Bài 4. Chuyện người con gái Nam Xương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tiến Dũng
Ngày gửi: 21h:49' 14-05-2023
Dung lượng: 114.7 KB
Số lượt tải: 68
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tiến Dũng
Ngày gửi: 21h:49' 14-05-2023
Dung lượng: 114.7 KB
Số lượt tải: 68
Số lượt thích:
1 người
(Phươn chuche)
CẤU TRÚC ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10
NĂM HỌC 2023 – 2024
Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
- Kiểm tra, đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh. Ngữ liệu là văn b ản n ằm
ngoài chương trình SGK, thuộc một trong các loại sau:
+) Văn bản thông tin
+) Văn bản nghị luận
+) Văn bản nghệ thuật
- Phần Đọc hiểu sẽ gồm 3 câu hỏi với các mức độ: Nhận bi ết; Thông hi ểu; V ận d ụng
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Kiểm tra, đánh giá năng lực trình bày, luận giải quan điểm, đánh giá c ủa h ọc sinh v ề
một vấn đề đời sống xã hội thông qua yêu cầu viết đoạn văn nghị luận xã h ội có dung
lượng khoảng 10 – 12 câu, thuộc một trong hai dạng sau:
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
Câu 2 (2,0 điểm)
Kiểm tra, đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học của học sinh thông qua
yêu cầu viết bài nghị luận văn học.
Phạm vi kiến thức: Thuộc chương trình lớp 9
* Văn học trung đại
+) Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ
+) Truyện Kiều - Nguyễn Du (đoạn trích Chị em Thúy Kiều và Kiều ở lầu Ngưng Bích)
* Văn học hiện đại
+) Đồng chí - Chính Hữu
+) Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận
+) Bếp lửa - Bằng Việt
+) Ánh trăng - Nguyễn Duy
+) Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải
+) Viếng lăng bác - Viễn Phương
+) Sang thu - Hữu Thỉnh
* Văn xuôi
+) Làng - Kim Lân
+) Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long
+) Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh khuê
* Lưu ý
Đề thi không bao gồm những nội dung
ÔN TẬP CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI LỚP 9
Năm học: 2023 – 2024
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
( Trích “ Truyền kì mạn lục ” - Nguyễn Dữ )
I Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
- Là một trong những gương mặt nổi bật của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVI.
- Bản thân là người học rộng, tài cao, luôn mơ ước về một xã hội kỷ cương, nền n ếp.
- Đặc biệt, ông là một nhà văn giàu lòng nhân đạo, yêu thương, trân tr ọng con ng ười,
đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
2. Tác phẩm
a, Vị trí
- Là chuyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của “ Truyền kỳ mạn lục ” được Nguyễn
Dữ sáng tạo từ câu chuyện cổ tích “ Vợ chàng Trương ”.
c, Hoàn cảnh ra đời
- Chuyện được sáng tác nửa đầu thế kỷ XVI – là thời kì chế độ phong ki ến kh ủng
hoảng, loạn lí, những cuộc chiến tranh phi nghĩa xảy ra liên miên dẫn đ ến đ ời s ống
nhân dân khổ cực, biết bao gia đình tan vỡ.
3.Giá trị
- Nội dung: Cuộc đời, số phận bất hạnh của Vũ Nương. Ngợi ca những v ẻ đẹp tâm h ồn,
cao quý của nàng. Thông qua đó, thấy được tấm lòng nhân đạo của tác giả.
- Nghệ thuật:
II Phân tích
Đề: Cảm nhận nhân vật Vũ Nương
A, Mở bài
- Tác giả: đã có.
- Tác phẩm: là tập truyện ngắn nổi tiếng làm nên tên tuổi của Nguyễn Dữ, trong đó “
Chuyện người con gái Nam Xương ” là một tác phẩm tiêu biểu.
- Vấn đề nghị luận: Nội dung của chuyện.
- Cảm xúc: Chính vì vậy, nhân vật Vũ Nương đã để lại ấn tượng sâu s ắc trong lòng b ạn
đọc trong suốt thời gian qua.
B, Thân bài
I Khát quát chung
- Xuất xứ, vị trí: đã có.
- Kiểu nhân vật: Vũ Nương được đặt trong người mối quan hệ với mẹ chồng, con, Linh
Phi, để làm nổi bật nàng là một người con dâu hiếu thảo, một người vợ yêu ch ồng
thủy chung, một người mẹ thương con và là một người phụ nữ bao dung độ lượng.
II Cảm nhận cụ thể
Luận điểm 1: Trước hết, đọc truyện ngắn ta thấy Vũ Nương có cuộc đời, số
phận bất hạnh
+) Sinh ra trong một gia đình nghèo khó, không quyết định được tình yêu, hạnh phúc
của mình nên phải chấp nhận một cuộc hôn nhân không có tình yêu. Sự chênh l ệch đó
có thể kể đến là hoàn cảnh gia đình không môn đăng hộ đối, Vũ Nương con nhà nghèo,
còn Trương Sinh là con nhà hào phú. Mặt khác, còn là sự chênh lệch v ề tính cách. N ếu
như Vũ Nương có học thì Trương Sinh ít học. Nếu như Vũ Nương tính tình d ịu dàng
khéo léo thì Trương Sinh hồ đồ, đa nghi, hay ghen. Tất cả những điều đó với nh ững t ục
lệ cổ hủ, lạc hậu đã cướp đi quyền tự do trong hôn nhân của Vũ Nương và là nguyên
nhân dẫn đến những bất hạnh khổ đau sau này.
+) Vũ nương là nạn nhân của chế độ nam quyền cấm đoán. Đó là chế đ ộ tr ọng nam
khinh nữ. Chế độ ấy đã tạo ra những người đàn ông gia trưởng như Tr ương Sinh khi ến
cho Vũ Nương trở thành nạn nhân của bạo hành gia đình, bị đánh, mắng, đu ổi đi mà
không có quyền thanh minh.
- Vũ Nương phải chịu thiệt thòi, gánh vác công việc lớn nhỏ. Vũ N ương l ấy Tr ương
Sinh mong được nương tựa nhưng Trương Sinh lại đi lính để lại cho nàng ng ười m ẹ
già và đứa con sắp chào đời. Một mình nàng phải gánh vác mọi chuy ện t ừ nh ỏ đ ến l ớn.
- Vũ Nương là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Vì ít học nên Tr ương Sinh ph ải
đánh giặc Chiêm để bảo vệ ngai vàng của giai cấp thống trị. Vũ Nương ở nhà ph ải
sống trong sự đợi chờ mòn mỏi héo hon. Chiến tranh đã chia cắt hạnh phúc gia đình
khiến cho biết bao gia đình vì hiểu lầm mà tan vỡ.
- Vũ nương phải chịu nỗi oan vô cùng thảm khốc. Nàng bị Trương Sinh nghi ng ờ th ất
tiết. Nàng thanh minh mà không được. Họ hàng, làng xóm bênh vực và biện b ạch cho
nàng cũng chẳng ăn thua gì. Cuối cùng nàng tìm đến cái chết b ằng cách tr ẫm mình
xuống sông để chứng minh lòng chung thủy.
- Vũ Nương khao khát gia đình được đoàn tụ nhưng không thể thực hi ện đ ược. Khi
Phan Lang kể chuyện gia đình Vũ Nương mong muốn được trở về. Đến cuối truy ện
nàng trở về trên chiếc kiệu hoa giữa lòng sông nói vọng vào “ Thiếp chẳng thể trở về
nhân gian được nữa ” rồi biến mất. Tuy nỗi oan được giải nhưng hạnh phúc gia đình
đã tan vỡ khó có thể hàn gắn.
à Những bất hạnh của Vũ Nương khiến cho người đọc đồng cảm xót thương và
lên án bất bình đối với xã hội phong kiến. Đó cũng là số phận của người phụ nữ
Việt Nam xưa kia.
Luận điểm 2: Mặc dù có số phận bất hạnh nhưng Vũ Nương vẫn hiện lên
những vẻ đẹp cao quý
a, Nguyễn Dữ miêu tả khái quát vẻ đẹp nhan sắc của Vũ Nương
- Ngay mở đầu chuyện, vẻ đẹp của Vũ Nương được khái quát qua bốn từ “ tư dung tốt
đẹp ”, Nguyễn Dữ sử dụng nghệ thuật ước lệ, lời giới thiệu hết sức ngắn gọn nhưng
cũng đủ để người đọc hình dung Vũ Nương có một vẻ đẹp ưa nhìn, đ ể l ại ấn t ượng
trong lòng bạn đọc. Nếu như các nhà thơ, nhà văn trung đại khi miêu tả v ẻ đ ẹp c ủa các
cô gái thường rất tỉ mỉ tới từng đường nét. Chẳng hạn khi miêu tả chân dung của Thúy
Vân, Nguyễn Dữ viết:
Vân Xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
- Còn Nguyễn Dữ tái hiện vẻ đẹp của Vũ Nương theo cách riêng của mình.
- Trương Sinh mặc dù ít học ít đi ra ngoài nhưng cũng biết đ ến “ Vũ Nương ” mến vì
dung hạnh xin mẹ 100 lạng vàng cưới về làm vợ.
b, Không chỉ có vẻ đẹp ngoại hình, Vũ Nương còn có vẻ đẹp tâm hồn cao quý
Vẻ đẹp 1: Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo
- Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sống cùng mẹ chồng, thay chồng làm tròn b ổn
phận của con cái.
