Chuyên đề WDCNTT THCS

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đại Tiến
Ngày gửi: 14h:56' 11-06-2015
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đại Tiến
Ngày gửi: 14h:56' 11-06-2015
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
- Chuyên đề tự bồi dưỡng: CNTT trong soạn giảng.
Sử DụNG SƠ Đồ P2 TƯ DUY TRONG DạY HọC VĂN
W.Warrd nói : “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng
Đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển con người ở thời đại mới, trước những yêu cầu bức thiết trong phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ của khoa học công nghệ, và cũng phù hợp với tiến trình phát triển của nhân loại, nền giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây đã không ngừng đổi mới và phát triển về cả nội dung và phương pháp giảng dạy ... Một trong những phương pháp được áp dụng trong những năm học gần đây là phương pháp sơ đồ tư duy, nhưng môn học Ngữ văn có tính đặc thù, gồm 3 phân môn : Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn. Có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết . Vì thế đã có chúng tôi đã gặp những khó khăn nhất định khi áp dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học bộ môn Ngữ văn như :
- Sơ đồ tư duy có phải là công cụ ghi chép vạn năng với mọi bài học?
- Sơ đồ tư duy có thể vận dụng trong mọi trường hợp, mọi giai đoạn của quá trình nhận thức?
- Giáo viên có thể soạn bài dưới hình thức sơ đồ tư duy?
- Học sinh có thể ghi bài theo sơ đồ tư duy ?
- Trong dạy học Ngữ văn, BĐTD dùng vào các trường hợp nào sẽ phát huy hiệu quả?
Trước những băn khoăn ấy, chúng tôi chọn đề tài “ Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn” để thực hiện chuyên đề này . Chúng tôi rất mong đón nhận các ý kiến đóng góp, trao đổi, bổ sung của quý đồng nghiệp để những nội dung trình bày trong chuyên đề này phát huy giá trị trong thực tiễn dạy học.
Trước đây, cả giáo viên và học sinh đều sử dụng lối ghi chép tuần tự theo kiểu thông thường, bằng một màu mực đơn điệu . Lối ghi chép này có nhiều bất lợi :
- Thứ nhất : các từ khóa bị chìm khuất
Từ khóa là từ truyền tải các ý tưởng quan trọng của bài học – thường là danh từ hay động từ giúp ta hồi ức những chùm tia ý tưởng mỗi khi ta đọc hay nghe thấy nó. Lối ghi chép thông thường, những Từ khóa thường rải ra trên nhiều trang giấy và bị chìm khuất trong một rừng chữ không quan trọng bằng. Điều này trở thành trở ngại khi bộ não tìm mối liên kết có ích giữa các Khái niệm Trọng tâm.
- Thứ hai : Khó nhớ nội dung
Các ghi chép bằng một màu đơn điệu dễ gây nhàm chán thị giác, khiến não khiến não dễ khước từ và bỏ quên chúng đi. Hơn nữa, lối ghi chú thông thường là dãy liệt kê, bất tận và không có gì khác biệt ... => Khó nhớ nội dung
- Thứ ba : Lãng phí thời gian
Lối ghi chép thông thường trong mọi giai đoạn đều lãng phí thời gian vì nó :
- Buộc ta ghi cả những điều không cần thiết.
- Buộc ta đọc, thậm chí đọc đi đọc lại những đơn vị kiến thức không cần thiết.
- Buộc ta phải đi tìm Từ khóa.
- Thứ tư : Không kích thích não sáng tạo
Bản chất của lối ghi chép tuần tự theo kiểu thông thường là cản trở não tìm các mối liên kết, chống lại mọi hoạt động sáng tạo, làm trì trệ và kìm hãm quá trình tư duy...
=> Hậu quả :
- Mất khả năng tập trung.
- Đánh mất sự ham mê học hỏi( Hiển nhiên vốn có ở trẻ nhỏ - Học sinh)
- Mất tự tin vào trí nhớ của bản thân.
Như vậy, phương pháp ghi chép thông thường có hiệu quả tỉ lệ nghịch với công sức ở cả phía giáo viên và học sinh.... Điều đó đòi hỏi cần phải có một phương pháp ghi chép mới tỉ lệ thuận với công sức – Một phương pháp ghi chép khoa học, phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ, sáng tạo ở cả phía người dạy và người học.
Khái niệm sơ đồ tư duy :
Xuất phát từ khả năng xử lý và lưu giữ thông tin của não bộ, chúng ta có khái niệm “ Tư duy Mở rộng” mà “Sơ đồ tư duy” là biểu hiện của tư duy mở rộng...
- Tư duy mở rộng : theo động từ gốc “to radiate” gợi ý hình ảnh lan tỏa, mở rộng từ mọi hướng hay từ vùng trung tâm – Là những quá trình
Sử DụNG SƠ Đồ P2 TƯ DUY TRONG DạY HọC VĂN
W.Warrd nói : “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng
Đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển con người ở thời đại mới, trước những yêu cầu bức thiết trong phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ của khoa học công nghệ, và cũng phù hợp với tiến trình phát triển của nhân loại, nền giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây đã không ngừng đổi mới và phát triển về cả nội dung và phương pháp giảng dạy ... Một trong những phương pháp được áp dụng trong những năm học gần đây là phương pháp sơ đồ tư duy, nhưng môn học Ngữ văn có tính đặc thù, gồm 3 phân môn : Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn. Có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết . Vì thế đã có chúng tôi đã gặp những khó khăn nhất định khi áp dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học bộ môn Ngữ văn như :
- Sơ đồ tư duy có phải là công cụ ghi chép vạn năng với mọi bài học?
- Sơ đồ tư duy có thể vận dụng trong mọi trường hợp, mọi giai đoạn của quá trình nhận thức?
- Giáo viên có thể soạn bài dưới hình thức sơ đồ tư duy?
- Học sinh có thể ghi bài theo sơ đồ tư duy ?
- Trong dạy học Ngữ văn, BĐTD dùng vào các trường hợp nào sẽ phát huy hiệu quả?
Trước những băn khoăn ấy, chúng tôi chọn đề tài “ Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn” để thực hiện chuyên đề này . Chúng tôi rất mong đón nhận các ý kiến đóng góp, trao đổi, bổ sung của quý đồng nghiệp để những nội dung trình bày trong chuyên đề này phát huy giá trị trong thực tiễn dạy học.
Trước đây, cả giáo viên và học sinh đều sử dụng lối ghi chép tuần tự theo kiểu thông thường, bằng một màu mực đơn điệu . Lối ghi chép này có nhiều bất lợi :
- Thứ nhất : các từ khóa bị chìm khuất
Từ khóa là từ truyền tải các ý tưởng quan trọng của bài học – thường là danh từ hay động từ giúp ta hồi ức những chùm tia ý tưởng mỗi khi ta đọc hay nghe thấy nó. Lối ghi chép thông thường, những Từ khóa thường rải ra trên nhiều trang giấy và bị chìm khuất trong một rừng chữ không quan trọng bằng. Điều này trở thành trở ngại khi bộ não tìm mối liên kết có ích giữa các Khái niệm Trọng tâm.
- Thứ hai : Khó nhớ nội dung
Các ghi chép bằng một màu đơn điệu dễ gây nhàm chán thị giác, khiến não khiến não dễ khước từ và bỏ quên chúng đi. Hơn nữa, lối ghi chú thông thường là dãy liệt kê, bất tận và không có gì khác biệt ... => Khó nhớ nội dung
- Thứ ba : Lãng phí thời gian
Lối ghi chép thông thường trong mọi giai đoạn đều lãng phí thời gian vì nó :
- Buộc ta ghi cả những điều không cần thiết.
- Buộc ta đọc, thậm chí đọc đi đọc lại những đơn vị kiến thức không cần thiết.
- Buộc ta phải đi tìm Từ khóa.
- Thứ tư : Không kích thích não sáng tạo
Bản chất của lối ghi chép tuần tự theo kiểu thông thường là cản trở não tìm các mối liên kết, chống lại mọi hoạt động sáng tạo, làm trì trệ và kìm hãm quá trình tư duy...
=> Hậu quả :
- Mất khả năng tập trung.
- Đánh mất sự ham mê học hỏi( Hiển nhiên vốn có ở trẻ nhỏ - Học sinh)
- Mất tự tin vào trí nhớ của bản thân.
Như vậy, phương pháp ghi chép thông thường có hiệu quả tỉ lệ nghịch với công sức ở cả phía giáo viên và học sinh.... Điều đó đòi hỏi cần phải có một phương pháp ghi chép mới tỉ lệ thuận với công sức – Một phương pháp ghi chép khoa học, phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ, sáng tạo ở cả phía người dạy và người học.
Khái niệm sơ đồ tư duy :
Xuất phát từ khả năng xử lý và lưu giữ thông tin của não bộ, chúng ta có khái niệm “ Tư duy Mở rộng” mà “Sơ đồ tư duy” là biểu hiện của tư duy mở rộng...
- Tư duy mở rộng : theo động từ gốc “to radiate” gợi ý hình ảnh lan tỏa, mở rộng từ mọi hướng hay từ vùng trung tâm – Là những quá trình
 









Các ý kiến mới nhất