Bài 4. Chuyện người con gái Nam Xương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tiến Dũng
Ngày gửi: 19h:23' 30-04-2023
Dung lượng: 22.2 KB
Số lượt tải: 34
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tiến Dũng
Ngày gửi: 19h:23' 30-04-2023
Dung lượng: 22.2 KB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích “ Truyền kì mạn lục ” của Nguyễn Dữ)
I Kiến thức cơ bản:
1. Tác giả:
- Là một trong những gương mặt nổi bật của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVI.
- Bản thân là người học rộng, tài cao, luôn mơ ước về một xã hội kỷ cương, nền nếp.
- Đặc biệt, ông là một nhà văn giàu lòng nhân đạo, yêu thương, trân trọng con người, đặc
biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
2. Tác phẩm:
- Là chuyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của Truyền kỳ mạn lục, được Nguyễn Dữ sáng
tạo từ câu chuyện cổ tích “ Vợ chàng Trương ”.
- Hoàn cảnh ra đời: Chuyện được sáng tác nửa đầu thế kỷ XVI – là thời kì chế độ phong kiến
khủng hoảng, loạn lí, những cuộc chiến tranh phi nghĩa xảy ra liên miên dẫn đến đời sống
nhân dân khổ cực, biết bao gia đình tan vỡ.
3.Giá trị:
a,ND:
- Cuộc đời, số phận bất hạnh của Vũ Nương.
- Ngợi ca những vẻ đẹp tâm hồn, cao quý của nàng.
- Thông qua đó, thấy được tấm lòng nhân đạo của tác giả.
b,NT:
Đề: Cảm nhận nhân vật Vũ Nương
A, Mở bài:
- Tác giả: đã có.
- Tác phẩm: là tập truyện ngắn nổi tiếng làm nên tên tuổi của Nguyễn Dữ, trong đó “ Chuyện
người con gái Nam Xương ” là một tác phẩm tiêu biểu.
- Vấn đề nghị luận: Nội dung của chuyện.
- Cảm xúc: Chính vì vậy, nhân vật Vũ Nương đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc
trong suốt thời gian qua.
B, Thân bài:
I Khát quát chung:
- Xuất xứ, vị trí: đã có.
- Kiểu nhân vật: Vũ Nương được đặt trong người mối quan hệ với mẹ chồng, con, Linh Phi,
để làm nổi bật nàng là một người con dâu hiếu thảo, một người vợ yêu chồng thủy chung,
một người mẹ thương con và là một người phụ nữ bao dung độ lượng.1
II Cảm nhận cụ thể:
Luận điểm 1: Trước hết, đọc truyện ngắn ta thấy Vũ Nương có cuộc đời, số phận bất
hạnh
- Trước hết, đọc truyện ngắn ta thấy Vũ Nương có cuộc đời, số phận bất hạnh.
+) Sinh ra trong một gia đình nghèo khó, không quyết định được tình yêu, hạnh phúc của
mình nên phải chấp nhận một cuộc hôn nhân không có tình yêu. Sự chênh lệch đó có thể kể
đến là hoàn cảnh gia đình không môn đăng hộ đối, Vũ Nương con nhà nghèo, còn Trương
Sinh là con nhà hào phú. Mặt khác, còn là sự chênh lệch về tính cách. Nếu như Vũ Nương có
học thì Trương Sinh ít học. Nếu như Vũ Nương tính tình dịu dàng khéo léo thì Trương Sinh
hồ đồ, đa nghi, hay ghen. Tất cả những điều đó với những tục lệ cổ hủ, lạc hậu đã cướp đi
quyền tự do trong hôn nhân của Vũ Nương và là nguyên nhân dẫn đến những bất hạnh khổ
đau sau này.
+) Vũ nương là nạn nhân của chế độ nam quyền cấm đoán. Đó là chế độ trọng nam khinh nữ.
Chế độ ấy đã tạo ra những người đàn ông gia trưởng như Trương Sinh khiến cho Vũ Nương
trở thành nạn nhân của bạo hành gia đình, bị đánh, mắng, đuổi đi mà không có quyền thanh
minh.
- Vũ Nương phải chịu thiệt thòi, gánh vác công việc lớn nhỏ. Vũ Nương lấy Trương Sinh
mong được nương tựa nhưng Trương Sinh lại đi lính để lại cho nàng người mẹ già và đứa
con sắp chào đời. Một mình nàng phải gánh vác mọi chuyện từ nhỏ đến lớn.