- Vì thương nhớ con trai nên mẹ chồng ốm Vũ Nương “ hết sức thuốc thang, lễ bái thần
phật và ngọt ngào khuyên lơn ”. Không chỉ bằng lời nói ngọt ngào mà Vũ Nương còn có
hành động cụ thể động viên mẹ chồng nhanh khỏi bệnh.
- Nhưng vì bệnh tình mỗi ngày một nặng với tuổi cao sức yếu nên mẹ chồng mất, Vũ
Nương “ hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ lo liệu như đối với cha mẹ đ ẻ
mình ”.
- Tấm lòng hiếu thảo của Vũ Nương được chính mẹ chồng trăng trối trước khi nhắm
mắt thể hiện sự biết ơn đối với công lao của Vũ Nương và cầu phúc tr ời xét lòng lành,
ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quy ết ch ẳng ph ụ
con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
à Trong xã hội phong kiến giữa mẹ chồng và nàng dâu thường bất hòa, căng
thẳng, nhưng Vũ Nương được mẹ chồng yêu mến bởi nàng đã làm tròn bổn phận
của một người con dâu không chỉ bởi trách nhiệm mà còn xuất phát từ sự chân
thành, tình yêu thương chính điều đó đã khiến cho người đọc trân trọng người
ca.
Vẻ đẹp 2: Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang, tháo vát
- Một mình Vũ Nương sinh con, nuôi dạy con thơ, chăm sóc mẹ chồng khi ốm đau, lo
tang ma khi mẹ mất. Có thể nói một mình nàng gánh vác cả giang sơn nhà ch ồng.
Vẻ đẹp 3: Đặc biệt Vũ Nương có tình yêu chồng sâu sắc
* Tình yêu chồng của Vũ Nương trước hết được thể hiện khi mới làm vợ Trương
Sinh
- Vũ Nương hiểu tính chồng nên “ Giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng
phải đến thất hòa ”. Điều đó chứng tỏ rằng nàng biết cư xử khéo léo thông minh luôn
có ý thức để giữ gìn hạnh phúc gia đình.
* Tình yêu của Vũ Nương được thể hiện khi tiễn chồng đi lính
- Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng, tâm sự bằng cả trái tim:
+) “ Chàng đi chuyến này … thế là đủ rồi” chứng tỏ Vũ Nương không màng danh lợi “
Võng anh đi trước, võng nàng theo sau ”. Mà khao khát ngày chồng trở về được bình
yên. Ước mong của nàng thật giản dị và cao đẹp bởi nàng coi trọng gia đình h ơn m ọi
thứ công danh phù phiếm ở đời.
+) “ Chỉ e việc quân khó liệu ... mẹ hiền lo lắng ” đã thể hiện Vũ Nương rất lo lắng cho
những vất vả mà Trương Sinh gặp phải nơi chiến trận.
+) Nàng còn thể hiện nỗi nhớ, sự khắc khoải chờ đợi của mình “ Nhìn trăng soi thành
cũ lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang l ại th ổn th ức tâm tình
thương người đất thú ”.
à Nhà văn sử dụng những câu văn biền ngẫu, hình ảnh sóng đôi cân xứng nhịp
nhàng như nhịp đập thổn thức của trái tim người vợ trẻ đã diễn tả những cung
bậc cảm xúc đầy yêu thương của Vũ Nương dành cho chồng.
* Tình yêu chồng của Vũ Nương được thể hiện trong những ngày tháng xa chồng
- “ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc b ể chân tr ời
không thể nào ngăn được ”.
à Người viết sử dụng nghệ thuật ước lệ, mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả sự
trôi chảy của thời gian. Thời gian trôi nhanh, cảnh vật thay đổi, mùa xuân t ươi
đẹp đi qua, mùa đông ảm đạm lại đến, còn lòng người thì vẫn dằng dặc nỗi nhớ
mong.
- Nỗi nhớ chồng còn được thể hiện kín đáo, nàng trỏ bóng mình trên vách và nghĩ đó là
chồng. Nàng coi Trương Sinh là bóng, còn mình là hình mà hình với bóng thì qu ấn quýt
không rời.
- Chính Vũ Nương đã từng nói “ Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn
từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa, chưa hề bén gót ”. Nàng luôn chung thủy, chờ
chồng trở về, từ bỏ thú vui trang điểm làm đẹp để toàn tâm toàn ý lo cho gia đình,
khẳng định không bao giờ đến những nơi không đúng đắn.
* Tình yêu của Vũ Nương dành cho chồng còn được thể hiện khi Trương Sinh trở
về và bị nghi oan
- Hết hạn đi lính, Trương Sinh trở về, lẽ ra Vũ Nương đ ược đ ền đáp và sống nh ững
ngày tháng hạnh phúc nhưng nghe lời con nhỏ nên Trương Sinh nghi ngờ Vũ N ương
thất tiết. Ban đầu thì chàng là um lên cho hả giận, sau đó mắng nhi ếc, đánh đuổi Vũ
Nương ra khỏi nhà.
- Trước lời mắng nhiếc của Trương Sinh, Vũ Nương đã ra sức thanh minh.
+) Lời thoại 1: “ Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thoả
tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm gi ữ gìn m ột ti ết. Tô son
điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có s ự m ất n ết
hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ng ờ. Mong chàng đ ừng m ột
mực nghi oan cho thiếp ”. Vũ Nương đã nói ra hoàn cảnh của gia đình mình và khẳng
định tấm lòng chung thủy dành cho chồng. Nàng cầu xin chồng đừng nghi oan và tìm
cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan v ỡ.
+) Lời thoại 2: “ Trương Sinh vẫn không tin, họ hàng bênh vực cũng chẳng ăn thua gì ”
nên Vũ Nương thanh minh “ thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia
nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, li ễu tàn tr ước
gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, n ước th ẳm bu ồm xa, đâu
còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa ”. Nàng thể hiện nỗi đau, sự thất vọng, hạnh
phúc gia đình, thú vui nghi gia nghi thất, niềm khao khát cả đời c ủa nàng đã tan v ỡ,
tình yêu đã không còn, cả nỗi đau chờ chồng hóa đá trước đây cũng không th ể làm l ại
được nữa.
+) Lời thoại 3: “ Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, đi ều đâu bay
buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thi ếp n ếu đoan
trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị N ương, xu ống đ ất xin làm
cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm m ồi cho cá
tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp m ọi ng ười phỉ nh ổ ”. Đó là ngôn
ngữ độc thoại nội tâm, lời than như một lời nguyền thề ai oán thể hiện nàng quy ết lấy
cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình.
* Khi ở dưới thủy cung
- Nghe Phan Lang kể về gia đình, chồng con, nàng vẫn thương nhớ, khóc và khẳng định
sẽ trở về, Vũ Nương trên chiếc kiệu hoa giữa lòng sông để được nhìn thấy ch ồng con
và quê hương lần cuối. Nàng khao khát hạnh phúc gia đình kể c ả khi đã ch ết đi r ồi.
à Cảm nhận: Dù ở trên trần gian hay ở dưới thủy cung, Vũ Nương vẫn thể hiện
tình yêu và nỗi nhớ của mình dành cho Trương Sinh. Điều đó khiến người đọc
khâm phục ngợi ca.
Vẻ đẹp 4: Vũ Nương là một người phụ nữ bao dung độ lượng
- Ở dưới thủy cung, luôn có cuộc sống đầy đủ, sung túc về v ật chất nhưng khi nghe
Phan Lang kể chuyện, nàng đã sẵn sàng tha thứ cho chồng. Phải là người có tấm lòng
nhân hậu, vị tha, nàng mới trở về gặp Trương Sinh – kẻ đã gây oan ức, tai họa cho
nàng.
à Tấm lòng bao dung, độ lượng của nàng thật đáng quý và đáng trân trọng. Ở
bất kỳ hoàn cảnh nào, vẻ đẹp đó không thay đổi.
Vẻ đẹp 5: Vũ Nương là một người phụ nữ trọng danh dự, nhân phẩm
- Ngay trong những ngày đầu mới về nhà chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép đ ể gia
đình hòa thuận, đầm ấm.
- Khi chồng đi lính, nàng “ ngõ liễu tường hoa, chưa hề bén gót ” chứng tỏ Vũ Nương rất
ý thức giữ gìn danh dự của mình.
- Khi bị chồng nghi oan, không thể níu kéo được hạnh phúc gia đình, nàng đã lấy c ả
tính mạng mình để chứng minh cho sự trong sáng, để đổi lấy danh d ự.
- Khi đã rời xa cõi nhân gian, ở chốn làn mây cung nước, nàng vẫn khao khát đ ược tr ở
về trần thế để minh oan cho mình và nàng đã trở về.
- Đến cuối truyện nàng nói với Trương Sinh “ Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề
sống chết cũng không bỏ ”. Chứng tỏ nàng rất trọng tình trọng nghĩa không quên người
đã cứu sống và cưu mang mình.
à Nhân cách của Vũ Nương thật cao đẹp.
Luận điểm 4: Nhân vật Vũ Nương được xây dựng bởi những đặc sắc về mặt
nghệ thuật
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tình huống truyện bất ngờ, độc đáo.
- Ông khai thác thành công văn bản dân gian kết hợp với yếu tố hi ện thực và y ếu t ố kì
ảo.
- Nhân vật Vũ Nương hiện lên qua lời nói, cử chỉ, hành động.
- Nguyễn Dữ đã thành công trong việc sáng tạo một số chi tiết giàu ý nghĩa, đặc biệt
thì là chi tiết cái bóng thắt nút, mở nút câu chuyện.
