Công nghệ sơn tĩnh điện

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Cao Sang
Ngày gửi: 20h:29' 12-11-2016
Dung lượng: 11.4 MB
Số lượt tải: 34
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Cao Sang
Ngày gửi: 20h:29' 12-11-2016
Dung lượng: 11.4 MB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
Mục Lục
. Lịch sử hình thành và phát triển.
. Công nghệ sơn tĩnh điện.
.1. Giới thiệu chung.
.2. Cơ chế sơn tĩnh điện.
.2.1. Tích điện corona.
.2.2. Tích điện do ma sát.
.2.3. So sánh ưu và nhược điểm.
.2.4. Các lỗi thường gặp và cách khắc phục.
.3. Bột sơn tĩnh điện:
.4. Dây chuyền sơn tĩnh điện
.4.1. Khái niệm
.4.2. Quy trình tiến hành sơn.
.4.2.1. Xử lý bề mặt nền.
.4.2.2. Sơn vật nền.
.4.2.3. Buồng sơn.
.4.2.4. Súng sơn.
.4.2.5. Sấy định hình và hoàn tất sản phẩm.
. Ưu nhược điểm.
.1. Ưu điểm.
.2. Nhược điểm.
.3. So sánh.
. Ứng dụng.
. Tài liệu tham khảo.
CÔNG NGHỆ SƠN TĨNH ĐIỆN
Lịch sử hình thành và phát triển.
Sơn tĩnh điện thường được sử dụng trên những nguyên lý phủ sơn dạng bột được gia nhiệt và phủ bằng những hợp chất hữu cơ, công nghệ này được áp dụng thử đầu tiên tại Châu Âu do Tiến sĩ Dr. Erwin Gemmer thực hiện vào đầu thập niên 1950, tuy nhiên cho tới những năm 60 thì quy trình sơn tĩnh điện này mới được chứng thực thành công, được tiến hành thương mại hóa hiệu quả và rộng rãi.
1966 – 1973 Bốn loại hóa học khởi điểm- Epoxy, Hybrid, Polyurethane, và TGIC - được giới thiệu trên thị trường. Một vài loại Melamine và Acrylic vẫn chưa thành công . Đầu thập niên 1970, Sơn Tĩnh Điện phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu.Đầu thập niên 1980, Phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ và Nhật.Giữa thập niên 1980, Phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Viễn Đông (thềm Lục Địa Thái Bình Dương).
1985 – 1993, Những loại bột sơn mới được giới thiệu trên thị trường. Có đủ loại Acrylic và hỗn hợp của những loại bột sơn được tung ra.
Công nghệ sơn tĩnh điện.
2.1. Giới thiệu chung.
/
Sơn tĩnh điện là 1 phương pháp phun sơn ứng dụng nguyên lý tĩnh điện có nghĩa là tích điện cho bột sơn và phun vào bề mặt cũng được tích điện bằng súng phun và tạo ra liên kết mạnh giữa bột sơn và vật cần sơn.
Nhờ tác động lực đẩy của khí nén và lực hút của các ion trái dấu làm phân tử sơn bám chặt hơn lên bề mặt vật liệu nền cần sơn.
Phủ một lớp chất dẻo lên bề mặt các chi tiết cần che phủ. Có 2 loại chất dẻo phổ biến :
Nhựa nhiệt dẻo: là các chất hình thành một lớp phủ mà không cần phải trải qua quá trình biến đổi cấu trúc phân tử (như polyetylen, polypropylene, nylon, polyvinyclorua và nhựa nhiệt dẻo polyyeste).
Nhựa nhiệt rắn: xếp chéo qua nhau tạo ra một lớp màng vĩnh cửu chịu nhiệt và sẽ không bị tan chảy lại (epoxy, hybrit, uretan polyester, acrylic, polyester triglycidyl isoxyanuric (TGIC))
.
Sơn tĩnh điện còn được gọi là sơn khô vì tính chất phủ ở dạng bột và khi sử dụng nó sẽ được tích một điện tích (+) khi đi qua một thiết bị được gọi là súng sơn tĩnh điện, đồng thời vật sơn cũng sẽ được tích một điện tích (-) để tạo ra hiệu ứng giữa bột sơn và vật sơn.
Hiện nay trên thị trường có 2 loại sơn dùng để sơn tĩnh điện: sơn bột và sơn nước.
Sơn bột: Dùng để sơn các sản phẩm bằng kim loại, sắt thép, hiệu suất sử dụng bột sơn lên đến 95%.
Sơn ướt: dùng để sơn các vật liệu nền khác nhau: sản phẩm bằng kim loại, nhựa, gỗ.
2.2. Cơ chế sơn tĩnh điện.
Bột sơn sẽ được tích một điện tích khi đi qua súng sơn tĩnh điện.Vật cần sơn cũng được tích một điện tích (trái dấu với bột sơn).Bột sơn và vật sơn đặt trong một điện trường giữa súng phun và vật sơn.Khi phun sơn dưới một áp lực nén, hạt sơn bay trong điện trường bám dính vào vật sơn do lực hút tĩnh điện.