- Vũ Nương là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Vì ít học nên Trương Sinh phải đánh giặc
Chiêm để bảo vệ ngai vàng của giai cấp thống trị. Vũ Nương ở nhà phải sống trong sự đợi
chờ mòn mỏi héo hon. Chiến tranh đã chia cắt hạnh phúc gia đình khiến cho biết bao gia
đình vì hiểu lầm mà tan vỡ.
- Vũ Nương phải chịu nỗi oan vô cùng thảm khốc. Nàng bị Trương Sinh nghi ngờ thất tiết.
Nàng thanh minh mà không được. Họ hàng, làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng cũng
chẳng ăn thua gì. Cuối cùng nàng tìm đến cái chết bằng cách trẫm mình xuống sông để
chứng minh lòng chung thủy.
- Vũ Nương khao khát gia đình được đoàn tụ nhưng không thể thực hiện được. Khi Phan
Lang kể chuyện gia đình Vũ Nương mong muốn được trở về. Đến cuối truyện nàng trở về
trên chiếc kiệu hoa giữa dòng sông nói vọng vào “ Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được
nữa ” rồi biến mất. Tuy nỗi oan được giải nhưng hạnh phúc gia đình đã tan vở khó có thể
hàn gắn.
Những bất hạnh của Vũ Nương khiến cho người đọc đồng cảm xót thương và lên
án bất bình đối với xã hội phong kiến. Đó cũng là số phận của người phụ nữ Việt Nam
xưa kia.
Luận điểm 2: Mặc dù có số bất hạnh, nhưng cũng biết đến Vũ Nương vẫn hiện lên
những vẻ đẹp cao quý
a, Vẻ đẹp nhan sắc:
- Ngay mở đầu chuyện, vẻ đẹp của Vũ Nương được khái quát qua bốn từ “ tư dung tốt đẹp ”
Nguyễn Dữ sử dụng nghệ thuật ước lệ, lời giới thiệu hết sức ngắn gọn nhưng cũng đủ để
người đọc hình dung Vũ Nương có một vẻ đẹp ưa nhìn, để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc.
Nếu như các nhà thơ, nhà văn trung đại khi miêu tả vẻ đẹp của các cô gái thường rất tỉ mỉ
tới từng đường nét. Chẳng hạn khi miêu tả chân dung của Thúy Vân, Nguyễn Dữ viết:
Vân Xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
- Còn Nguyễn Dữ tái hiện vẻ đẹp của Vũ Nương theo cách riêng của mình.
- Trương Sinh mặc dù ít học ít đi ra ngoài nhưng cũng không biết đến “ Vũ Nương ” mến vì
dung hạnh xin mẹ 100 lạng vàng cưới về làm vợ.
b, Không chỉ có vẻ đẹp ngoại hình Vũ Nương còn có vẻ đẹp tâm hồn cao quý:
Vẻ đẹp 1: Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo
- Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sống cùng mẹ chồng, thay chồng làm tròn bổn phận
của con cái.
- Vì thương nhớ con trai nên mẹ chồng ốm Vũ Nương “ hết sức thuốc thang, lễ bái thần
phật và ngọt ngào khuyên lơn ”. Không chỉ bằng lời nói ngọt ngào mà Vũ Nương còn có
hành động cụ thể động viên mẹ chồng nhanh khỏi bệnh.
- Nhưng vì bệnh tình mỗi ngày một nặng với tuổi cao sức yếu nên mẹ chồng mất, Vũ Nương
“hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”
- Tấm lòng hiếu thảo của Vũ Nương được chính mẹ chồng trăng trối trước khi nhắm mắt thể
hiện sự biết ơn đối với công lao của Vũ Nương và cầu phúc trời xét lòng lành, ban cho phúc
đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã
chẳng phụ mẹ.
Trong xã hội phong kiến giữa mẹ chồng và nàng dâu thường bất hòa, căng thẳng,
nhưng Vũ Nương được mẹ chồng yêu mến bởi nàng đã làm tròn bổn phận của một
người con dâu không chỉ bởi trách nhiệm mà còn xuất phát từ sự chân thành, tình yêu
thương chính điều đó đã khiến cho người đọc trân trọng người ca.
Vẻ đẹp 2: Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang, tháo vát
- Một mình Vũ Nương sinh con, nuôi dạy con thơ, chăm sóc mẹ chồng khi ốm đau, lo tang
ma khi mẹ mất. Có thể nói một mình nàng gánh vác cả giang sơn nhà chồng.