III Đánh giá
- Nghệ thuật: “ Chuyện người con gái Nam Xương ” mang những nét đặc sắc về mặt
nghệ thuật thể hiện cách viết riêng của Nguyễn Dữ.
- Nội dung: Nhân vật Vũ Nương có cuộc đời số phận bất hạnh và vẻ đ ẹp tâm h ồn tiêu
biểu cho người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến.
- Tình cảm và thái độ của Nguyễn Dữ: Ông phải là một nhà văn giàu tình yêu th ương
con người, cảm thông cho những bất hạnh của người phụ nữ và trân trọng những vẻ
đẹp tâm hồn của họ kết hợp với tài năng mới có thể viết nên một câu chuyện hay nh ư
thế.
- Mở rộng: Từ nhân vật Vũ Nương, người đọc nhớ đến người phụ nữ trong bài “ Bánh
trôi nước ” của Hồ Xuân Hương, nàng Thúy Kiều trong “ Truyện Kiều ” của Nguyễn Dữ
mang cách nhìn mới mẻ thân phận, cuộc đời, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ.
C, Kết bài
- Ấn tượng về nhân vật: Vũ Nương có đầy đủ phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền
thống nhưng cuộc đời nàng lại là những trang buồn đầy nước mắt.
- Liên hệ bản thân (nêu cảm xúc của bản thân): Từ nhân vật Vũ Nương thời phong
kiến đến hình ảnh người phụ nữ trong xã hội ngày nay ta thấy được người phụ nữ
trong giai đoạn mới được làm chủ bản thân, tự quyết định cuộc đời, tương lai c ủa
chính mình.
CHỊ EM THÚY KIỀU
(Trích “ Truyện Kiều ” – Nguyễn Du)
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
I Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
- Là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới.
- Nguyễn Du đặc biệt thương yêu trân trọng con người, đặc biệt là người phụ nữ
trong xã hội phong kiến.
2. Truyện Kiều
- Được coi là “ kiệt tác ngàn đời ” hoặc được coi là một công trình kiến trúc bằng nghệ
thuật ngôn từ.
3. Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ”
a, Vị trí
Phần 1: “ Gặp gỡ và đính ước ”
b, Bố cục: 3 phần
- Mở đầu đoạn trích tác giả giới thiệu vẻ đẹp chung của hai chị em. Ti ếp theo ông miêu
tả vẻ đẹp cụ thể của Thúy Vân, Thúy Kiều. Khép lại đoạn trích là cuộc s ống c ủa hai ch ị
em.
4. Giá trị
- Nội dung: Đoạn trích đã khắc họa vẻ đẹp của Thúy Kiều, Thúy Vân. Ng ợi ca v ẻ đ ẹp,
nhan sắc của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh là bi ểu hi ện c ủa
nguồn cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.
- Nghệ thuật:
II Giải đề
Đề 1: Cảm nhận 8 khổ thơ đầu
Đề 2: Cảm nhận vẻ đẹp của Thúy Kiều
Đề 3: Phân tích đoạn trích
Hướng dẫn giải đề 3 ( Đề 1 + Đề 2)
A, Mở bài:
- Tác giả: (đã có)
- Giới thiệu: “ Truyện Kiều ” à đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ” là tiêu biểu cho nghệ
thuật tả người của Nguyễn Du.
- Vấn đề nghị luận:
+) Nếu là đề 1: Đoạn trích đã tái hiện vẻ đẹp chung của Thúy Kiều, Thúy Vân và
Nguyễn Du tập trung miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân.
+) Nếu là đề 2: Đoạn trích đã tái hiện vẻ đẹp của Thúy Kiều.
+) Nếu là đề 3: Nêu ND cả đoạn (đã có)
(Trích thơ. Lưu ý nếu ≤ 8 câu thì viết hết. Nếu nhiều hơn 8 câu thì trích 1 câu dùng dấu
“ ... ”, viết câu cuối).
- Cảm xúc: Chính vì vậy đoạn trích đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng b ạn đ ọc su ốt
bao năm qua.
B, Thân bài:
- Xuất xứ, vị trí: (đã có)
- Bố cục:
+) Nếu là đề 1: Đoạn trích thuộc 8 câu đầu.
+) Nếu là đề 2: Đoạn trích thuộc 12 câu thơ giữa, tiếp nối mạch c ảm xúc sau khi gi ới
thiệu vẻ đẹp chung của hai chị em, miêu tả nhan sắc của Thúy Vân thì Nguyễn Du tái
hiện tài sắc của Thúy Kiều.
+) Nếu là đề 3: Bố cục (đã có).
III Cụ thể:
Luận điểm 1: Trước hết, Nguyễn Du đã giới thiệu vẻ đẹp chung của hai chị em
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
- Nguyễn Du đã giới thiệu khái quát về hai chị em. Từ “ ả ” trong câu thơ “ Đầu lòng hai
ả tố nga ” là từ cổ gợi không khí cổ xưa chỉ người con gái, người phụ nữ. “ Tố nga ” là
từ Hán Việt để chỉ chị em Thúy Kiều là những cô gái rất xinh đẹp. Vẻ đ ẹp đó gi ống
như chị Hằng Nga trên cung Quảng Hàn theo truyền thuyết của Trung Quốc.
- Câu thơ “ Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân ” đơn thuần giống như một câu kể để giới
thiệu vai vế của từng nhân vật. Đó là cách giới thiệu hợp lý, phù hợp v ới chu ẩn m ực
chị trước em sau.
- Hai câu thơ tiếp theo đã tái hiện vẻ đẹp của hai chi em:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
- Với hai hình ảnh ước lệ tượng trưng đồng thời là ẩn dụ, lời thơ trang nhã k ết h ợp v ới
tiểu đối đã gợi cho người đọc thấy được vẻ đẹp của hai chị em. Người x ưa quan ni ệm
là người con gái đẹp phải có dáng người mảnh dẻ, thanh cao, cốt cách gi ống nh ư cây
mai. Bên cạnh đó họ còn có tâm hồn trong sáng như tuyết. Chỉ một câu thơ đã giúp
người đọc cảm nhận được hai chị em vừa mang vẻ đẹp hình thức, vừa mang vẻ đẹp
tâm hồn cao quý.
- Dù có vẻ đẹp chung nhưng “ Mỗi người một vẻ ” hàm ý vẻ đẹp của họ khác nhau.
Thành ngữ “ mười phân vẹn mười ” là để khẳng định vẻ đẹp của hai nàng đạt đến độ
hoàn thiện, hoàn mĩ.
à Bằng những lời giới thiệu ngắn gọn, qua bút pháp ước lệ, tác giả đã giới thiệu
hai thiếu nữ mang vẻ đẹp tuyệt sắc và cốt cách thanh tao tác động mạnh mẽ tới
người đọc.
Luận điểm 2: Tiếp theo, tác giả miêu tả cụ thể vẻ đẹp của Thúy Vân
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
* Trước hết Nguyễn Du miêu tả khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân
Vân xem trang trọng khác vời
- Từ “ xem ” là từ chọn lọc, có ý nghĩa là nhìn, ngắm.
- “ Trang trọng ” là từ Hán Việt, từ láy gợi vẻ đẹp của Thúy Vân đoan trang, quý phái.
Sự quý phái đó là “ khác vời ” nghĩa là tuyệt vời, là cái đẹp khó nói hết, cái đẹp c ủa
nhan sắc và cái đẹp ngoài nhan sắc. Vẻ đẹp của Thúy Vân hiếm thấy và hơn ng ười.
* Từ việc miêu tả vẻ đẹp khái quát của Thúy Vân, Nguyễn Du đã miêu tả cụ thể
vẻ đẹp của nàng
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
- Với sáu hình ảnh ước lệ tượng trưng đồng thời là liệt kê, ẩn dụ, nhân hóa đ ể làm n ổi
bật bức chân dung hiếm có của Thúy Vân. “ Khuôn trang đầy đặn ” là miêu tả khuôn
mặt đầy đặn, dịu hiền, rạng ngời như trăng rằm gợi tính cách phúc h ậu. “ Nét ngài nở
nang ” đã miêu tả đôi lông mày sắc nét, cong như con ngài, cân xứng trên khuôn m ặt
tròn làm tôn vẻ đẹp của đôi mắt. “ Hoa cười ” miêu tả nụ cười của Thúy Vân tươi thắm
như hoa mà hoa là kết tinh đẹp nhất của đất trời chứng tỏ Thúy Vân có một n ụ c ười
làm say đắm lòng người. “ Ngọc thốt đoan trang ” là miêu tả lời nói của Thúy Vân trong
như ngọc. Tác giả đã sử dụng từ chọn lọc “ thốt ” cho thấy Thúy Vân rất kiệu lời
nhưng mỗi lời nàng nói ra hết sức đoan trang, mẫu mực. Mái tóc c ủa Thúy Vân m ềm
mại, óng ả đẹp hơn cả mây trời khiến cho mây phải “ thua ”. Làn da của nàng trắng,
mịn màng, hồng hào đẹp hơn cả tuyết khiến tuyết phải “ nhường ”. Nhà thơ đã rất tài
tình khi sử dụng từ “ thua ” và “ nhường ” để nhấn mạnh vẻ đẹp của Thúy Vân hòa hợp
với thiên nhiên, được thiên nhiên chấp nhận dự báo một cuộc đ ời may mắn, bình yên,
hạnh phúc.
