, cũng
là con nhà gia thế, được cha dạy bảo học h àn h đến
nơi đến chôn, người lại nết na nên bà con quanh
28

nhÂn

1 /ĩệt

vùng r ấ t quý trọng. N guyễn T rãi bèn nhò người
m ai mổì, đưa về làm vỢ.
V ua Lê T hái Tông (ở ngôi năm 1434, m ất năm
1442) th ấ y N guyễn Thị Lộ kiến thức uyên thâm ,
cử chỉ đoan tran g , bèn mời bà vào cung, sung chức
Lễ nghi nữ học sĩ trong triều... N hưng cũng chính
vì th ê m à có cái cớ gây nên tấ n th ảm kịch đau
thương, còn gọi là Vụ án Lệ Chi Viên. N guyên là,
th á n g bảy năm 1442, Lê T hái Tông đi duyệt võ ở
Chí Linh, ghé th ăm N guyễn T rãi ở Côn Sơn,
trê n đường về kinh th àn h , có lệnh cho Nguyễn
Thị Lộ h ầ u cận bên m ình. Xa giá vua vê đến Lệ
Chi Viên th ì nghỉ lại, đến đêm vua bị cảm m ất đột
ngột. N gay sau khi đưa linh cữu về đến T hăng
Long, triề u đình bèn b ắ t giam N guyễn T rãi và
N guyễn T hị Lộ, vu cho N guyễn T rãi tội sai thiếp
giết vua, cả gia đình ông phải n h ậ n bản án tru di
tam tộc.
H ai mươi năm sau, Lê T h án h Tông sau khi
xét lại vụ án mới xuống chiếu rử a oan cho ông.
Song nỗi oan ức đã trở th à n h niềm xót thương
suốt bao th ê kỷ của n h â n dân ta đôl với một tài
n ăn g lỗi lạc trê n mọi lĩnh vực chính trị, q uân sự,
ngoại giao, tư tưởng và văn hóa.
tihÂít

1/ĩặt

29

CAO BÁ QUÁT
(1808 -1855)

1. K hí p h á ch n g a n g tà n g
Cao Bá Q uát tự Chu T hần, hiệu Cúc Đường,
M ẫn Hiên. Người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm,
tỉn h Bắc N inh. Là em sinh đôi với Cao Bá Đ ạt
(1808 - 1855). Cha của ông m uốn sau này con cái
m ình sẽ trở th à n h rường cột của triề u đình, nên
lấy tên của hai hiền sĩ đòi C hu cũng là h ai anh
em sinh đôi để đ ặt cho hai con.
Tương truyền, ngay từ nhỏ, Cao Bá Q uát đã
nôi tiếng th ầ n đồng, và cũng ngay từ nhỏ ông đã
có những h àn h động "phản nghịch" táo bạo.
ớ làng ông có ngôi đình, trưốc cửa đình có đắp
đôi voi chầu rấ t đẹp, nhưng rồi thời gian đi qua,
mưa nắng dãi dầu, đôi voi ấy cũng bị hư hoại đi.
Làng bèn bỏ tiền và giao cho lý trưởng trông nom
việc đắp lại hai con voi khác. Khi voi đắp xong,
một hôm ông ra đình chơi, th ấ y voi đắp có đủ cả
30

l/ĩệ t

đầu, đuôi, tai, vòi, m à chỉ cái "kia" th ì không có,
ông liền nảy ý, n h ặ t gạch non đề ngay lên tưòng
đình m ột bài thơ Nôm như sau:
K hen ai khéo khéo đắp đôi voi,
Đ ủ cả đ ầ u đuôi đủ cả vòi
C hỉ có cái kia sao chẳng thấy?
H ay là thầy lý bớt đi rồi!
Lý trưởng ra đình đọc thơ tức lắm, nhưng
không biết ông cử, ông tú nào đã nói móc m ình
như vậy. Sau có m ấy đứa trẻ nói, hắn mới biết là
của Cao Bá Q uát. Không ngò một th ằ n g nhãi còn
để chỏm m à đã ngỗ ngược đến thế, h ắn đùng đùng
vào n h à lôi ông ra đê trị tội.
N hưng khi giáp m ặt th ì ông lại cãi bướng
rằng;
- Tôi th ấ y voi không có cái ấy, vả lại các cụ
ngày xưa đã nói: Chưa làm xã đã học ăn bớt, nên
tôi vịnh bài thơ ấy chơi. Vậy chứ ông có ăn bớt
đâu m à ông phải bận lòng!
T h ế là lý trưởng đ ành cứng lưỡi, tưng hửng bỏ
về không dám hạch sách gì nữa. Còn bô" ông thì
th ấy con ăn nói cứng cỏi, sâu cay, nên cũng th a
cho không đ án h đòn.
Lại m ột hôm khác, Cao Bá Q uát từ Bắc N inh
nhổn ĩữẤ t l/ĩệ t