Vẻ đẹp 3: Đặc biệt Vũ Nương có tình yêu chồng sâu sắc
* Tình yêu chồng của Vũ Nương trước hết được thể hiện khi mới làm vợ Trương Sinh :
- Vũ Nương hiểu tính chồng nên: “ Giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng
phải đến thất hòa ”. Điều đó chứng tỏ rằng nàng biết cư xử khéo léo thông minh luôn có ý
thức để giữ gìn hạnh phúc gia đình.
* Tình yêu của Vũ Nương được thể hiện khi tiễn chồng đi lính:
- Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng.
- Tâm sự bằng cả trái tim.
+)“ Chàng đi chuyến này...thế là đủ rồi ”. Điều đó chứng tỏ Vũ Nương không màng danh
lợi “ Võng anh đi trước, võng nàng theo sau ”. Mà khao khát ngày chồng trở về được bình
yên. Ước mong của nàng thật giản dị và cao đẹp bởi nàng coi trọng gia đình hơn mọi thứ
công danh, phù phiếm ở đời.
+) “ Chỉ e việc quân khó liệu...mẹ hiền lo lắng ”.Đã thể hiện Vũ Nương rất lo lắng cho
những vất vả mà Trương Sinh gặp phải nơi chiến trận.
+) Nàng còn thể hiện nỗi nhớ, sự khắc khoải chờ đợi của mình: “ Nhìn trăng soi thành cũ lại
sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang lại thổn thức tâm tình thương
người đất thú ”.
Nhà văn sử dụng những câu văn biền ngẫu, hình ảnh sóng đôi cân xứng nhịp nhàng
như nhịp đập thổn thức của trái tim người vợ trẻ đã diễn tả những cung bậc cảm xúc
đầy yêu thương của Vũ Nương dành cho chồng.
* Tình yêu chồng của Vũ Nương được thể hiện trong những ngày tháng xa chồng:
- “ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không
thể nào ngăn được ”.
Người viết sử dụng nghệ thuật ước lệ, mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả sự trôi
chảy của thời gian. Thời gian trôi nhanh, cảnh vật thay đổi, mùa xuân tươi đẹp đi qua,
mùa đông ảm đạm lại đến, còn lòng người thì vẫn dằng dặc nỗi nhớ mong.
- Nỗi nhớ chồng còn được thể hiện kín đáo, nàng trỏ bóng mình trên vách và nghĩ đó là
chồng. Nàng coi Trương Sinh là bóng, còn mình là hình mà hình với bóng thì quấn quýt
không rời.
- Chính Vũ Nương đã từng nói “ Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng
đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa, chưa hề bén gót ”. Nàng luôn chung thủy, chờ chồng trở
về, từ bỏ thú vui trang điểm làm đẹp để toàn tâm toàn ý lo cho gia đình, khẳng định không
bao giờ đến những nơi không đúng đắn.
* Tình yêu của Vũ Nương dành cho chồng còn được thể hiện khi Trương Sinh trở về
và bị nghi oan:
- Hết hạn đi lính, Trương Sinh trở về, lẽ ra Vũ Nương được đền đáp và sống những ngày
tháng hạnh phúc nhưng nghe lời con nhỏ nên Trương Sinh nghi ngờ Vũ Nương thất tiết. Ban
đầu, thì chàng là um lên cho hả giận, sau đó mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà.
- Trước lời nói của Trương Sinh, Vũ Nương đã ra sức thanh minh.
+) Lời thoại 1:“ Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thoả tình
chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm
phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân
như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi
oan cho thiếp ”. Vũ Nương đã nói ra hoàn cảnh của gia đình mình và khẳng định tấm lòng
chung thủy dành cho chồng. Nàng cầu xin chồng đừng nghi oan và tìm cách hàn gắn hạnh
phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.
+) Lời thoại 2: “ Trương Sinh vẫn không tin, họ hàng bênh vực Cũng chẳng ăn thua gì ” nên
Vũ Nương “ thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã
bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông
hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi
Vọng Phu kia nữa ”. Nàng thể hiện nỗi đau, sự thất vọng. Hạnh phúc gia đình, thú vui nghi
gia nghi thất, niềm khao khát cả đời của nàng đã tan vỡ, tình yêu đã không còn, cả nỗi đau
chờ chồng hóa đá trước đây cũng không thể làm lại được nữa.