à Chỉ với bốn câu thơ đã hiện lên trước mắt người đọc hình ảnh Thúy Vân mang
nét đẹp dịu dàng, thân thiện. Từ đó, Nguyễn Du đã gửi tới thông điệp về tương
lai, về cuộc đời. Chính vì vậy mà chân dung của Thúy Vân là chân dung mang tính
cách số phận.
Luận điểm 3: Sau khi miêu tả Thúy Vân, tác giả còn gợi tả vẻ đẹp nhan sắc, tài
năng, tâm hồn của Thúy Kiều
- Nhà thơ miêu tả Thúy Vân rất kĩ nhưng với Thúy Kiều ông chỉ dung vài nét phác h ọa
thông thoáng, ông không muốn là một người thợ vẽ vung về:
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
- Nhà thơ sử dụng thủ pháp đòn bẩy qua từ “ càng ” để làm nổi bật Thúy Kiều mang vẻ
đẹp sắc sảo của trí tuệ, mặn mà về tâm hồn. “ So ” nghĩa là so sánh cả tài và sắc thì
Thúy Kiều hơn hẳn Thúy Vân. Ở hai câu đầu, tác giả giới thiệu chị trước em sau nhưng
đến đây, ông lại miêu tả Thúy Vân trước hẳn là có dụng ý lấy Thúy Vân làm n ền đ ể
làm nổi bật phải đẹp của Thúy Kiều.
* Trước hết, nhà văn miêu tả vẻ đẹp nhan sắc của Thúy Kiều bằng hai câu thơ
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
- Với bốn hình ảnh ước lệ tượng trưng đồng thời là liệt kê, nhân hóa, ẩn dụ làm toát
lên chân dung của Thúy Kiều. Ấn tượng đầu tiên là vẻ đẹp của đôi mắt b ởi đôi m ắt
chính là cửa sổ tâm hồn. Nhìn vào đôi mắt mà người ta thấy được sự tinh anh c ủa trí
tuệ và sự mặn mà của tâm hồn. Đôi mắt Thúy Kiều đẹp, trong sáng như làn n ước mùa
thu qua cụm từ “ Làn thu thủy ”. “ Nét xuân sơn ” là vẻ đẹp của đôi lông mày được so
sánh giống như dáng núi mùa xuân thanh tú, tươi tắn. Nụ cười của nàng tươi hơn c ả
hoa khiến hoa phải “ ghen ” vì thua. Dáng người yểu điệu, thướt tha, đẹp hơn cả liễu,
khiến liễu phải “ hờn ” vì kém xanh. Nguyễn Du đã sử dụng từ chọn lọc “ ghen ” và “
hờn ” chứng tỏ thiên nhiên đố kị, ghen ghét dự báo một cuộc đời b ất hạnh, sóng gió.
- Vẻ đẹp của nàng còn được Nguyễn Du sử dụng điển tích điển cố “ nghiêng nước
nghiêng thành ” có nghĩa cái đẹp đó khiến cho người ta say mê, đắm đuối đ ến n ỗi “
nghiêng thành nghiêng nước ”. Về nhan sắc Thúy Kiều là số một, về tài năng may ra thì
có người thứ hai.
à Kiều mang vẻ đẹp của nước non, của không gian mênh mông, của thời gian vô
tận. Bức tranh chân dung của nàng vượt trên chuẩn mực của thiên nhiên. Đó
cũng là bức tranh chân dung mang tính cách số phận.
* Không chỉ đẹp mà Thúy Kiều còn rất thông minh tài năng
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
- Thúy Kiều tụ đủ tài “ cầm, kì thi, họa ”. Tài nào của nàng cũng đến mức hiếm thấy, lí
tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến. Đặc biệt trong các tài năng đó thì tài đàn
của nàng là nổi bật nhất, vượt lên trên cả những nghệ sĩ nhạc. Nàng sáng tác “ Một
thiên bạc mệnh ” cho thấy một tâm hồn đa sầu đa cảm và dự báo về cuộc đ ời c ủa
nàng. Nguyễn Du đã sử dụng các từ ngữ diễn tả mức độ tuyệt đối: “ vốn sẵn, đủ mùi,
ăn đứt ” để khắc họa tài năng của Thúy Kiều vượt lên trên tất cả và là biểu hi ện c ủa
phẩm chất cao đẹp, trái tim trung hậu, nồng nhiệt, vị tha.
à Thúy Kiều mang vẻ đẹp của một trang tuyệt thế giai nhân, sắc nước hương
trời. Vẻ đẹp đó khiến cho thiên nhiên hờn ghen, dự báo cuộc đời bất hạnh.
Luận điểm 4: Khép lại đoạn trích, Nguyễn Du đã miêu tả cuộc sống của hai chị
em
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
- “ Phong lưu ” là từ Hán Việt kết với “ hồng quần ” để gợi tả hai chị em có một cuộc
sống sung sướng, hạnh phúc và cha mẹ hết lòng chăm sóc, quan tâm.
- Ẩn dụ “ Xuân xanh ” kết hợp với từ láy “ xấp xỉ ” đã tái hiện hai cô gái đang ở độ tuổi
đẹp nhất có thể tính đến chuyện trăm năm.
- “ Êm đềm ” là từ láy kết hợp với thành ngữ “ trướng rủ màn che ” gợi một cuộc sống
bình yên, hạnh phúc, kín đáo. Họ còn là những cô gái có giáo d ục khuôn phép, đ ức h ạnh
nên “ Tường đông ong bướm đi về mặc ai. ”
à Chỉ với 4 câu thơ mà người đọc cảm nhận được chị em Thúy Kiều là những cô
gái có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc bên gia đình, được cha mẹ bao bọc,
yêu thương khiến nhiều người đọc ao ước.
Luận điểm 5: Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ” có những đặc sắc về mặt nghệ
thuật
- Đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật tả người đạt đến độ điêu luyện của Nguy ễn Du.
- Bút pháp ước lệ tượng trưng quen thuộc trong thơ trung đại lấy vẻ đ ẹp c ủa thiên
nhiên làm chuẩn để gợi tả vẻ đẹp của con người.
- Sử dụng các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, liệt kê cùng với những t ừ Hán Vi ệt, t ừ
láy, thành ngữ dân gian, điển tích điển cố, từ chọn lọc, ...
IV Đánh giá
- Nội dung: Đoạn trích là minh chứng rõ nét cho tài năng thơ độc đáo, cho ngh ệ thu ật
tả người của Nguyễn Du.
- Nghệ thuật: Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ” khắc họa vẻ đẹp của Thúy Kiều, Thúy
Vân thể hiện cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.
1 Tình cảm, thái độ
- Nguyễn Du phải là một người nghệ sĩ có tài, có tâm mới có thể vi ết nên nh ững câu
thơ hay như thế.
2 Mở rộng
- Vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh c ủa Vũ N ương
trong “ Chuyện nghười con gái Nam Xương ” của Nguyễn Dữ, nàng Kiều Nguyệt Nga
trong truyện “ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ” của Nguyễn Đình Chiểu,... Với đoạn
trích “ Chị em Thúy Kiều ”, Nguyễn Du đã có cách miêu tả riêng để lại ấn tượng trong
lòng người đọc.
C, Kết bài
- Ấn tượng về đoạn trích: Đoạn trích với ngôn ngữ thơ tinh luyện giàu c ảm xúc, các
biện pháp tu từ được nhà thơ vận dụng sáng tạo, để tạo lên những vần thơ ước l ệ, ch ữ
tình, hàm ẩn sau bức chân dung truyện sắc đó là cả một tấm lòng quý mến chân tr ọng
của Nguyễn Du.
- Liên hệ bản thân (nêu cảm xúc của bản thân): Qua đó, chúng ta thấy được v ẻ đ ẹp, tài
năng con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh đầy nhân văn trong xã h ội
phong kiến.
KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH
(Trích “ Truyện Kiều ” – Nguyễn Du)
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
I Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
- Là thiên tài văn học, danh nhân văn hóa, nhà nhân đạo chủ nghĩa, có đóng góp to l ớn
đối với sự phát triển của văn học Việt Nam.
2. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
a, Vị trí
- Đoạn trích nằm ở phần thứ 2 (Gia biến và lưu lạc).
b, Bố cục: 3 phần
- Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã tái hiện bức tranh thiên nhiên trước l ầu Ng ưng
Bích và tâm trạng xót xa của Thúy Kiều. Tiếp theo là nỗi nhớ người thân của nàng.
Khép lại đoạn trích là tâm trạng lo sợ của Thúy Kiều.
3. Giá trị
- Nội dung: Văn bản và giúp ta cảm nhận bức tranh thiên nhiên hùng vĩ tr ước lầu
Ngưng Bích. Cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và vẻ đẹp của Thúy Kiều. Qua đoạn trích còn
thấy được tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du.
- Nghệ thuật: Nhà thơ đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Ngôn ngữ độc thoại cảnh
nội tâm. Vận dụng đa dạng các biện pháp tu từ: đối, đảo ngữ, li ệt kê, đi ệp ng ữ, câu h ỏi
tu từ... Sử dụng nhiều từ láy, vận dụng sáng tạo thành ngữ dân gian và các đi ển tích
điển cố.
II Phân tích bài thơ
A, Mở bài
- Tác giả: (đã có).
- Tác phẩm: (đã có).
- Vấn đề nghị luận: Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ” đã ca ngợi vẻ đẹp của hai chị em
Thúy Vân, Thúy Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng và cùng dự cảm về số phận
tương lai khác nhau của họ.
- Cảm xúc: Chính vì vậy, nhân vật Thúy KIều đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng b ạn
đọc trong suốt thời gian qua.
* Lưu ý
- Nếu là đề cảm nhận hoặc phân tích thì phải nêu vấn đề nghị luận c ủa đ ề đó. Trích
thơ đầy đủ.
B, Thân bài
I...
NĂM HỌC 2023 – 2024
Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
- Kiểm tra, đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh. Ngữ liệu là văn b ản n ằm
ngoài chương trình SGK, thuộc một trong các loại sau:
+) Văn bản thông tin
+) Văn bản nghị luận
+) Văn bản nghệ thuật
- Phần Đọc hiểu sẽ gồm 3 câu hỏi với các mức độ: Nhận bi ết; Thông hi ểu; V ận d ụng
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Kiểm tra, đánh giá năng lực trình bày, luận giải quan điểm, đánh giá c ủa h ọc sinh v ề
một vấn đề đời sống xã hội thông qua yêu cầu viết đoạn văn nghị luận xã h ội có dung
lượng khoảng 10 – 12 câu, thuộc một trong hai dạng sau:
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
Câu 2 (2,0 điểm)
Kiểm tra, đánh giá năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học của học sinh thông qua
yêu cầu viết bài nghị luận văn học.
Phạm vi kiến thức: Thuộc chương trình lớp 9
* Văn học trung đại
+) Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ
+) Truyện Kiều - Nguyễn Du (đoạn trích Chị em Thúy Kiều và Kiều ở lầu Ngưng Bích)
* Văn học hiện đại
+) Đồng chí - Chính Hữu
+) Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận
+) Bếp lửa - Bằng Việt
+) Ánh trăng - Nguyễn Duy
+) Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải
+) Viếng lăng bác - Viễn Phương
+) Sang thu - Hữu Thỉnh
* Văn xuôi
+) Làng - Kim Lân
+) Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long
+) Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh khuê
* Lưu ý
Đề thi không bao gồm những nội dung
ÔN TẬP CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI LỚP 9
Năm học: 2023 – 2024
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
( Trích “ Truyền kì mạn lục ” - Nguyễn Dữ )
I Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
- Là một trong những gương mặt nổi bật của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVI.
- Bản thân là người học rộng, tài cao, luôn mơ ước về một xã hội kỷ cương, nền n ếp.
- Đặc biệt, ông là một nhà văn giàu lòng nhân đạo, yêu thương, trân tr ọng con ng ười,
đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
2. Tác phẩm
a, Vị trí
- Là chuyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của “ Truyền kỳ mạn lục ” được Nguyễn
Dữ sáng tạo từ câu chuyện cổ tích “ Vợ chàng Trương ”.
c, Hoàn cảnh ra đời
- Chuyện được sáng tác nửa đầu thế kỷ XVI – là thời kì chế độ phong ki ến kh ủng
hoảng, loạn lí, những cuộc chiến tranh phi nghĩa xảy ra liên miên dẫn đ ến đ ời s ống
nhân dân khổ cực, biết bao gia đình tan vỡ.
3.Giá trị
- Nội dung: Cuộc đời, số phận bất hạnh của Vũ Nương. Ngợi ca những v ẻ đẹp tâm h ồn,
cao quý của nàng. Thông qua đó, thấy được tấm lòng nhân đạo của tác giả.
- Nghệ thuật:
II Phân tích
Đề: Cảm nhận nhân vật Vũ Nương
A, Mở bài
- Tác giả: đã có.
- Tác phẩm: là tập truyện ngắn nổi tiếng làm nên tên tuổi của Nguyễn Dữ, trong đó “
Chuyện người con gái Nam Xương ” là một tác phẩm tiêu biểu.
- Vấn đề nghị luận: Nội dung của chuyện.
- Cảm xúc: Chính vì vậy, nhân vật Vũ Nương đã để lại ấn tượng sâu s ắc trong lòng b ạn
đọc trong suốt thời gian qua.
B, Thân bài
I Khát quát chung
- Xuất xứ, vị trí: đã có.
- Kiểu nhân vật: Vũ Nương được đặt trong người mối quan hệ với mẹ chồng, con, Linh
Phi, để làm nổi bật nàng là một người con dâu hiếu thảo, một người vợ yêu ch ồng
thủy chung, một người mẹ thương con và là một người phụ nữ bao dung độ lượng.
II Cảm nhận cụ thể
Luận điểm 1: Trước hết, đọc truyện ngắn ta thấy Vũ Nương có cuộc đời, số
phận bất hạnh
+) Sinh ra trong một gia đình nghèo khó, không quyết định được tình yêu, hạnh phúc
của mình nên phải chấp nhận một cuộc hôn nhân không có tình yêu. Sự chênh l ệch đó
có thể kể đến là hoàn cảnh gia đình không môn đăng hộ đối, Vũ Nương con nhà nghèo,
còn Trương Sinh là con nhà hào phú. Mặt khác, còn là sự chênh lệch v ề tính cách. N ếu
như Vũ Nương có học thì Trương Sinh ít học. Nếu như Vũ Nương tính tình d ịu dàng
khéo léo thì Trương Sinh hồ đồ, đa nghi, hay ghen. Tất cả những điều đó với nh ững t ục
lệ cổ hủ, lạc hậu đã cướp đi quyền tự do trong hôn nhân của Vũ Nương và là nguyên
nhân dẫn đến những bất hạnh khổ đau sau này.
+) Vũ nương là nạn nhân của chế độ nam quyền cấm đoán. Đó là chế đ ộ tr ọng nam
khinh nữ. Chế độ ấy đã tạo ra những người đàn ông gia trưởng như Tr ương Sinh khi ến
cho Vũ Nương trở thành nạn nhân của bạo hành gia đình, bị đánh, mắng, đu ổi đi mà
không có quyền thanh minh.
- Vũ Nương phải chịu thiệt thòi, gánh vác công việc lớn nhỏ. Vũ N ương l ấy Tr ương
Sinh mong được nương tựa nhưng Trương Sinh lại đi lính để lại cho nàng ng ười m ẹ
già và đứa con sắp chào đời. Một mình nàng phải gánh vác mọi chuy ện t ừ nh ỏ đ ến l ớn.
- Vũ Nương là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Vì ít học nên Tr ương Sinh ph ải
đánh giặc Chiêm để bảo vệ ngai vàng của giai cấp thống trị. Vũ Nương ở nhà ph ải
sống trong sự đợi chờ mòn mỏi héo hon. Chiến tranh đã chia cắt hạnh phúc gia đình
khiến cho biết bao gia đình vì hiểu lầm mà tan vỡ.
- Vũ nương phải chịu nỗi oan vô cùng thảm khốc. Nàng bị Trương Sinh nghi ng ờ th ất
tiết. Nàng thanh minh mà không được. Họ hàng, làng xóm bênh vực và biện b ạch cho
nàng cũng chẳng ăn thua gì. Cuối cùng nàng tìm đến cái chết b ằng cách tr ẫm mình
xuống sông để chứng minh lòng chung thủy.
- Vũ Nương khao khát gia đình được đoàn tụ nhưng không thể thực hi ện đ ược. Khi
Phan Lang kể chuyện gia đình Vũ Nương mong muốn được trở về. Đến cuối truy ện
nàng trở về trên chiếc kiệu hoa giữa lòng sông nói vọng vào “ Thiếp chẳng thể trở về
nhân gian được nữa ” rồi biến mất. Tuy nỗi oan được giải nhưng hạnh phúc gia đình
đã tan vỡ khó có thể hàn gắn.
à Những bất hạnh của Vũ Nương khiến cho người đọc đồng cảm xót thương và
lên án bất bình đối với xã hội phong kiến. Đó cũng là số phận của người phụ nữ
Việt Nam xưa kia.
Luận điểm 2: Mặc dù có số phận bất hạnh nhưng Vũ Nương vẫn hiện lên
những vẻ đẹp cao quý
a, Nguyễn Dữ miêu tả khái quát vẻ đẹp nhan sắc của Vũ Nương
- Ngay mở đầu chuyện, vẻ đẹp của Vũ Nương được khái quát qua bốn từ “ tư dung tốt
đẹp ”, Nguyễn Dữ sử dụng nghệ thuật ước lệ, lời giới thiệu hết sức ngắn gọn nhưng
cũng đủ để người đọc hình dung Vũ Nương có một vẻ đẹp ưa nhìn, đ ể l ại ấn t ượng
trong lòng bạn đọc. Nếu như các nhà thơ, nhà văn trung đại khi miêu tả v ẻ đ ẹp c ủa các
cô gái thường rất tỉ mỉ tới từng đường nét. Chẳng hạn khi miêu tả chân dung của Thúy
Vân, Nguyễn Dữ viết:
Vân Xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
- Còn Nguyễn Dữ tái hiện vẻ đẹp của Vũ Nương theo cách riêng của mình.
- Trương Sinh mặc dù ít học ít đi ra ngoài nhưng cũng biết đ ến “ Vũ Nương ” mến vì
dung hạnh xin mẹ 100 lạng vàng cưới về làm vợ.
b, Không chỉ có vẻ đẹp ngoại hình, Vũ Nương còn có vẻ đẹp tâm hồn cao quý
Vẻ đẹp 1: Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo
- Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sống cùng mẹ chồng, thay chồng làm tròn b ổn
phận của con cái.
- Vì thương nhớ con trai nên mẹ chồng ốm Vũ Nương “ hết sức thuốc thang, lễ bái thần
phật và ngọt ngào khuyên lơn ”. Không chỉ bằng lời nói ngọt ngào mà Vũ Nương còn có
hành động cụ thể động viên mẹ chồng nhanh khỏi bệnh.
- Nhưng vì bệnh tình mỗi ngày một nặng với tuổi cao sức yếu nên mẹ chồng mất, Vũ
Nương “ hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ lo liệu như đối với cha mẹ đ ẻ
mình ”.
- Tấm lòng hiếu thảo của Vũ Nương được chính mẹ chồng trăng trối trước khi nhắm
mắt thể hiện sự biết ơn đối với công lao của Vũ Nương và cầu phúc tr ời xét lòng lành,
ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quy ết ch ẳng ph ụ
con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
à Trong xã hội phong kiến giữa mẹ chồng và nàng dâu thường bất hòa, căng
thẳng, nhưng Vũ Nương được mẹ chồng yêu mến bởi nàng đã làm tròn bổn phận
của một người con dâu không chỉ bởi trách nhiệm mà còn xuất phát từ sự chân
thành, tình yêu thương chính điều đó đã khiến cho người đọc trân trọng người
ca.
Vẻ đẹp 2: Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang, tháo vát
- Một mình Vũ Nương sinh con, nuôi dạy con thơ, chăm sóc mẹ chồng khi ốm đau, lo
tang ma khi mẹ mất. Có thể nói một mình nàng gánh vác cả giang sơn nhà ch ồng.
Vẻ đẹp 3: Đặc biệt Vũ Nương có tình yêu chồng sâu sắc
* Tình yêu chồng của Vũ Nương trước hết được thể hiện khi mới làm vợ Trương
Sinh
- Vũ Nương hiểu tính chồng nên “ Giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng
phải đến thất hòa ”. Điều đó chứng tỏ rằng nàng biết cư xử khéo léo thông minh luôn
có ý thức để giữ gìn hạnh phúc gia đình.
* Tình yêu của Vũ Nương được thể hiện khi tiễn chồng đi lính
- Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng, tâm sự bằng cả trái tim:
+) “ Chàng đi chuyến này … thế là đủ rồi” chứng tỏ Vũ Nương không màng danh lợi “
Võng anh đi trước, võng nàng theo sau ”. Mà khao khát ngày chồng trở về được bình
yên. Ước mong của nàng thật giản dị và cao đẹp bởi nàng coi trọng gia đình h ơn m ọi
thứ công danh phù phiếm ở đời.
+) “ Chỉ e việc quân khó liệu ... mẹ hiền lo lắng ” đã thể hiện Vũ Nương rất lo lắng cho
những vất vả mà Trương Sinh gặp phải nơi chiến trận.
+) Nàng còn thể hiện nỗi nhớ, sự khắc khoải chờ đợi của mình “ Nhìn trăng soi thành
cũ lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang l ại th ổn th ức tâm tình
thương người đất thú ”.
à Nhà văn sử dụng những câu văn biền ngẫu, hình ảnh sóng đôi cân xứng nhịp
nhàng như nhịp đập thổn thức của trái tim người vợ trẻ đã diễn tả những cung
bậc cảm xúc đầy yêu thương của Vũ Nương dành cho chồng.
* Tình yêu chồng của Vũ Nương được thể hiện trong những ngày tháng xa chồng
- “ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc b ể chân tr ời
không thể nào ngăn được ”.
à Người viết sử dụng nghệ thuật ước lệ, mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả sự
trôi chảy của thời gian. Thời gian trôi nhanh, cảnh vật thay đổi, mùa xuân t ươi
đẹp đi qua, mùa đông ảm đạm lại đến, còn lòng người thì vẫn dằng dặc nỗi nhớ
mong.
- Nỗi nhớ chồng còn được thể hiện kín đáo, nàng trỏ bóng mình trên vách và nghĩ đó là
chồng. Nàng coi Trương Sinh là bóng, còn mình là hình mà hình với bóng thì qu ấn quýt
không rời.
- Chính Vũ Nương đã từng nói “ Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn
từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa, chưa hề bén gót ”. Nàng luôn chung thủy, chờ
chồng trở về, từ bỏ thú vui trang điểm làm đẹp để toàn tâm toàn ý lo cho gia đình,
khẳng định không bao giờ đến những nơi không đúng đắn.
* Tình yêu của Vũ Nương dành cho chồng còn được thể hiện khi Trương Sinh trở
về và bị nghi oan
- Hết hạn đi lính, Trương Sinh trở về, lẽ ra Vũ Nương đ ược đ ền đáp và sống nh ững
ngày tháng hạnh phúc nhưng nghe lời con nhỏ nên Trương Sinh nghi ngờ Vũ N ương
thất tiết. Ban đầu thì chàng là um lên cho hả giận, sau đó mắng nhi ếc, đánh đuổi Vũ
Nương ra khỏi nhà.
- Trước lời mắng nhiếc của Trương Sinh, Vũ Nương đã ra sức thanh minh.
+) Lời thoại 1: “ Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thoả
tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm gi ữ gìn m ột ti ết. Tô son
điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có s ự m ất n ết
hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ng ờ. Mong chàng đ ừng m ột
mực nghi oan cho thiếp ”. Vũ Nương đã nói ra hoàn cảnh của gia đình mình và khẳng
định tấm lòng chung thủy dành cho chồng. Nàng cầu xin chồng đừng nghi oan và tìm
cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan v ỡ.
+) Lời thoại 2: “ Trương Sinh vẫn không tin, họ hàng bênh vực cũng chẳng ăn thua gì ”
nên Vũ Nương thanh minh “ thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia
nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, li ễu tàn tr ước
gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, n ước th ẳm bu ồm xa, đâu
còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa ”. Nàng thể hiện nỗi đau, sự thất vọng, hạnh
phúc gia đình, thú vui nghi gia nghi thất, niềm khao khát cả đời c ủa nàng đã tan v ỡ,
tình yêu đã không còn, cả nỗi đau chờ chồng hóa đá trước đây cũng không th ể làm l ại
được nữa.
+) Lời thoại 3: “ Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, đi ều đâu bay
buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thi ếp n ếu đoan
trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị N ương, xu ống đ ất xin làm
cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm m ồi cho cá
tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp m ọi ng ười phỉ nh ổ ”. Đó là ngôn
ngữ độc thoại nội tâm, lời than như một lời nguyền thề ai oán thể hiện nàng quy ết lấy
cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình.
* Khi ở dưới thủy cung
- Nghe Phan Lang kể về gia đình, chồng con, nàng vẫn thương nhớ, khóc và khẳng định
sẽ trở về, Vũ Nương trên chiếc kiệu hoa giữa lòng sông để được nhìn thấy ch ồng con
và quê hương lần cuối. Nàng khao khát hạnh phúc gia đình kể c ả khi đã ch ết đi r ồi.
à Cảm nhận: Dù ở trên trần gian hay ở dưới thủy cung, Vũ Nương vẫn thể hiện
tình yêu và nỗi nhớ của mình dành cho Trương Sinh. Điều đó khiến người đọc
khâm phục ngợi ca.
Vẻ đẹp 4: Vũ Nương là một người phụ nữ bao dung độ lượng
- Ở dưới thủy cung, luôn có cuộc sống đầy đủ, sung túc về v ật chất nhưng khi nghe
Phan Lang kể chuyện, nàng đã sẵn sàng tha thứ cho chồng. Phải là người có tấm lòng
nhân hậu, vị tha, nàng mới trở về gặp Trương Sinh – kẻ đã gây oan ức, tai họa cho
nàng.
à Tấm lòng bao dung, độ lượng của nàng thật đáng quý và đáng trân trọng. Ở
bất kỳ hoàn cảnh nào, vẻ đẹp đó không thay đổi.
Vẻ đẹp 5: Vũ Nương là một người phụ nữ trọng danh dự, nhân phẩm
- Ngay trong những ngày đầu mới về nhà chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép đ ể gia
đình hòa thuận, đầm ấm.
- Khi chồng đi lính, nàng “ ngõ liễu tường hoa, chưa hề bén gót ” chứng tỏ Vũ Nương rất
ý thức giữ gìn danh dự của mình.
- Khi bị chồng nghi oan, không thể níu kéo được hạnh phúc gia đình, nàng đã lấy c ả
tính mạng mình để chứng minh cho sự trong sáng, để đổi lấy danh d ự.
- Khi đã rời xa cõi nhân gian, ở chốn làn mây cung nước, nàng vẫn khao khát đ ược tr ở
về trần thế để minh oan cho mình và nàng đã trở về.
- Đến cuối truyện nàng nói với Trương Sinh “ Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề
sống chết cũng không bỏ ”. Chứng tỏ nàng rất trọng tình trọng nghĩa không quên người
đã cứu sống và cưu mang mình.
à Nhân cách của Vũ Nương thật cao đẹp.
Luận điểm 4: Nhân vật Vũ Nương được xây dựng bởi những đặc sắc về mặt
nghệ thuật
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tình huống truyện bất ngờ, độc đáo.
- Ông khai thác thành công văn bản dân gian kết hợp với yếu tố hi ện thực và y ếu t ố kì
ảo.
- Nhân vật Vũ Nương hiện lên qua lời nói, cử chỉ, hành động.
- Nguyễn Dữ đã thành công trong việc sáng tạo một số chi tiết giàu ý nghĩa, đặc biệt
thì là chi tiết cái bóng thắt nút, mở nút câu chuyện.
III Đánh giá
- Nghệ thuật: “ Chuyện người con gái Nam Xương ” mang những nét đặc sắc về mặt
nghệ thuật thể hiện cách viết riêng của Nguyễn Dữ.
- Nội dung: Nhân vật Vũ Nương có cuộc đời số phận bất hạnh và vẻ đ ẹp tâm h ồn tiêu
biểu cho người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến.
- Tình cảm và thái độ của Nguyễn Dữ: Ông phải là một nhà văn giàu tình yêu th ương
con người, cảm thông cho những bất hạnh của người phụ nữ và trân trọng những vẻ
đẹp tâm hồn của họ kết hợp với tài năng mới có thể viết nên một câu chuyện hay nh ư
thế.
- Mở rộng: Từ nhân vật Vũ Nương, người đọc nhớ đến người phụ nữ trong bài “ Bánh
trôi nước ” của Hồ Xuân Hương, nàng Thúy Kiều trong “ Truyện Kiều ” của Nguyễn Dữ
mang cách nhìn mới mẻ thân phận, cuộc đời, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ.
C, Kết bài
- Ấn tượng về nhân vật: Vũ Nương có đầy đủ phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền
thống nhưng cuộc đời nàng lại là những trang buồn đầy nước mắt.
- Liên hệ bản thân (nêu cảm xúc của bản thân): Từ nhân vật Vũ Nương thời phong
kiến đến hình ảnh người phụ nữ trong xã hội ngày nay ta thấy được người phụ nữ
trong giai đoạn mới được làm chủ bản thân, tự quyết định cuộc đời, tương lai c ủa
chính mình.
CHỊ EM THÚY KIỀU
(Trích “ Truyện Kiều ” – Nguyễn Du)
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
I Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
- Là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới.
- Nguyễn Du đặc biệt thương yêu trân trọng con người, đặc biệt là người phụ nữ
trong xã hội phong kiến.
2. Truyện Kiều
- Được coi là “ kiệt tác ngàn đời ” hoặc được coi là một công trình kiến trúc bằng nghệ
thuật ngôn từ.
3. Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ”
a, Vị trí
Phần 1: “ Gặp gỡ và đính ước ”
b, Bố cục: 3 phần
- Mở đầu đoạn trích tác giả giới thiệu vẻ đẹp chung của hai chị em. Ti ếp theo ông miêu
tả vẻ đẹp cụ thể của Thúy Vân, Thúy Kiều. Khép lại đoạn trích là cuộc s ống c ủa hai ch ị
em.
4. Giá trị
- Nội dung: Đoạn trích đã khắc họa vẻ đẹp của Thúy Kiều, Thúy Vân. Ng ợi ca v ẻ đ ẹp,
nhan sắc của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh là bi ểu hi ện c ủa
nguồn cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.
- Nghệ thuật:
II Giải đề
Đề 1: Cảm nhận 8 khổ thơ đầu
Đề 2: Cảm nhận vẻ đẹp của Thúy Kiều
Đề 3: Phân tích đoạn trích
Hướng dẫn giải đề 3 ( Đề 1 + Đề 2)
A, Mở bài:
- Tác giả: (đã có)
- Giới thiệu: “ Truyện Kiều ” à đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ” là tiêu biểu cho nghệ
thuật tả người của Nguyễn Du.
- Vấn đề nghị luận:
+) Nếu là đề 1: Đoạn trích đã tái hiện vẻ đẹp chung của Thúy Kiều, Thúy Vân và
Nguyễn Du tập trung miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân.
+) Nếu là đề 2: Đoạn trích đã tái hiện vẻ đẹp của Thúy Kiều.
+) Nếu là đề 3: Nêu ND cả đoạn (đã có)
(Trích thơ. Lưu ý nếu ≤ 8 câu thì viết hết. Nếu nhiều hơn 8 câu thì trích 1 câu dùng dấu
“ ... ”, viết câu cuối).
- Cảm xúc: Chính vì vậy đoạn trích đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng b ạn đ ọc su ốt
bao năm qua.
B, Thân bài:
- Xuất xứ, vị trí: (đã có)
- Bố cục:
+) Nếu là đề 1: Đoạn trích thuộc 8 câu đầu.
+) Nếu là đề 2: Đoạn trích thuộc 12 câu thơ giữa, tiếp nối mạch c ảm xúc sau khi gi ới
thiệu vẻ đẹp chung của hai chị em, miêu tả nhan sắc của Thúy Vân thì Nguyễn Du tái
hiện tài sắc của Thúy Kiều.
+) Nếu là đề 3: Bố cục (đã có).
III Cụ thể:
Luận điểm 1: Trước hết, Nguyễn Du đã giới thiệu vẻ đẹp chung của hai chị em
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
- Nguyễn Du đã giới thiệu khái quát về hai chị em. Từ “ ả ” trong câu thơ “ Đầu lòng hai
ả tố nga ” là từ cổ gợi không khí cổ xưa chỉ người con gái, người phụ nữ. “ Tố nga ” là
từ Hán Việt để chỉ chị em Thúy Kiều là những cô gái rất xinh đẹp. Vẻ đ ẹp đó gi ống
như chị Hằng Nga trên cung Quảng Hàn theo truyền thuyết của Trung Quốc.
- Câu thơ “ Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân ” đơn thuần giống như một câu kể để giới
thiệu vai vế của từng nhân vật. Đó là cách giới thiệu hợp lý, phù hợp v ới chu ẩn m ực
chị trước em sau.
- Hai câu thơ tiếp theo đã tái hiện vẻ đẹp của hai chi em:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
- Với hai hình ảnh ước lệ tượng trưng đồng thời là ẩn dụ, lời thơ trang nhã k ết h ợp v ới
tiểu đối đã gợi cho người đọc thấy được vẻ đẹp của hai chị em. Người x ưa quan ni ệm
là người con gái đẹp phải có dáng người mảnh dẻ, thanh cao, cốt cách gi ống nh ư cây
mai. Bên cạnh đó họ còn có tâm hồn trong sáng như tuyết. Chỉ một câu thơ đã giúp
người đọc cảm nhận được hai chị em vừa mang vẻ đẹp hình thức, vừa mang vẻ đẹp
tâm hồn cao quý.
- Dù có vẻ đẹp chung nhưng “ Mỗi người một vẻ ” hàm ý vẻ đẹp của họ khác nhau.
Thành ngữ “ mười phân vẹn mười ” là để khẳng định vẻ đẹp của hai nàng đạt đến độ
hoàn thiện, hoàn mĩ.
à Bằng những lời giới thiệu ngắn gọn, qua bút pháp ước lệ, tác giả đã giới thiệu
hai thiếu nữ mang vẻ đẹp tuyệt sắc và cốt cách thanh tao tác động mạnh mẽ tới
người đọc.
Luận điểm 2: Tiếp theo, tác giả miêu tả cụ thể vẻ đẹp của Thúy Vân
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
* Trước hết Nguyễn Du miêu tả khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân
Vân xem trang trọng khác vời
- Từ “ xem ” là từ chọn lọc, có ý nghĩa là nhìn, ngắm.
- “ Trang trọng ” là từ Hán Việt, từ láy gợi vẻ đẹp của Thúy Vân đoan trang, quý phái.
Sự quý phái đó là “ khác vời ” nghĩa là tuyệt vời, là cái đẹp khó nói hết, cái đẹp c ủa
nhan sắc và cái đẹp ngoài nhan sắc. Vẻ đẹp của Thúy Vân hiếm thấy và hơn ng ười.
* Từ việc miêu tả vẻ đẹp khái quát của Thúy Vân, Nguyễn Du đã miêu tả cụ thể
vẻ đẹp của nàng
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
- Với sáu hình ảnh ước lệ tượng trưng đồng thời là liệt kê, ẩn dụ, nhân hóa đ ể làm n ổi
bật bức chân dung hiếm có của Thúy Vân. “ Khuôn trang đầy đặn ” là miêu tả khuôn
mặt đầy đặn, dịu hiền, rạng ngời như trăng rằm gợi tính cách phúc h ậu. “ Nét ngài nở
nang ” đã miêu tả đôi lông mày sắc nét, cong như con ngài, cân xứng trên khuôn m ặt
tròn làm tôn vẻ đẹp của đôi mắt. “ Hoa cười ” miêu tả nụ cười của Thúy Vân tươi thắm
như hoa mà hoa là kết tinh đẹp nhất của đất trời chứng tỏ Thúy Vân có một n ụ c ười
làm say đắm lòng người. “ Ngọc thốt đoan trang ” là miêu tả lời nói của Thúy Vân trong
như ngọc. Tác giả đã sử dụng từ chọn lọc “ thốt ” cho thấy Thúy Vân rất kiệu lời
nhưng mỗi lời nàng nói ra hết sức đoan trang, mẫu mực. Mái tóc c ủa Thúy Vân m ềm
mại, óng ả đẹp hơn cả mây trời khiến cho mây phải “ thua ”. Làn da của nàng trắng,
mịn màng, hồng hào đẹp hơn cả tuyết khiến tuyết phải “ nhường ”. Nhà thơ đã rất tài
tình khi sử dụng từ “ thua ” và “ nhường ” để nhấn mạnh vẻ đẹp của Thúy Vân hòa hợp
với thiên nhiên, được thiên nhiên chấp nhận dự báo một cuộc đ ời may mắn, bình yên,
hạnh phúc.
à Chỉ với bốn câu thơ đã hiện lên trước mắt người đọc hình ảnh Thúy Vân mang
nét đẹp dịu dàng, thân thiện. Từ đó, Nguyễn Du đã gửi tới thông điệp về tương
lai, về cuộc đời. Chính vì vậy mà chân dung của Thúy Vân là chân dung mang tính
cách số phận.
Luận điểm 3: Sau khi miêu tả Thúy Vân, tác giả còn gợi tả vẻ đẹp nhan sắc, tài
năng, tâm hồn của Thúy Kiều
- Nhà thơ miêu tả Thúy Vân rất kĩ nhưng với Thúy Kiều ông chỉ dung vài nét phác h ọa
thông thoáng, ông không muốn là một người thợ vẽ vung về:
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
- Nhà thơ sử dụng thủ pháp đòn bẩy qua từ “ càng ” để làm nổi bật Thúy Kiều mang vẻ
đẹp sắc sảo của trí tuệ, mặn mà về tâm hồn. “ So ” nghĩa là so sánh cả tài và sắc thì
Thúy Kiều hơn hẳn Thúy Vân. Ở hai câu đầu, tác giả giới thiệu chị trước em sau nhưng
đến đây, ông lại miêu tả Thúy Vân trước hẳn là có dụng ý lấy Thúy Vân làm n ền đ ể
làm nổi bật phải đẹp của Thúy Kiều.
* Trước hết, nhà văn miêu tả vẻ đẹp nhan sắc của Thúy Kiều bằng hai câu thơ
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
- Với bốn hình ảnh ước lệ tượng trưng đồng thời là liệt kê, nhân hóa, ẩn dụ làm toát
lên chân dung của Thúy Kiều. Ấn tượng đầu tiên là vẻ đẹp của đôi mắt b ởi đôi m ắt
chính là cửa sổ tâm hồn. Nhìn vào đôi mắt mà người ta thấy được sự tinh anh c ủa trí
tuệ và sự mặn mà của tâm hồn. Đôi mắt Thúy Kiều đẹp, trong sáng như làn n ước mùa
thu qua cụm từ “ Làn thu thủy ”. “ Nét xuân sơn ” là vẻ đẹp của đôi lông mày được so
sánh giống như dáng núi mùa xuân thanh tú, tươi tắn. Nụ cười của nàng tươi hơn c ả
hoa khiến hoa phải “ ghen ” vì thua. Dáng người yểu điệu, thướt tha, đẹp hơn cả liễu,
khiến liễu phải “ hờn ” vì kém xanh. Nguyễn Du đã sử dụng từ chọn lọc “ ghen ” và “
hờn ” chứng tỏ thiên nhiên đố kị, ghen ghét dự báo một cuộc đời b ất hạnh, sóng gió.
- Vẻ đẹp của nàng còn được Nguyễn Du sử dụng điển tích điển cố “ nghiêng nước
nghiêng thành ” có nghĩa cái đẹp đó khiến cho người ta say mê, đắm đuối đ ến n ỗi “
nghiêng thành nghiêng nước ”. Về nhan sắc Thúy Kiều là số một, về tài năng may ra thì
có người thứ hai.
à Kiều mang vẻ đẹp của nước non, của không gian mênh mông, của thời gian vô
tận. Bức tranh chân dung của nàng vượt trên chuẩn mực của thiên nhiên. Đó
cũng là bức tranh chân dung mang tính cách số phận.
* Không chỉ đẹp mà Thúy Kiều còn rất thông minh tài năng
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
- Thúy Kiều tụ đủ tài “ cầm, kì thi, họa ”. Tài nào của nàng cũng đến mức hiếm thấy, lí
tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến. Đặc biệt trong các tài năng đó thì tài đàn
của nàng là nổi bật nhất, vượt lên trên cả những nghệ sĩ nhạc. Nàng sáng tác “ Một
thiên bạc mệnh ” cho thấy một tâm hồn đa sầu đa cảm và dự báo về cuộc đ ời c ủa
nàng. Nguyễn Du đã sử dụng các từ ngữ diễn tả mức độ tuyệt đối: “ vốn sẵn, đủ mùi,
ăn đứt ” để khắc họa tài năng của Thúy Kiều vượt lên trên tất cả và là biểu hi ện c ủa
phẩm chất cao đẹp, trái tim trung hậu, nồng nhiệt, vị tha.
à Thúy Kiều mang vẻ đẹp của một trang tuyệt thế giai nhân, sắc nước hương
trời. Vẻ đẹp đó khiến cho thiên nhiên hờn ghen, dự báo cuộc đời bất hạnh.
Luận điểm 4: Khép lại đoạn trích, Nguyễn Du đã miêu tả cuộc sống của hai chị
em
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
- “ Phong lưu ” là từ Hán Việt kết với “ hồng quần ” để gợi tả hai chị em có một cuộc
sống sung sướng, hạnh phúc và cha mẹ hết lòng chăm sóc, quan tâm.
- Ẩn dụ “ Xuân xanh ” kết hợp với từ láy “ xấp xỉ ” đã tái hiện hai cô gái đang ở độ tuổi
đẹp nhất có thể tính đến chuyện trăm năm.
- “ Êm đềm ” là từ láy kết hợp với thành ngữ “ trướng rủ màn che ” gợi một cuộc sống
bình yên, hạnh phúc, kín đáo. Họ còn là những cô gái có giáo d ục khuôn phép, đ ức h ạnh
nên “ Tường đông ong bướm đi về mặc ai. ”
à Chỉ với 4 câu thơ mà người đọc cảm nhận được chị em Thúy Kiều là những cô
gái có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc bên gia đình, được cha mẹ bao bọc,
yêu thương khiến nhiều người đọc ao ước.
Luận điểm 5: Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ” có những đặc sắc về mặt nghệ
thuật
- Đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật tả người đạt đến độ điêu luyện của Nguy ễn Du.
- Bút pháp ước lệ tượng trưng quen thuộc trong thơ trung đại lấy vẻ đ ẹp c ủa thiên
nhiên làm chuẩn để gợi tả vẻ đẹp của con người.
- Sử dụng các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, liệt kê cùng với những t ừ Hán Vi ệt, t ừ
láy, thành ngữ dân gian, điển tích điển cố, từ chọn lọc, ...
IV Đánh giá
- Nội dung: Đoạn trích là minh chứng rõ nét cho tài năng thơ độc đáo, cho ngh ệ thu ật
tả người của Nguyễn Du.
- Nghệ thuật: Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ” khắc họa vẻ đẹp của Thúy Kiều, Thúy
Vân thể hiện cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.
1 Tình cảm, thái độ
- Nguyễn Du phải là một người nghệ sĩ có tài, có tâm mới có thể vi ết nên nh ững câu
thơ hay như thế.
2 Mở rộng
- Vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh c ủa Vũ N ương
trong “ Chuyện nghười con gái Nam Xương ” của Nguyễn Dữ, nàng Kiều Nguyệt Nga
trong truyện “ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ” của Nguyễn Đình Chiểu,... Với đoạn
trích “ Chị em Thúy Kiều ”, Nguyễn Du đã có cách miêu tả riêng để lại ấn tượng trong
lòng người đọc.
C, Kết bài
- Ấn tượng về đoạn trích: Đoạn trích với ngôn ngữ thơ tinh luyện giàu c ảm xúc, các
biện pháp tu từ được nhà thơ vận dụng sáng tạo, để tạo lên những vần thơ ước l ệ, ch ữ
tình, hàm ẩn sau bức chân dung truyện sắc đó là cả một tấm lòng quý mến chân tr ọng
của Nguyễn Du.
- Liên hệ bản thân (nêu cảm xúc của bản thân): Qua đó, chúng ta thấy được v ẻ đ ẹp, tài
năng con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh đầy nhân văn trong xã h ội
phong kiến.
KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH
(Trích “ Truyện Kiều ” – Nguyễn Du)
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
I Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
- Là thiên tài văn học, danh nhân văn hóa, nhà nhân đạo chủ nghĩa, có đóng góp to l ớn
đối với sự phát triển của văn học Việt Nam.
2. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
a, Vị trí
- Đoạn trích nằm ở phần thứ 2 (Gia biến và lưu lạc).
b, Bố cục: 3 phần
- Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã tái hiện bức tranh thiên nhiên trước l ầu Ng ưng
Bích và tâm trạng xót xa của Thúy Kiều. Tiếp theo là nỗi nhớ người thân của nàng.
Khép lại đoạn trích là tâm trạng lo sợ của Thúy Kiều.
3. Giá trị
- Nội dung: Văn bản và giúp ta cảm nhận bức tranh thiên nhiên hùng vĩ tr ước lầu
Ngưng Bích. Cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và vẻ đẹp của Thúy Kiều. Qua đoạn trích còn
thấy được tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du.
- Nghệ thuật: Nhà thơ đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Ngôn ngữ độc thoại cảnh
nội tâm. Vận dụng đa dạng các biện pháp tu từ: đối, đảo ngữ, li ệt kê, đi ệp ng ữ, câu h ỏi
tu từ... Sử dụng nhiều từ láy, vận dụng sáng tạo thành ngữ dân gian và các đi ển tích
điển cố.
II Phân tích bài thơ
A, Mở bài
- Tác giả: (đã có).
- Tác phẩm: (đã có).
- Vấn đề nghị luận: Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều ” đã ca ngợi vẻ đẹp của hai chị em
Thúy Vân, Thúy Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng và cùng dự cảm về số phận
tương lai khác nhau của họ.
- Cảm xúc: Chính vì vậy, nhân vật Thúy KIều đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng b ạn
đọc trong suốt thời gian qua.
* Lưu ý
- Nếu là đề cảm nhận hoặc phân tích thì phải nêu vấn đề nghị luận c ủa đ ề đó. Trích
thơ đầy đủ.
B, Thân bài
I...
 








Các ý kiến mới nhất