Cơ chế tĩnh điện gồm có 2 cơ
. Lịch sử hình thành và phát triển.
. Công nghệ sơn tĩnh điện.
.1. Giới thiệu chung.
.2. Cơ chế sơn tĩnh điện.
.2.1. Tích điện corona.
.2.2. Tích điện do ma sát.
.2.3. So sánh ưu và nhược điểm.
.2.4. Các lỗi thường gặp và cách khắc phục.
.3. Bột sơn tĩnh điện:
.4. Dây chuyền sơn tĩnh điện
.4.1. Khái niệm
.4.2. Quy trình tiến hành sơn.
.4.2.1. Xử lý bề mặt nền.
.4.2.2. Sơn vật nền.
.4.2.3. Buồng sơn.
.4.2.4. Súng sơn.
.4.2.5. Sấy định hình và hoàn tất sản phẩm.
. Ưu nhược điểm.
.1. Ưu điểm.
.2. Nhược điểm.
.3. So sánh.
. Ứng dụng.
. Tài liệu tham khảo.
CÔNG NGHỆ SƠN TĨNH ĐIỆN
Lịch sử hình thành và phát triển.
Sơn tĩnh điện thường được sử dụng trên những nguyên lý phủ sơn dạng bột được gia nhiệt và phủ bằng những hợp chất hữu cơ, công nghệ này được áp dụng thử đầu tiên tại Châu Âu do Tiến sĩ Dr. Erwin Gemmer thực hiện vào đầu thập niên 1950, tuy nhiên cho tới những năm 60 thì quy trình sơn tĩnh điện này mới được chứng thực thành công, được tiến hành thương mại hóa hiệu quả và rộng rãi.
1966 – 1973 Bốn loại hóa học khởi điểm- Epoxy, Hybrid, Polyurethane, và TGIC - được giới thiệu trên thị trường. Một vài loại Melamine và Acrylic vẫn chưa thành công . Đầu thập niên 1970, Sơn Tĩnh Điện phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu.Đầu thập niên 1980, Phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ và Nhật.Giữa thập niên 1980, Phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Viễn Đông (thềm Lục Địa Thái Bình Dương).
1985 – 1993, Những loại bột sơn mới được giới thiệu trên thị trường. Có đủ loại Acrylic và hỗn hợp của những loại bột sơn được tung ra.
Công nghệ sơn tĩnh điện.
2.1. Giới thiệu chung.
/
Sơn tĩnh điện là 1 phương pháp phun sơn ứng dụng nguyên lý tĩnh điện có nghĩa là tích điện cho bột sơn và phun vào bề mặt cũng được tích điện bằng súng phun và tạo ra liên kết mạnh giữa bột sơn và vật cần sơn.
Nhờ tác động lực đẩy của khí nén và lực hút của các ion trái dấu làm phân tử sơn bám chặt hơn lên bề mặt vật liệu nền cần sơn.
Phủ một lớp chất dẻo lên bề mặt các chi tiết cần che phủ. Có 2 loại chất dẻo phổ biến :
Nhựa nhiệt dẻo: là các chất hình thành một lớp phủ mà không cần phải trải qua quá trình biến đổi cấu trúc phân tử (như polyetylen, polypropylene, nylon, polyvinyclorua và nhựa nhiệt dẻo polyyeste).
Nhựa nhiệt rắn: xếp chéo qua nhau tạo ra một lớp màng vĩnh cửu chịu nhiệt và sẽ không bị tan chảy lại (epoxy, hybrit, uretan polyester, acrylic, polyester triglycidyl isoxyanuric (TGIC))
.
Sơn tĩnh điện còn được gọi là sơn khô vì tính chất phủ ở dạng bột và khi sử dụng nó sẽ được tích một điện tích (+) khi đi qua một thiết bị được gọi là súng sơn tĩnh điện, đồng thời vật sơn cũng sẽ được tích một điện tích (-) để tạo ra hiệu ứng giữa bột sơn và vật sơn.
Hiện nay trên thị trường có 2 loại sơn dùng để sơn tĩnh điện: sơn bột và sơn nước.
Sơn bột: Dùng để sơn các sản phẩm bằng kim loại, sắt thép, hiệu suất sử dụng bột sơn lên đến 95%.
Sơn ướt: dùng để sơn các vật liệu nền khác nhau: sản phẩm bằng kim loại, nhựa, gỗ.
2.2. Cơ chế sơn tĩnh điện.
Bột sơn sẽ được tích một điện tích khi đi qua súng sơn tĩnh điện.Vật cần sơn cũng được tích một điện tích (trái dấu với bột sơn).Bột sơn và vật sơn đặt trong một điện trường giữa súng phun và vật sơn.Khi phun sơn dưới một áp lực nén, hạt sơn bay trong điện trường bám dính vào vật sơn do lực hút tĩnh điện.
Cơ chế tĩnh điện gồm có 2 cơ
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất