CHÚ BÉ CÓ TÀI MỞ KHÓA

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:25' 01-02-2024
Dung lượng: 452.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:25' 01-02-2024
Dung lượng: 452.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
1. Phần thứ nhất
2. Phần thứ hai
3. Phần thứ ba
4. Đoạn kết
Phần thứ nhất
N
am đưa trả mẹ tiền tàu , tiền ăn quà mẹ cho và nói:
– Mẹ ơi, con không đi thăm bố nữa đâu.
– Sao thế con? Hay là con tôi ốm rồi?
– Không phải, mẹ ạ. Con đi vắng lâu, ở nhà ai nấu cơm cho mẹ. Với
lại còn con thỏ đen, ai cắt cỏ, tìm lá cho nó?
Mẹ vuốt tóc Nam:
– Con tôi ngoan quá. Nhưng con không phải lo. Mẹ sẽ nuôi hộ thỏ.
Con cứ đi chơi với bố nửa tháng rồi về ôn hè cũng vừa. Đây là quà
thưởng của bố mẹ cho con. Năm vừa rồi con là học sinh tiên tiến
của lớp 5A1 mà.
1 Theo
hệ thống giáo dục mười năm.
Nam rơm rớm nước mắt, thầm cảm ơn mẹ rồi ra tàu đêm, về thành
phố cảng thăm bố.
Dạo này tàu khách rút bớt chuyến để dành đường cho tàu chở hàng
từ cảng về Thủ đô. Ngồi ở sân ga, Nam đợi mãi. Nhưng chỉ có
những chuyến tàu hàng dài dằng dặc vút qua, bánh tàu dập ình ình
trên đường sắt, vang động cả một khu ga mênh mông. Thùng sắt
lớn bằng cả một gian nhà, xếp thành hàng trên những dãy toa trần.
Sắt thép từng bó, máy cày đỏ chóe dưới nắng chiều. Lại một
chuyến tàu nữa qua. Bông trắng từng kiện lè ra cửa sổ. Đoàn tàu
hàng nào cũng dài, cũng nặng và bánh xe nghiến ầm ĩ trên đường
sắt. Bao nhiêu hành khách đợi tàu, kẻ ngồi, người đứng, ai cũng sốt
ruột. Cuối cùng, nhà ga thông báo: Chuyến tàu khách từ Hà Nội về
sẽ rời sân ga xuống thành phố cảng vào mười giờ đêm.
Mười giờ tàu chạy. Nam lên một toa đen, có ghế dài, ngồi thu mình
bên cạnh mấy chú bộ đội trẻ và nghịch. Mẹ bảo rằng, đi tàu, đi xe
cứ ngồi cạnh các chú bộ đội là yên trí nhất. Ai bắt nạt thì các chú ấy
bênh vực. Lên tàu, xuống xe, các chú ấy thường giúp đỡ người già
và trẻ con. Chẳng ai bắt nạt Nam, Nam cũng có thể tự mình lên
xuống tàu. Nhưng Nam thích ngồi gần mấy chú là vì những khẩu
súng còn mới, mới từ quai đến báng, đến nòng làm Nam mê mẩn.
Hai giờ sáng, tàu đến ga Hải Phòng. Nam thấy tiếc, giá tàu cứ chạy
mãi để Nam được ngồi gần mấy chú bộ đội. Nhưng phút chia tay đã
đến rồi, các chú đưa Nam ra cửa soát vé, rồi sân ga. Các chú đi
công tác ra đảo, phải ra bến Bính đợi tàu thủy đi Cát Bà. Đồng chí
chỉ huy thấy mấy chú còn bịn rịn bên Nam liền nói:
– Chuẩn bị, thành hàng!
Chỉ đến khi đó tiểu đội lính mới dứt ra được khỏi Nam. Một chú lính
vui tính bẹo tai Nam, nhoẻn cười:
– Chào cậu cả. Nếu đường tối thì ở lại sân ga, sáng hãy về nhé.
– Vâng ạ! – Nam trả lời, cố làm ra giọng đàng hoàng.
Đã hai giờ sáng, tất nhiên là Nam chẳng về nhà làm gì, vừa làm bố
mất ngủ, vừa sợ đường tối. Nam ngồi lại sân ga, dưới cái cột đèn
cao áp giữa sân. Chú chỉ huy đưa tiểu đội lính đi. Nam nhìn theo và
nghĩ lớn lên mình cũng sẽ như các chú ấy. Bây giờ thì hẵng ngồi lại
đây đợi trời sáng.
Đêm trên sân ga cũng vui như trên tàu. Nam ngắm nhìn tất cả mọi
người, mọi hoạt động, ngắm cả những người ngủ gà ngủ gật dưới
mái hiên đợi chuyến tàu sáng. Tàu hỏa, sân ga, thành phố… từ lâu
là những thứ gợi lên trong lòng Nam những cảm giác thèm
thuồng…
Nam bỗng thấy bố mặc một bộ quần áo tây rất đẹp, chân đi giày
đen, tươi cười bước lại gần Nam và nói:
– Con ở nhà quê ra bao giờ vậy?
Đúng là bố rồi, bố hay dùng tiếng “nhà quê” để chỉ làng Phượng Vĩ
xinh đẹp và vui tươi của Nam. Cộp! Đầu Nam đập vào một vật
cứng. Nam mở mắt ra. Thôi chết rồi, mình vừa ngủ gật và bố chỉ là
một giấc mơ ngắn. Một bàn tay mềm mềm vỗ lên vai Nam.