31

sang chơi H à Nội. Bấy giò Q uát vẫn còn là một
cậu học trò để chỏm .^Q uát th ấy Hà th à n h có vẻ
rộn rịp khác thường, hỏi ra mới b iết là vua M inh
M ệnh ngự giá Bắc th à n h , sắp đi th ă m Hồ Tây và
các th ắ n g cảnh khác ở T hăng Long. Chò đúng giò
"đạo ngự" đi đến Hồ Tây, th ì Q u át cởi tru ồ n g ra,
giả vờ xăm xăm n hảy xuống hồ để tắm . Q uan
quân th ấy vậy hoảng hôt, th é t b ắ t tró i lại. Càng
bị trói, Q uát càng gào to và giãy giụa vùng chạy,
gây ra m ột cảnh ồn ào, hỗn độn bên bò hồ. Vừa
lúc đó, kiệu vua đi qua, M inh M ệnh tru y ền lệnh
dẫn Q u át đến hỏi. Q uát tâ u là học trò khó mới ở
nhà quê lên không biết gì. M inh M ệnh nghe nói
là học trò liền nảy ra ý m uôn th ử tài. N h ân dưới
hồ nước trong, có nhiều đàn cá lội tu n g tă n g đuổi
b ắ t n h au , M inh M ệnh ra m ột vê đôn
Nước trong leo lẻo, cá đớp cá
Và hứa với Q uát đốĩ được sẽ tha. Q uát không
cần nghĩ ngợi, cũng tức cảnh việc m ình bị trói,
đôi lại:
Trời nắng chang chang, người trói người.
M inh M ệnh cả kinh và tức u ấ t người lên,
nhưng vì không m uốn m ang tiếng vói người Bắc
Hà trong dịp đầu tiên vua ra th ăm đ ấ t Bắc, nên
đ àn h tru y ền lệnh cởi trói th a cho Cao Bá Q uát.
32

T^rưih ntiÂỉi

1 /ỉệt

2. H óm h ỉn h c ủ n g h iế m ai b ằ n g
Cao Bá Q u át ngoài kh í phách ngang tàng,
trời ch ẳn g kiêng đ ấ t chẳng sợ, còn có cái dí dỏm,
h ài hước r ấ t thông m inh.
Đối với vua quan, ông tỏ th á i độ b ấ t bình,
th ậ m chí đôi chọi gay gắt, như ng với người dân
thường, ông n h ìn họ bằng á n h m ắt bao dung và
đầy hóm hỉnh.
C huyện kể lại rằng, hồi Cao Bá Q uát còn
đang giữ chức H àn h tẩ u Bộ Lễ, th á n g 8 năm
1841, vua mở khoa th i để kén n h â n tà i cho đất
nước, Cao Bá Q uát được cử làm sơ khảo trường
th i T hừ a T hiên, th ấ y có m ột sô" bài th i r ấ t hay mà
bị p h ạm húy. N ếu đem ra chấm , tấ t sẽ bị đánh
hỏng. Cao Bá Q uát bèn cùng với một người bạn
n ữ a lấy son hòa muội đèn chữa lại cho họ. Việc
bại lộ, ông bị b ắ t giam, khép vào tội "giảo giam
hậu" (chém như ng giam lại để xét sau). N hưng
sau, vua T hiệu Trị thâV ông là người có tài, không
nỡ giết, chỉ giam vào ngục m ột thời gian, sau đó
cách chức ông, rồi n h â n có phái bộ đi công cán ở
Inđônêxia, ông phải đi theo phục dịch để lấy công
chuộc tội. S au khi trở về, ông được giữ chức cũ
m ột thòi gian, rồi sau lại bị biếm chức, trỏ về quê.
1 /ĩệt

33

Thời gian ông đang ở quê, người dân quanh
vùng thường rủ n h a u đến xin câu đôi để về treo
trong nhà, n h ấ t là vào nhữ n g dịp Tết.
Một hôm, có hai người hàng xóm cùng đến
m ột lúc, chỉ trước sau m ấy bưóc. Người đến trước
là m ột an h làm nghề đóng áo quan. Người đến
sau là một chị đang có chửa gần đến ngày sinh.
Cao Bá Q uát không phải nghĩ ngợi lâu, cầm bú t
viết vào rẻo giấy cho an h thợ áo quan:
Thiên thỉêm tu ế nguyệt, n h ả n thiêm thọ,
X u â n m ãn càn khôn, p h ú c m ãn đường.
N ghĩa là:
Trời thêm năm tháng, người thêm thọ,
X u â n khắp non sông, p h ú c chật nhà.
Ông khéo dùng hai chữ "Thọ" và "Đường" để
nói đến cái quan tà i vì ngày xưa ta vẫn gọi cỗ
quan tà i là cỗ "Thọ - Đưòng".
Anh thợ nghe giảng rõ, vui m ừng vái chào đi
ra. Đến chị bụng chửa, Cao Bcá Q uát nhìn chị hóm
hỉnh cười, rồi lấy m ảnh giấy khác, viết ngay:
Thi...
 
Gửi ý kiến