+) Lời thoại 3: “ Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay
buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang
giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu
mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin
làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ ”. Đó là ngôn ngữ độc thoại nội
tâm, lời than như một lời nguyền, lời thề ai oán thể hiện nàng quyết lấy cái chết để chứng
minh cho sự trong sạch của mình.
* Khi ở dưới thủy cung:
- Nghe Phan Lang kể về gia đình, chồng con, nàng vẫn thương nhớ, khóc và khẳng định sẽ
trở về, Vũ Nương trên chiếc kiệu hoa giữa lòng sông để được nhìn thấy chồng con và quê
hương lần cuối. Nàng khao khát hạnh phúc gia đình kể cả khi đã chết đi rồi.
Cảm nhận: Dù ở trên trần gian hay ở dưới thủy cung, Vũ Nương vẫn thể hiện tình
yêu và nỗi nhớ của mình dành cho Trương Sinh. Điều đó khiến người đọc khâm phục
ngợi ca.
Vẻ đẹp 4: Vũ Nương là một người phụ nữ bao dung độ lượng
- Ở dưới thủy cung, luôn có cuộc sống đầy đủ, sung túc về vật chất nhưng khi nghe Phan
Lang kể chuyện, nàng đã sẵn sàng tha thứ cho chồng. Phải là người có tấm lòng nhân hậu, vị
tha, nàng mới trở về gặp Trương Sinh – kẻ đã gây oan ức, tai họa cho nàng.
Tấm lòng bao dung, độ lượng của nàng thật đáng quý và đáng trân trọng. Ở bất kỳ
hoàn cảnh nào, vẻ đẹp đó không thay đổi.
Vẻ đẹp 5: Vũ Nương là một người phụ nữ trọng danh dự, nhân phẩm
- Ngay trong những ngày đầu mới về nhà chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép để gia đình
hòa thuận, đầm ấm.
- Khi chồng đi lính, nàng “ ngõ liễu tường hoa, chưa hề bén gót ” chứng tỏ Vũ Nương rất ý
thức giữ gìn danh dự của mình.
- Khi bị chồng nghi oan, không thể níu kéo được hạnh phúc gia đình, nàng đã lấy cả tính
mạng mình để chứng minh cho sự trong sáng, để đổi lấy danh dự.
- Khi đã rời xa cõi nhân gian, ở chốn làn mây cung nước, nàng vẫn khao khát được trở về
trần thế để minh oan cho mình và nàng đã trở về.
- Đến cuối truyện nàng nói với Trương Sinh “ Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống
chết cũng không bỏ ”. Chứng tỏ nàng rất tình trọng nghĩa không quên người đã cứu sống và
cưu mang mình.
Nhân cách của Vũ Nương thật cao đẹp.
Luận điểm 4: Nhân vật Vũ Nương được xây dựng bởi những đặc sắc về mặt nghệ
thuật
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tình huống truyện bất ngờ, độc đáo.
- Khai thác thành công văn bản dân gian kết hợp với yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo.
- Nhân vật Vũ Nương hiện lên qua lời nói, cử chỉ, hành động.
- Nguyễn Dữ đã thành công trong việc sáng tạo một số chi tiết giàu ý nghĩa, đặc biệt thì là
chi tiết cái bóng thắt nút, mở nút câu chuyện.
III Đánh giá:
- Nghệ thuật: “ Chuyện người con gái Nam Xương ” mang những nét đặc sắc về mặt nghệ
thuật thể hiện cách viết riêng của Nguyễn Dữ.
- Nội dung: Nhân vật Vũ Nương có cuộc đời số phận bất hạnh và vẻ đẹp tâm hồn tiêu biểu
cho người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến.
- Tình cảm và thái độ của Nguyễn Dữ: phải là một nhà văn giàu tình yêu thương con người,
cảm thông cho những bất hạnh của người phụ nữ và trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn của họ
kết hợp với tài năng mới có thể viết nên một câu chuyện hay như thế.
- Mở rộng: Từ nhân vật Vũ Nương, người đọc nhớ đến người phụ nữ trong bài “ Bánh trôi
nước ” của Hồ Xuân Hương, nàng Thúy Kiều trong “ Truyện Kiều ” của Nguyễn Dữ mang
cách nhìn mới mẻ thân phận, cuộc đời, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ.
C, Kết bài:
- Ấn tượng về nhân vật.
- Liên hệ bản thân (nêu cảm xúc của bản thân). Từ nhân vật Vũ Nương thời phong kiến đến
hình ảnh người phụ nữ trong xã hội ngày nay ta thấy được người phụ nữ trong giai đoạn mới
được làm chủ bản thân, tự quyết định cuộc đời, tương lai của chính mình.
(Trích “ Truyền kì mạn lục ” của Nguyễn Dữ)
I Kiến thức cơ bản:
1. Tác giả:
- Là một trong những gương mặt nổi bật của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVI.
- Bản thân là người học rộng, tài cao, luôn mơ ước về một xã hội kỷ cương, nền nếp.
- Đặc biệt, ông là một nhà văn giàu lòng nhân đạo, yêu thương, trân trọng con người, đặc
biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
2. Tác phẩm:
- Là chuyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của Truyền kỳ mạn lục, được Nguyễn Dữ sáng
tạo từ câu chuyện cổ tích “ Vợ chàng Trương ”.
- Hoàn cảnh ra đời: Chuyện được sáng tác nửa đầu thế kỷ XVI – là thời kì chế độ phong kiến
khủng hoảng, loạn lí, những cuộc chiến tranh phi nghĩa xảy ra liên miên dẫn đến đời sống
nhân dân khổ cực, biết bao gia đình tan vỡ.
3.Giá trị:
a,ND:
- Cuộc đời, số phận bất hạnh của Vũ Nương.
- Ngợi ca những vẻ đẹp tâm hồn, cao quý của nàng.
- Thông qua đó, thấy được tấm lòng nhân đạo của tác giả.
b,NT:
Đề: Cảm nhận nhân vật Vũ Nương
A, Mở bài:
- Tác giả: đã có.
- Tác phẩm: là tập truyện ngắn nổi tiếng làm nên tên tuổi của Nguyễn Dữ, trong đó “ Chuyện
người con gái Nam Xương ” là một tác phẩm tiêu biểu.
- Vấn đề nghị luận: Nội dung của chuyện.
- Cảm xúc: Chính vì vậy, nhân vật Vũ Nương đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc
trong suốt thời gian qua.
B, Thân bài:
I Khát quát chung:
- Xuất xứ, vị trí: đã có.
- Kiểu nhân vật: Vũ Nương được đặt trong người mối quan hệ với mẹ chồng, con, Linh Phi,
để làm nổi bật nàng là một người con dâu hiếu thảo, một người vợ yêu chồng thủy chung,
một người mẹ thương con và là một người phụ nữ bao dung độ lượng.1
II Cảm nhận cụ thể:
Luận điểm 1: Trước hết, đọc truyện ngắn ta thấy Vũ Nương có cuộc đời, số phận bất
hạnh
- Trước hết, đọc truyện ngắn ta thấy Vũ Nương có cuộc đời, số phận bất hạnh.
+) Sinh ra trong một gia đình nghèo khó, không quyết định được tình yêu, hạnh phúc của
mình nên phải chấp nhận một cuộc hôn nhân không có tình yêu. Sự chênh lệch đó có thể kể
đến là hoàn cảnh gia đình không môn đăng hộ đối, Vũ Nương con nhà nghèo, còn Trương
Sinh là con nhà hào phú. Mặt khác, còn là sự chênh lệch về tính cách. Nếu như Vũ Nương có
học thì Trương Sinh ít học. Nếu như Vũ Nương tính tình dịu dàng khéo léo thì Trương Sinh
hồ đồ, đa nghi, hay ghen. Tất cả những điều đó với những tục lệ cổ hủ, lạc hậu đã cướp đi
quyền tự do trong hôn nhân của Vũ Nương và là nguyên nhân dẫn đến những bất hạnh khổ
đau sau này.
+) Vũ nương là nạn nhân của chế độ nam quyền cấm đoán. Đó là chế độ trọng nam khinh nữ.
Chế độ ấy đã tạo ra những người đàn ông gia trưởng như Trương Sinh khiến cho Vũ Nương
trở thành nạn nhân của bạo hành gia đình, bị đánh, mắng, đuổi đi mà không có quyền thanh
minh.
- Vũ Nương phải chịu thiệt thòi, gánh vác công việc lớn nhỏ. Vũ Nương lấy Trương Sinh
mong được nương tựa nhưng Trương Sinh lại đi lính để lại cho nàng người mẹ già và đứa
con sắp chào đời. Một mình nàng phải gánh vác mọi chuyện từ nhỏ đến lớn.
- Vũ Nương là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Vì ít học nên Trương Sinh phải đánh giặc
Chiêm để bảo vệ ngai vàng của giai cấp thống trị. Vũ Nương ở nhà phải sống trong sự đợi
chờ mòn mỏi héo hon. Chiến tranh đã chia cắt hạnh phúc gia đình khiến cho biết bao gia
đình vì hiểu lầm mà tan vỡ.
- Vũ Nương phải chịu nỗi oan vô cùng thảm khốc. Nàng bị Trương Sinh nghi ngờ thất tiết.
Nàng thanh minh mà không được. Họ hàng, làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng cũng
chẳng ăn thua gì. Cuối cùng nàng tìm đến cái chết bằng cách trẫm mình xuống sông để
chứng minh lòng chung thủy.
- Vũ Nương khao khát gia đình được đoàn tụ nhưng không thể thực hiện được. Khi Phan
Lang kể chuyện gia đình Vũ Nương mong muốn được trở về. Đến cuối truyện nàng trở về
trên chiếc kiệu hoa giữa dòng sông nói vọng vào “ Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được
nữa ” rồi biến mất. Tuy nỗi oan được giải nhưng hạnh phúc gia đình đã tan vở khó có thể
hàn gắn.
Những bất hạnh của Vũ Nương khiến cho người đọc đồng cảm xót thương và lên
án bất bình đối với xã hội phong kiến. Đó cũng là số phận của người phụ nữ Việt Nam
xưa kia.
Luận điểm 2: Mặc dù có số bất hạnh, nhưng cũng biết đến Vũ Nương vẫn hiện lên
những vẻ đẹp cao quý
a, Vẻ đẹp nhan sắc:
- Ngay mở đầu chuyện, vẻ đẹp của Vũ Nương được khái quát qua bốn từ “ tư dung tốt đẹp ”
Nguyễn Dữ sử dụng nghệ thuật ước lệ, lời giới thiệu hết sức ngắn gọn nhưng cũng đủ để
người đọc hình dung Vũ Nương có một vẻ đẹp ưa nhìn, để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc.
Nếu như các nhà thơ, nhà văn trung đại khi miêu tả vẻ đẹp của các cô gái thường rất tỉ mỉ
tới từng đường nét. Chẳng hạn khi miêu tả chân dung của Thúy Vân, Nguyễn Dữ viết:
Vân Xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
- Còn Nguyễn Dữ tái hiện vẻ đẹp của Vũ Nương theo cách riêng của mình.
- Trương Sinh mặc dù ít học ít đi ra ngoài nhưng cũng không biết đến “ Vũ Nương ” mến vì
dung hạnh xin mẹ 100 lạng vàng cưới về làm vợ.
b, Không chỉ có vẻ đẹp ngoại hình Vũ Nương còn có vẻ đẹp tâm hồn cao quý:
Vẻ đẹp 1: Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo
- Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sống cùng mẹ chồng, thay chồng làm tròn bổn phận
của con cái.
- Vì thương nhớ con trai nên mẹ chồng ốm Vũ Nương “ hết sức thuốc thang, lễ bái thần
phật và ngọt ngào khuyên lơn ”. Không chỉ bằng lời nói ngọt ngào mà Vũ Nương còn có
hành động cụ thể động viên mẹ chồng nhanh khỏi bệnh.
- Nhưng vì bệnh tình mỗi ngày một nặng với tuổi cao sức yếu nên mẹ chồng mất, Vũ Nương
“hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”
- Tấm lòng hiếu thảo của Vũ Nương được chính mẹ chồng trăng trối trước khi nhắm mắt thể
hiện sự biết ơn đối với công lao của Vũ Nương và cầu phúc trời xét lòng lành, ban cho phúc
đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã
chẳng phụ mẹ.
Trong xã hội phong kiến giữa mẹ chồng và nàng dâu thường bất hòa, căng thẳng,
nhưng Vũ Nương được mẹ chồng yêu mến bởi nàng đã làm tròn bổn phận của một
người con dâu không chỉ bởi trách nhiệm mà còn xuất phát từ sự chân thành, tình yêu
thương chính điều đó đã khiến cho người đọc trân trọng người ca.
Vẻ đẹp 2: Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang, tháo vát
- Một mình Vũ Nương sinh con, nuôi dạy con thơ, chăm sóc mẹ chồng khi ốm đau, lo tang
ma khi mẹ mất. Có thể nói một mình nàng gánh vác cả giang sơn nhà chồng.
Vẻ đẹp 3: Đặc biệt Vũ Nương có tình yêu chồng sâu sắc
* Tình yêu chồng của Vũ Nương trước hết được thể hiện khi mới làm vợ Trương Sinh :
- Vũ Nương hiểu tính chồng nên: “ Giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng
phải đến thất hòa ”. Điều đó chứng tỏ rằng nàng biết cư xử khéo léo thông minh luôn có ý
thức để giữ gìn hạnh phúc gia đình.
* Tình yêu của Vũ Nương được thể hiện khi tiễn chồng đi lính:
- Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng.
- Tâm sự bằng cả trái tim.
+)“ Chàng đi chuyến này...thế là đủ rồi ”. Điều đó chứng tỏ Vũ Nương không màng danh
lợi “ Võng anh đi trước, võng nàng theo sau ”. Mà khao khát ngày chồng trở về được bình
yên. Ước mong của nàng thật giản dị và cao đẹp bởi nàng coi trọng gia đình hơn mọi thứ
công danh, phù phiếm ở đời.
+) “ Chỉ e việc quân khó liệu...mẹ hiền lo lắng ”.Đã thể hiện Vũ Nương rất lo lắng cho
những vất vả mà Trương Sinh gặp phải nơi chiến trận.
+) Nàng còn thể hiện nỗi nhớ, sự khắc khoải chờ đợi của mình: “ Nhìn trăng soi thành cũ lại
sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang lại thổn thức tâm tình thương
người đất thú ”.
Nhà văn sử dụng những câu văn biền ngẫu, hình ảnh sóng đôi cân xứng nhịp nhàng
như nhịp đập thổn thức của trái tim người vợ trẻ đã diễn tả những cung bậc cảm xúc
đầy yêu thương của Vũ Nương dành cho chồng.
* Tình yêu chồng của Vũ Nương được thể hiện trong những ngày tháng xa chồng:
- “ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không
thể nào ngăn được ”.
Người viết sử dụng nghệ thuật ước lệ, mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả sự trôi
chảy của thời gian. Thời gian trôi nhanh, cảnh vật thay đổi, mùa xuân tươi đẹp đi qua,
mùa đông ảm đạm lại đến, còn lòng người thì vẫn dằng dặc nỗi nhớ mong.
- Nỗi nhớ chồng còn được thể hiện kín đáo, nàng trỏ bóng mình trên vách và nghĩ đó là
chồng. Nàng coi Trương Sinh là bóng, còn mình là hình mà hình với bóng thì quấn quýt
không rời.
- Chính Vũ Nương đã từng nói “ Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng
đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa, chưa hề bén gót ”. Nàng luôn chung thủy, chờ chồng trở
về, từ bỏ thú vui trang điểm làm đẹp để toàn tâm toàn ý lo cho gia đình, khẳng định không
bao giờ đến những nơi không đúng đắn.
* Tình yêu của Vũ Nương dành cho chồng còn được thể hiện khi Trương Sinh trở về
và bị nghi oan:
- Hết hạn đi lính, Trương Sinh trở về, lẽ ra Vũ Nương được đền đáp và sống những ngày
tháng hạnh phúc nhưng nghe lời con nhỏ nên Trương Sinh nghi ngờ Vũ Nương thất tiết. Ban
đầu, thì chàng là um lên cho hả giận, sau đó mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà.
- Trước lời nói của Trương Sinh, Vũ Nương đã ra sức thanh minh.
+) Lời thoại 1:“ Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thoả tình
chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm
phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân
như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi
oan cho thiếp ”. Vũ Nương đã nói ra hoàn cảnh của gia đình mình và khẳng định tấm lòng
chung thủy dành cho chồng. Nàng cầu xin chồng đừng nghi oan và tìm cách hàn gắn hạnh
phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.
+) Lời thoại 2: “ Trương Sinh vẫn không tin, họ hàng bênh vực Cũng chẳng ăn thua gì ” nên
Vũ Nương “ thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã
bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông
hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi
Vọng Phu kia nữa ”. Nàng thể hiện nỗi đau, sự thất vọng. Hạnh phúc gia đình, thú vui nghi
gia nghi thất, niềm khao khát cả đời của nàng đã tan vỡ, tình yêu đã không còn, cả nỗi đau
chờ chồng hóa đá trước đây cũng không thể làm lại được nữa.
+) Lời thoại 3: “ Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay
buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang
giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu
mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin
làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ ”. Đó là ngôn ngữ độc thoại nội
tâm, lời than như một lời nguyền, lời thề ai oán thể hiện nàng quyết lấy cái chết để chứng
minh cho sự trong sạch của mình.
* Khi ở dưới thủy cung:
- Nghe Phan Lang kể về gia đình, chồng con, nàng vẫn thương nhớ, khóc và khẳng định sẽ
trở về, Vũ Nương trên chiếc kiệu hoa giữa lòng sông để được nhìn thấy chồng con và quê
hương lần cuối. Nàng khao khát hạnh phúc gia đình kể cả khi đã chết đi rồi.
Cảm nhận: Dù ở trên trần gian hay ở dưới thủy cung, Vũ Nương vẫn thể hiện tình
yêu và nỗi nhớ của mình dành cho Trương Sinh. Điều đó khiến người đọc khâm phục
ngợi ca.
Vẻ đẹp 4: Vũ Nương là một người phụ nữ bao dung độ lượng
- Ở dưới thủy cung, luôn có cuộc sống đầy đủ, sung túc về vật chất nhưng khi nghe Phan
Lang kể chuyện, nàng đã sẵn sàng tha thứ cho chồng. Phải là người có tấm lòng nhân hậu, vị
tha, nàng mới trở về gặp Trương Sinh – kẻ đã gây oan ức, tai họa cho nàng.
Tấm lòng bao dung, độ lượng của nàng thật đáng quý và đáng trân trọng. Ở bất kỳ
hoàn cảnh nào, vẻ đẹp đó không thay đổi.
Vẻ đẹp 5: Vũ Nương là một người phụ nữ trọng danh dự, nhân phẩm
- Ngay trong những ngày đầu mới về nhà chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép để gia đình
hòa thuận, đầm ấm.
- Khi chồng đi lính, nàng “ ngõ liễu tường hoa, chưa hề bén gót ” chứng tỏ Vũ Nương rất ý
thức giữ gìn danh dự của mình.
- Khi bị chồng nghi oan, không thể níu kéo được hạnh phúc gia đình, nàng đã lấy cả tính
mạng mình để chứng minh cho sự trong sáng, để đổi lấy danh dự.
- Khi đã rời xa cõi nhân gian, ở chốn làn mây cung nước, nàng vẫn khao khát được trở về
trần thế để minh oan cho mình và nàng đã trở về.
- Đến cuối truyện nàng nói với Trương Sinh “ Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống
chết cũng không bỏ ”. Chứng tỏ nàng rất tình trọng nghĩa không quên người đã cứu sống và
cưu mang mình.
Nhân cách của Vũ Nương thật cao đẹp.
Luận điểm 4: Nhân vật Vũ Nương được xây dựng bởi những đặc sắc về mặt nghệ
thuật
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tình huống truyện bất ngờ, độc đáo.
- Khai thác thành công văn bản dân gian kết hợp với yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo.
- Nhân vật Vũ Nương hiện lên qua lời nói, cử chỉ, hành động.
- Nguyễn Dữ đã thành công trong việc sáng tạo một số chi tiết giàu ý nghĩa, đặc biệt thì là
chi tiết cái bóng thắt nút, mở nút câu chuyện.
III Đánh giá:
- Nghệ thuật: “ Chuyện người con gái Nam Xương ” mang những nét đặc sắc về mặt nghệ
thuật thể hiện cách viết riêng của Nguyễn Dữ.
- Nội dung: Nhân vật Vũ Nương có cuộc đời số phận bất hạnh và vẻ đẹp tâm hồn tiêu biểu
cho người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến.
- Tình cảm và thái độ của Nguyễn Dữ: phải là một nhà văn giàu tình yêu thương con người,
cảm thông cho những bất hạnh của người phụ nữ và trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn của họ
kết hợp với tài năng mới có thể viết nên một câu chuyện hay như thế.
- Mở rộng: Từ nhân vật Vũ Nương, người đọc nhớ đến người phụ nữ trong bài “ Bánh trôi
nước ” của Hồ Xuân Hương, nàng Thúy Kiều trong “ Truyện Kiều ” của Nguyễn Dữ mang
cách nhìn mới mẻ thân phận, cuộc đời, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ.
C, Kết bài:
- Ấn tượng về nhân vật.
- Liên hệ bản thân (nêu cảm xúc của bản thân). Từ nhân vật Vũ Nương thời phong kiến đến
hình ảnh người phụ nữ trong xã hội ngày nay ta thấy được người phụ nữ trong giai đoạn mới
được làm chủ bản thân, tự quyết định cuộc đời, tương lai của chính mình.
 








Các ý kiến mới nhất