– Chú mình ngủ gật mà say nhỉ?
Nam dụi mắt. Một cậu bé hơn Nam khoảng hai, ba tuổi (nghĩa là độ
mười bốn, mười lăm là cùng), đầu tóc cắt vừa phải, mặc chiếc áo
sơ mi có túi, có cầu vai, ngắn tay, đang cho hai ngón tay cái chọc
vào dưới thắt lưng, nghiêng đầu nhìn Nam miệng huýt sáo khe khẽ.
– Em vừa trên tàu xuống – Nam lúng túng, muốn nói một câu gì đó
để làm quen.
Gương mặt của cậu bé kia rất khôi ngô, lanh lợi, đẹp như một cô
gái.
Cậu bé nhìn nghiêng xuống phía chân Nam và đến lúc này Nam
mới thấy rằng cậu ta hơi hơi lé. Hơi lé một chút thôi, nhưng cũng gọi
là lé.
Cậu ta ngừng huýt sáo:
– Này, lần sau thì đừng vội gì mà khai nhé. Có phải cái còi đâu mà
chưa thổi đã kêu. Chú mình đói hẳn?
Quả thật, Nam đã thấy đói. Nhưng Nam trả lời:
– Em không đói.
– Nói dối rồi. Trông chú mình vã mồ hôi thế kia. Này, ngốn đi. Bánh
còn nóng giòn đây.
Cậu ta đưa cho Nam nửa cái bánh mì. Còn nửa kia, cho vào miệng
nhai. Trông ngon quá. Thật khó mà từ chối lòng tốt của cậu ta được.
Vả lại, bánh mì… Bánh mì thì ở thành phố mới có thôi, thứ bánh
vừa nóng vừa giòn ấy. Còn ở làng Phượng Vĩ người ta bán những
que củi chứ không phải là bánh nữa. Nó vừa lạnh vừa khô không
khốc. Nam cầm nửa cái bánh nhỏ, cũng cho vào mồm, nhai không
kém ngon lành.
Chú nhãi vừa ăn vừa ngắm Nam. Cứ cắn một miếng bánh chú lại
hát:
Bé bé bằng gang
Cắn một miếng nữa rồi lại hát:
Đôi má vàng vàng
Một miếng nữa:
Bé đi câu cá
Một miếng nữa:
Cá câu cua càng …
– Này – Cậu ta nói – Chú mình đi đâu đó? Nam im lặng. Nam không
phải là cái còi.
– Tớ hỏi, chú mình đi đâu đó? Bây giờ tớ hỏi nghĩa là chú mình phải
trả lời, nghe không? Có phải hội đuôi không?
Hội đuôi là hội gì nhỉ? Nam chẳng biết trả lời thế nào.
– Em ở quê nhà lên thăm bố. Em sợ, sáng mới về nhà.
– Vậy hả? Thế chú mình tên là gì?
– Em tên là Nam.
– Nam gì mới được chứ? Như anh đây tên là Hùng. Nhưng là Hùng
Lé. Như thế mới gọi là tên chứ.
– Em con bố Thành. Chúng nó gọi em là Nam Thành để khỏi nhầ̀m
với Nam con bà Linh, gọi là Nam Linh.
– Nam Thành, quỷnh lắm. Không ra sao cả. Cứ gọi là Nam Quỷnh
cho rồi. Như thế oai hơn, rõ chưa?
Nam im lặng. Ai muốn gọi Nam thế nào thì gọi.
– Bây giờ ăn bánh rồi, chú ngồi đây, ngồi đúng chỗ này. Tí nữa anh
nhờ chú mày tí việc.
Hùng Lé huýt sáo, bỏ đi. Bóng nó khuất vào đám người lố nhố trên
sân ga.
Nam ngồi chờ. Chờ mãi, nhưng không thấy Hùng Lé trở lại nữa.
Thế mà trời đã sáng hẳn rồi. Nam chờ một lúc nữa.
Hùng Lé vẫn không trở lại, Nam đứng dậy, vươn vai, đi ra cổng,
bước vào đường phố còn ngái ngủ.
Đường phố sạch sẽ hơn đường trong làng, nhưng lại khó nhận ra vì
quá nhiều ngã ba, ngã tư. Nam đã đến nhà bố nhiều lần, vậy mà
phải lạc mất hai bận mới tìm được đường phố quen thuộc. Chả là vì
có một dãy xe cần cẩu mới tinh vừa đưa từ cảng lên che khuất mất
lối vào. Nam đi qua mà không nhận ra. Nhưng rồi nó vẫn nhìn thấy
ngôi nhà ba tầng đằng sau một dãy tường chạy dọc theo đường
phố. Nó vào sân, bước lên cầu thang giữa, đi dọc một đoạn theo
hành lang gác hai và đứng trước phòng của bố. Đúng là phòng của
bố rồi. Trước cửa có một cái chậu rửa mặt cũ đổ đầy đất. Trong
chậu trồng một cây đinh lăng bố mang từ vườn nhà lên. Còn cái
cửa sổ thì không nhầm đi đâu được. Thành cửa có một vết dao như
cái sẹo. Dạo Nam bảy tuổi, lên chơi với bố, Nam kề miếng gỗ vào
thành cửa sổ đẽo cái súng diêm. Lưỡi dao chém nhầm vào thanh
gỗ ngang phía dưới.
Nhưng cửa đã khóa chặt. Trên ván cửa, một hàng chữ phấn viết
vội: “Thành đi nghỉ mát, 25 tháng 6 mới về”. Nam muốn khóc òa lên
một tiếng thật to. Thế là không còn hi vọng gặp được bố. Bây giờ
biết làm thế nào đây? May mà Hùng Lé cho nửa chiếc bánh mì
không thì đói rã tay chân. Cái khóa bi còn mới như nói với Nam: Xin
lỗi bạn, bạn hãy đứng bên ngoài!
Nam quay người, xuống thang gác. Bây giờ chỉ còn mỗi việc là ra
ga, mua vé rồi lên chuyến tàu chợ sẽ chạy vào quãng bốn giờ chiều
nay để về nhà. Nhưng lấy tiền đâu mua vé nữa? Mẹ cho Nam đủ
tiền tàu, xuống thành phố đã có bố lo cho ăn uống, lúc về thì bố
mua vé tàu hay gửi Nam theo xe cơ quan về tận làng, còn lo gì nữa.
Hai mẹ con đã không tính được chuyện bất trắc này. Số tiền còn lại
trong túi chỉ vừa đủ mua một cái bánh mì thôi. Nam dừng lại góc
đường mua bánh, nhưng chưa ăn vội mà cho vào túi. Thôi, cứ ra ga
hẵng hay. Người ta nói nếu không có tiền mua vé thì có thể chen
vào, lên tàu rồi tìm cách trốn khi người ta soát vé. Cách ấy gọi là lậu
vé. Nam thì chịu, Nam không hề làm những chuyện như thế bao
giờ.
Chỉ còn một hi vọng thế này nữa thôi. Ra ga, ngồi chờ và nếu như
gặp một người quen nào đó cùng làng, nhất là một người bà con
thì… Nam có thể vay tạm một ít tiền mua vé. Hay là… quay lại cơ
quan bố? Ngượng chết đi được. Hay là hỏi vay tiền tàu của bác
Nga, bà hàng xóm của bố? Bác ấy sẽ nghĩ như thế nào? Đúng rồi,
thằng lỏi con chắc là bị mẹ đánh, bỏ quê nhà trốn lên với bố đây.
Vào đây, vào đây… Và thế là bác ấy căn dặn, giảng giải… phải thế
này nên thế kia, không thể như thế được…
Vừa nghĩ đến đó, chân đã bước tới sân ga. Nam ngồi xuống bậc
thềm nhà đợi, rút chiếc bánh, nhấ́m nháp từng miếng nhỏ, lòng
buồn như chấu cắn.
Là dân ở sân ga, mọi việc xảy ra trong khu đất lắm người và hàng
hóa này đều không qua khỏi mắt Hùng Lé. Nó chỉ như một chiếc lá
trong đám lá, một hạt thóc trong đống thóc, nhưng nó khác mọi
người ở chỗ này, trong khi người ta không hề để ý gì đến nó thì nó
lại để ý đến tất cả mọi người. Vì vậy, Nam Quỷnh vừa trở lại sân ga,
Hùng Lé nhìn thấy ngay. Từ xa, dựa vào một gốc cây bàng nhỏ,
Hùng lặng lẽ quan sát thằng bé nhà quê mất hút từ sáng sớm nay.
Hồi sáng, nó định nhờ thằng bé làm một việc nhỏ, nhưng rồi không
cần nữa. Thằng bé đã trở về kia rồi, đang ngồi nhai bánh ngon lành.
Hùng thủng thẳng bước tới.
– Trở lại hả? Sao chú mình không đến chỗ bố? Hay là nói dối đấy?
Nam mừng lắm. Dẫu sao cũng gọi là gặp người quen trong cảnh bơ
vơ này. May ra Hùng Lé có thể giúp Nam việc gì chăng?
– Em đến nhà bố, nhưng bố đi vắng, không vào được.
– Vậy hả? Bố chú mình đi những đâu?
– Bố đi nghỉ mát, một tuần nữa mới về.
Hùng Lé nghiêng đầu bên này, rồi bên kia, hai ngón tay bật vào
nhau tanh tách. Nó huýt một tiếng sáo miệng rồi hát:
Bố đi mất đâu
Bố đi lối nào
Ngồi khóc, ngồi khóc
Nhóc ơi là nhóc
Giờ biết tính sao?
– Bây giờ chú mình định thế nào hả?
– Em đợi tàu về quê đây – Nam nói.
Hùng Lé vỗ vai nó:
– Quỷnh ơi là Quỷnh! Sao chú mình ngốc thế hả? Cứ vào nhà bố
mà ngủ, nấu cơm, nấu mì ăn rồi rong chơi mấy ngày cho biết phố xá
thì đã sao? Về quê làm gì? Chăn trâu à? Chăn trâu sao vui bằng bát
phố hả?
– Nhưng em không có chìa khóa! Em không vào nhà được.
– Quỷnh ơi là Quỷnh! Đi theo tao, tao mở cho mà vào – Hùng Lé
kéo vai áo Nam, lôi nó đứng dậy.
– Anh có chìa khóa đâu mà mở? Bố em cầm chìa cơ mà?
– Bố chú mình gửi chìa khóa cho tao. Nhiều nhà trong phố đi đâu
vắng đều gửi chìa khóa cho tao. Rồi chú mình sẽ biết, tao mở cho
mà xem – Nó hạ giọng – Nhưng hàng xóm có ai hỏi thì bảo rằng bố
chú mình đưa chìa khóa nhé. Còn tao là anh họ, anh họ nhớ chưa?
Tao tên là Hùng. Tao là anh họ chú mình đấy.
Nam không còn đủ thì giờ để suy nghĩ nữa. Hùng Lé xốc nách nó
bước ra cổng ga. Nam đi cạnh Hùng như một đôi bạn thân, về nhà
của bố. “Phải đấy, ta sẽ quét dọn, lau chùi bàn ghế, đồ đạc cho bố.
Bố về chắc là sẽ ngạc nhiên lắm…” – Nam nghĩ.
Bác Nga là người hàng xóm hay tò mò của bố Nam. Chẳng những
hay tò mò mà bác còn thích tham gia vào chuyện người khác. Bác
là nhân viên kế toán của cơ quan nọ, bây giờ bác về mất sức, gọi là
về “một cục”, thường làm nghề đan len để kiếm thêm tiền. Bác gặp
Hùng và Nam ở cầu thang, gần phòng của bố.
– Chào bác ạ! – Không tránh được bác, Nam chào vui vẻ.
– Thằng Nam! Cháu lên bao giờ? Bố đi nghỉ mát rồi, cháu vào nhà
thế nào được.
Nam lí nhí đáp:
– Bố cháu đưa chìa khóa cho cháu, cháu sẽ ở đây rồi đợi bố cháu
về.
– Vậy hả? Nhưng phải cẩn thận đấy, đi đâu là phải khóa kĩ, nghe
chưa?
– Vâng ạ!
Lần đầu tiên Nam nói dối. Nó thấy tai nóng dừ lên vì xấu hổ.
– Cậu nào đây? – Bác Nga tò mò.
– Cháu là Hùng, anh họ Nam ạ – Hùng lễ phép nói.
– Anh họ cháu – Nam ngập ngừng.
– Ở quê ra hả? Cẩn thận nhé, đi đâu là phải khóa cửa ngay.
Thôi, bác đi chợ đã.
Hai anh em không gặp ai trong cầu thang và hành lang nữa. Mọi
người đều đi làm. Ở các gian nhà khác người ta khóa cửa, nhốt trẻ
con ở trong.
Hùng Lé nhìn ổ khóa. Nó bật ngón tay cái tách:
– Vừng ơi, mở cửa. Vừng ơi… mày biết chuyện ấy không hả Nam?
Truyện Alibaba ấy mà? Vừng ơi, mở cửa… thế là cái cửa hang
bằng đá mở ra cho bọn cướp vào.
Nó vừa huýt sáo vừa rút trong túi ra một chùm chìa khóa. Nam chưa
bao giờ nhìn thấy một chùm chìa khóa như vậy, hình như ở đấy có
mọi loại chìa khóa trên đời. Hùng lúi húi một chốc bên cái ổ khóa
và… một tiếng tách nhỏ, cái khóa bật ra. Cửa mở. Một mùi ẩm mốc
mát lạnh. Nam khoan khoái bước vào nhà bố – nhà của mình.
– Tao còn là Hùng-vạn-năng nữa kia đấy, chú mình ạ. Nhưng tao
thích cái tên Hùng Lé hơn. Hùng Lé, oai hơn phải không chú mình?
Chà, nhà bố chú mình mát quá. Nhưng bố chú mình nghèo thật đấy.
Trong nhà chẳng có cóc khô gì cả!
Nam chẳng hề để ý xem bố giàu hay nghèo. Nó hồi hộp nhìn thùng
đựng gạo của bố. Nó mở nắp thùng ra. May quá, còn những nửa
thùng. Rồi nó nhấc chiếc bếp dầu dưới nhà lên. Dầu sóng sánh ra
tay nó. Vậy là tuyệt rồi.
– Em nấu cơm, anh Hùng nhé!
– Phải đấy, nấu cơm mà ăn. Còn tao không ăn đâu. Tao ăn quán
quen rồi. Cũng có nhiều lúc đói như mẻ, nhưng bây giờ thì no căng,
no như quả bóng thế này này. Chà, nhà bố chú mình nghèo quá,
chẳng có cái cóc khô gì cả. Nhưng được cái mát thật, tao chợp mắt
tí đây.
Nam đã nấu cơm xong. Không có tiền mua rau, nhưng trong chạn
bố còn tôm rảo kho đường. Bát đũa thì có sẵn. Mỗi lần lên thành
phố thăm bố, thế nào mẹ cũng mang theo một bó đũa, mẹ ngồi vót
đũa những lúc rỗi rãi, những đôi đũa mẹ vót bằng gốc tre đực, bóng
như đũa mun. Mẹ vẫn thường nói: “Tội nghiệp bố, nấu ăn lủi thủi
một mình!”. Mẹ biết rằng bố còn bận công tác, bố không thể chuyển
về quê nhà làm việc được. Bởi vì bố là kĩ sư đóng tàu thủy, bố về xã
làm gì?
Nghe nói nhà máy đóng tàu của bố rộng mênh mông, bố và các chú
công nhân đang đóng những con tàu hàng ngàn tấn.
– Anh Hùng ơi, dậy ăn cơm đi! Hùng Lé bật dậy, hốt hoảng:
– Chết rồi! Tao ngủ đã lâu chưa hả chú mình? Bây giờ là mấy giờ rồi
nhỉ?
– Chưa đến mười một giờ đâu – Nam nói.
– Thôi được, không sao – Hùng nhìn nồi cơm, đĩa tôm kho đường –
Mày nấu cơm gạo quê à? Thơm điếc cả mũi. Ngon đấy, sáng nay
tao ăn hết một xỉa mà bây giờ đã đói rồi.
– Một xỉa là gì hả anh?
– Là mười đồng ấy mà. Rồi mày cũng biết những thứ đó ngay thôi.
Nhưng mày ăn cơm đi chứ!
– Cả anh ăn nữa.
– Không, tao chỉ ăn một con tôm thôi. Tao phải đi ra ga đây. Chậm
chút nữa là Râu Xồm nó luộc tao chín như khoai ấy.
Hùng ăn một con tôm và ra đi. Nam nghe tiếng huýt sáo dọc cầu
thang. Nó cầm bát cơm lên ăn, vừa ăn vừa suy nghĩ. Hùng Lé là
người thế nào? Nó có vẻ tốt mà vẫn thế nào ấy. Nhất là thỉnh thoảng
nó nói ra những tiếng lóng nghe chối tai không chịu được. Nhưng
không có Hùng Lé thì từ sáng đến giờ mình biết xoay xở thế nào?
Dù sao thì cũng phải cám ơn nó, nó chê mình quỷnh là phải. Mình
thì ngố, còn nó lại tài ba làm sao!
Nam khép cửa, đưa bát ra phía nhà tắm để rửa. Lúc trở về phòng,
nó đi qua một cánh cửa sổ mở toang. Hai cái trán trẻ con dựa vào
song cửa, mớ tóc con gái rủ lơ thơ. Nam nhớ ra rồi, đây là bé Liên
và bé Hương, hai đứa trẻ sinh đôi của nhà bác Thịnh. Năm ngoái
Nam ra chơi, chúng còn bé tí, vậy mà bây giờ đã ra dáng học sinh
lớp một rồi.
Nhà bác Thịnh giàu, rất giàu nữa là khác. Người trong dãy nhà ba
tầng này nói thế. Bố cũng bảo thế. Bác Thịnh trai là quản đốc phân
xưởng, bác thường được đi nước ngoài tham quan người ta đóng
tàu. Bác gái đi học ở Đức về, nay làm giám đốc một nhà máy làm
sợi len. Trong nhà bác Thịnh, toàn là những thứ đồ đẹp cả. Nào
quạt, nào máy truyền hình, nào quần áo len dạ, xe máy nữa. Nhà có
nhiều đồ đạc như thế nên khi hai bác đi làm, bé Liên và bé Hương
đều bị nhốt. Bác Thịnh trai – tính rất cẩn thận – đã khóa cửa bằng
một cái khóa đồng to tướng mua tận Tiệp Khắc. Như vậy là chắc
chắn lắm rồi. Lũ trộm chỉ còn ngồi bên ngoài mà khóc thôi. Chỉ tội
nghiệp Liên và Hương. Giá như con nhà khác thì chúng đã được
giao chìa khóa, muốn đi đâu chỉ việc khóa cửa lại, tha hồ mà chơi.
Nam đặt rổ bát xuống hành lang, lại bên cửa sổ.
– Meo, meo… – Nó làm tiếng mèo kêu và bẹo vào mũi bé Liên.
– Anh Nam, mở cửa cho em ra với. Chúng em bị nhốt từ sáng đến
giờ rồi – Liên nũng nịu. Nó vẫn bị Nam gọi là Liên Mèo từ năm
ngoái.
– Anh chịu thôi. Anh có chìa khóa đâu.
– Hay là anh bắt hộ em con chuồn chuồn đậu trên hành lang kia –
Bé Hương, giống Liên như đúc một khuôn, nói.
– Được, để anh bắt cho.
Nam thè lưỡi, nín thở, đưa tay ra, nhưng con vật bé bỏng mà khôn
ngoan đã bay sang đậu một chỗ khác cách đó dăm mét.
Chuồn chuồn có cánh thì bay…
Tiếng Hùng Lé nói sau lưng Nam. Có lẽ nó về lúc Nam đang lúi húi
rửa bát đĩa.
Hùng nhanh như một con chồn, nó lần theo bức tường, một nháy
mắt, con chuồn chuồn đã nằm trong tay nó.
– Cho em, cho em.
Hai cánh tay đưa ra cửa sổ.
Hùng Lé bước lại, đặt con chuồn chuồn đã bị hớt mất một mẩu cánh
vào tay bé Liên. Nó nhoẻn cười với hai đứa trẻ đang vui như hội và
nhìn qua song cửa, mắt bỗng sáng lên như có một tia nắng chiếu
vào. Nhưng tia sáng ấy lại tắt ngấm ngay.
– Về đi.
Nam nói và kéo tay Hùng Lé về nhà bố.
Cửa lớn khép hờ, Nam giật mình, trong nhà có ai đó. Nó định thần
lại và nhìn thấy một thanh niên vạm vỡ, râu quai nón phủ kín hai
bên má, từ dưới tai kéo xuống tận cằm. Mái tóc anh ta không để dài
mà cắt cao, nhưng vì bộ râu, vì đôi lông mày rậm, trông anh ta dữ
tợn như đang muốn đánh ai.
– Vào đây em, vào đây!
Nam ngạc nhiên vì nghe thấy tiếng anh thanh niên gọi nó một cách
dịu dàng, thân ái nữa. Dưới chân anh ta là một bao tải trong đựng
thứ gì đó có vẻ nặng lắm. Phút chốc Nam tưởng như anh ta là một
anh thợ hiền lành vừa đi làm về. Mặt anh khó đăm đăm, có lẽ vì anh
quá mệt.
– Em cất bát rồi ngồi xuống đây, anh bảo – Anh ta nói tiếp, vẫn với
giọng rất dịu dàng.
Hùng Lé khép cửa. Nó ngồi xuống mép giường của bố. Trông nó
không được nhanh nhẹn như khi chỉ có hai đứa với nhau. Nam cảm
thấy Hùng sợ anh thanh niên lạ mặt này lắm. Anh ta bảo Hùng:
– Hùng, giới thiệu chú với bạn Nam đi!
– Đây là chú ruột tớ – Hùng nói, vẻ miễn cưỡng.
– Thế đấy – Anh thanh niên nói – Vậy là từ đây ta thành chú họ của
cháu, Nam ạ. Chú tên là Sáu, làm nghề thợ điện cùng một nhà máy
với bố cháu, nghĩa là cái nhà máy trước đây, khi bố cháu vừa học ở
nước ngoài về cơ, bây giờ bố cháu chuyển sang nhà máy khác rồi.
Nghe Hùng kể chuyện, chú mừng lắm. Vậy là đã năm sáu năm, chú
không gặp bố cháu. Còn trước kia thì quấn quýt nhau như hai anh
em vậy. Chả chú là cây sáng kiến của nhà máy mà. Còn bố cháu là
kĩ sư giỏi.
Có những người bề ngoài rất khó coi, hung dữ nữa là khác, nhưng
bên trong thì rất hiền lành. Ở làng Phượng Vĩ có một ông già quắc
thước dữ tướng như hùm, nhưng chiều chuộng trẻ con hết mức.
Chú Sáu này có thể là một người như vậy chăng?
– Trời ơi, trông cháu giống bố như hai giọt nước vậy. Lại đây chú
cho quà.
Anh ta kéo Nam lại, xoa đầu Nam rồi rút trong túi ra một phong kẹo
lạc.
– Ăn đi cháu!
Nam cầm phong kẹo, đưa mắt tìm Hùng Lé, nhưng nó đã biến đâu
rồi. Hùng đi đâu? Nó cứ nhanh như con chồn, thoắt ẩn, thoắt hiện
không biết đâu mà lường được. Anh thanh niên lấy lại phong kẹo,
bóc ra, ăn một thanh rồi đưa cả cho Nam. Nam lấy một thanh, ăn
ngon lành.
Trong khi Nam ăn kẹo thì anh thanh niên đi lại trong gian phòng,
nhìn rất kĩ bức ảnh của bố, những tờ tranh bố treo trên vách, miệng
lẩm bẩm: “Chà trông bố cháu thay đổi nhiều quá đi mất. Chắc là
công việc vất vả lắm!”. Rồi anh ta ngồi xuống bàn viết của bố, đưa
mắt đọc những tờ giấy bố đang viết dở, lật mấy tờ lên, rút ra một
quyển vở, giở ra một cách lơ đãng nhưng vẫn có ý tìm tòi một cái gì.
Rồi anh đặt xuống:
– Nhà chú ở xa lắm, tận bên Thủy Nguyên cơ. Chú làm ở thành phố
nhiều khi hàng tuần mới về. Đi làm về chú thường đến nhà những
người bạn thân ở nhờ, nhiều khi ngủ trưa trong nhà máy. Giá mà
chú biết bố cháu ở đây thì khéo chú đã đến ở với bố cháu cho vui.
Nhưng được rồi, bây giờ bố cháu đi vắng, chú sẽ ở lại với cháu mấy
hôm cho cháu đỡ buồn và đỡ sợ. Cháu biết không – anh hạ giọng –
ở thành phố không như quê cháu đâu. Trộm cắp nhiều lắm, cháu ở
đây một mình chẳng có lợi chút nào.
Nam cảm thấy chú Sáu muốn nói, nói rất nhiều về tình cảm sâu
nặng của chú đối với bố. Nhưng sao chú có vẻ tò mò như thế nhỉ?
Ở nhà Nam, đã thành thói quen, Nam, bé Việt và cả mẹ nữa, không
ai ngồi vào bàn, lục lọi hay tò mò đọc những thứ bố viết như thế. Có
lẽ ở nhà chú này thì khác chăng?
– Cháu ăn nữa đi.
– Dạ, đủ rồi ạ! – Nam mở ngăn kéo, cho gói kẹo ăn dở vào.
– Bây giờ, chú tranh thủ ngủ một chút để chiều còn đi làm. Đúng
một giờ rưỡi nhớ đánh thức chú dậy nhé. Nếu Hùng về thì bảo rằng
chú đã đi, chiều chú về đây, cả mấy chú cháu ăn cơm rồi cùng rửa
bát.
Trong khi nói như thế, đôi mắt anh ta không rời Nam cũng như mọi
vật trong phòng, đôi mắt thỉnh thoảng lại sáng lên, trông như mắt
mèo.
Chờ “người chú họ” thiu thiu ngủ. Nam mở cửa ra ngoài. Nó muốn
tìm một chỗ vắng nào đó để suy nghĩ, để bình tĩnh lại, vì quả thật,
sự xuất hiện của người chú họ không quen biết này làm Nam thấy
rối trí quá. Nó cẩn thận bóp khóa vào rồi bước dọc hành lang.
Nó nhìn thấy Hùng Lé đang đứng bên cửa sổ nhà bác Thịnh nói
chuyện và đùa nghịch với hai cô bé sinh đôi. Hai đứa trẻ tỏ vẻ
quyến luyến và khâm phục Hùng sau khi được nó bắt hộ con chuồn
chuồn. Còn Hùng thì đang lấy giấy gấp cho chúng những đồ chơi
vặt như: con chim, cái thuyền, cái quản bút. Thấy Nam, Hùng lúng
túng đặt các thứ xuống thành cửa sổ.
– Bố chúng nó sắp về đấy – Hùng Lé nói và kéo Nam đi khỏi cửa
sổ.
Nam thấy ghen tị, Hùng như không muốn Nam chơi đùa với hai đứa
trẻ. Cả hai cô bé cũng như quên bẵng Nam, rõ là chúng đã bị Hùng
lôi cuốn vì những trò chơi thú vị, những con giống bằng giấy.
Đúng một giờ rưỡi chiều, không đợi Nam đánh thức, “người chú họ”
bật dậy. Anh ta lấy tay dụi mắt, tự rót nước trắng trong chai của bố
uống một cốc đầy, chụp lên đầu cái mũ cối đã tàng, đeo một đôi
kính đen to tướng rồi đứng trước gương ngắm nghía. Anh ta chợt
thấy râu quai nón tua tủa quanh cằm liền lấy dao cạo (bố vẫn để
dao trước gương, trên một tấm kính nhỏ). Cái dao bào ủi đám râu
cứng kêu sồn sột nghe ớn cả người.
– Hùng đâu rồi? – Anh ta vừa cạo râu vừa nhìn vào gương hỏi Nam
lúc đó đang ngồi trên mép giường phía sau anh ta.
– Đi rồi ạ.
– Tốt.
Cạo râu xong, anh ta đẩy cái bao tải vào tít gầm giường nói:
– Có mấy thứ đồ nghề của chú gửi cháu. Nhớ đừng có nghịch nhé.
– Dạ.
– Tốt.
Rồi anh ta đi ra, không quên khép kín cửa.
Nam lăn ra giường. Mát quá. Cả một đêm không ngủ, rồi bao nhiêu
chuyện lại xảy ra từ sáng sớm đến giờ làm đầu óc nó mụ mị đi. Nó
không thể bình thản được khi sực nhớ ra rằng đây không phải là
làng Phượng Vĩ của nó. Đây là thành phố, có hằng hà sa số người
sống chen chúc trong những ngôi nhà san sát như bát úp, trên một
khoảng đất chật hẹp. Ở làng, đi ngủ thường ít khi phải đóng cửa.
Ban ngày, người ta đi làm đồng, cửa ngõ, đồ đạc cứ bày ra đấy. Bất
kì người nào vào nhà đều được mời uống nước, hút thuốc. Ai đói,
người làng sẽ mời ăn cơm. Ai nhỡ đường sẽ được nhường chỗ
ngủ. Chính các chú công an xóm sau khi xem giấy tờ sẽ sắp xếp
chỗ ăn ở cho những người khách lạ ấy. Ai từ biệt làng Phượng Vĩ
cũng luyến tiếc, nhớ nhung. Hùng Lé đã nhường bánh cho Nam ăn
ở sân ga, đã chỉ vẽ cho Nam những điều bỡ ngỡ. Hùng đến nhà,
Nam phải đối xử với Hùng như bạn bè. Nhưng còn “người chú họ”
kia là ai? Mà thôi, nghĩ vớ vẩn như thế để làm gì khi chưa có gì xảy
ra cả. Thật thế, có hai người khách đến nhà Nam và giờ họ đã ra đi.
Họ chưa làm gì xấu cả, Nam cũng phải ngủ một giấc đây, ngủ bù
cho đêm qua và buổi sáng vất vả. Ngủ trong nhà của bố sau khi no
bụng thì có gì phải nói nhỉ? Cửa đã khép lại rồi, chỉ còn cài then bên
trong nữa thôi.
Nam tỉnh dậy, sau một giấc ngủ dài và say sưa. Thật không còn biết
trời đất gì nữa. Mẹ thường nói: “Ngủ say như củ khoai” là vậy đấy.
Gian nhà hơi tối, nhưng mát rượi. Nắng trưa không lọt vào chỗ nào
được. Nam mở cửa sổ phía hồi nhà. Mọi vật như cùng tỉnh dậy với
Nam, những vật quá quen thuộc, vẫn nằm yên ở chỗ cũ, từ ngày
nào Nam không còn nhớ nữa. Nam cúi nhìn xuống gầm giường,
chiếc bao tải “đồ nghề” của chú râu quai nón vẫn còn đó.
Nam ra cửa lớn, đưa tay kéo cái chốt. Nó đẩy cửa để ra ngoài.
Nhưng sao thế này? Một cảm giác lành lạnh chạy từ gáy dọc theo
sống lưng nó. Không thể nào mở được cửa. Nó hiếng mắt nhìn qua
chút khe hở và hiểu ngay: Cửa đã khóa ở bên ngoài. Ai đã khóa
trong khi Nam ngủ? Hay là chú râu quai nón? Không, lúc chú ấy ra
đi không nghe thấy tiếng bóp khóa. Thật ngu, lúc đi rửa bát về Nam
lấy chìa ở Hùng để mở cửa rồi quên khuấy, cứ để cái khóa và cả
chìa lủng lẳng ở đó. Vậy thì có ai đã nghịch ngợm khóa Nam lại, để
dạy cho Nam một bài học đây. Chưa chắc. Ở khu tập thể này chẳng
ai nghịch ngợm như thế. Nếu thấy Nam quên khóa ngoài cửa, họ sẽ
gọi và đưa cho Nam ngay. Vậy thì ai?
Nam nghĩ đến Hùng Lé, đến “người chú họ” râu quai nón và cảm
giác lạnh dọc sống lưng càng tăng. Hay là…
Phải, Nam thấy lóe lên trong đầu một dự đoán đáng sợ. Họ muốn
mình phải ở trong nhà, không được đi đâu. Hay là trong chiếc bao
tải kia có những thứ quý giá và đắt tiền đến mức người ta phải cẩn
thận như vậy?
Nam áp tai vào cửa nghe ngóng. Không có gì đáng ngờ. Nó rón rén
lại phía giường, chui vào, kéo cái bao tải ra. Cái bao tải nặng quá
chừng, phải cố hết sức mới kéo ra được chỗ sáng. Nam mở sợi
dây, cho tay vào trong bao. Vòng bi! Một bao tải vòng bi, dễ có đến
hàng trăm chiếc. Nam hiểu ngay đây là những chiếc vòng bi đáng
ngờ. Không ai giao cho người thợ điện như ông “chú họ” râu quai
nón này một số vòng bi nhiều như thế.
Nó từ từ đẩy chiếc bao tải vào chỗ cũ, lại ghế ngồi, suy nghĩ. Có thể
chú ấy đưa vòng bi đi chữa cho nhà máy? Có thể chú ấy đi mua về?
Nhưng tại sao lại khóa cửa lại? Nam nửa tin nửa ngờ, không biết
thế nào là đúng. Bây giờ có lẽ còn một việc cần làm là hô hoán lên
cho hàng xóm biết rằng Nam đang bị nhốt. Không, không nên ầm ĩ
như vậy trong khi chưa có chuyện gì xảy ra. Có lẽ mình đã dại dột
khi đưa Hùng Lé về đây. Bây giờ tốt nhất là cứ nằm ngủ đợi vài
tiếng đồng hồ nữa, Hùng Lé hay “người chú họ” sẽ trở lại và lúc đó
hẵng hay.
Nó lại nằm xuống giường nhưng không tài nào chợp mắt được. Có
tiếng nói chuyện lào xào đâu đây ngoài hành lang. Ngố thật – Nam
nghĩ bụng – hồi nãy mình định kêu lên, nhưng kêu thì có ai thưa.
Dọc hành lang chẳng nhà nào có người ở nhà. Còn lũ trẻ thì đều bị
nhốt, đứa thì ngủ, đứa thì đang nấu ăn hay chơi với nhau trong nhà.
Ai nói chuyện đấy nhỉ? À, có lẽ bé Liên con nhà bác Thịnh. Nam rón
nhẹ chân lại phía cửa. Nó áp tai vào tấm ván, cố nghe:
– Anh Hùng ơi, mở cửa cho chúng em ra ngoài chơi với!
– Suỵt, nói khẽ chứ.
– Anh phải mở cho em ra cơ.
– Được rồi, để mở cho. Phải khe khẽ chứ.
Nam nghe những chiếc chìa khóa va vào nhau lách cách. Có lẽ
Hùng vẫn chưa mở được cửa. Hùng mở để làm gì? Tốt nhất là
mình lên tiếng để Hùng biết rằng mình đã biết nó đang mở cửa:
– Hùng ơi, mở hộ tôi nữa với! Nam cố hét thật to.
Có tiếng lách cách. Cửa mở ra thật và “người chú họ” bước vào
như một cơn gió đen rồi đóng áp cửa lại. Anh ta ăn mặc hoàn toàn
khác lúc ra đi. Quần áo bộ đội cũ, chân mang dép cao su, đầu vẫn
đội cái mũ cối ấy và không đeo kính râm. Trông anh ta không còn
dữ tợn như trước nữa. Cả bộ râu quai nón hình như cũng biến mất.
– Chú Sáu! – Nam nói, giọng lạc đi.
– Không chú cháu gì hết!
Anh ta đưa hai cánh tay như hai cái gọng kìm quặp lên vai Nam, ấn
nó ngồi xuống chiếc ghế thấp trong góc phòng.
– Ngồi xuống đây và im mồm, nghe không, thằng nhãi!
Hắn dằn từng tiếng khi nói câu đó và trong nháy mắt Nam hiểu ngay
việc gì đang xảy ra. Nó cố vùng dậy dưới hai bàn tay như vuốt đang
cố ghìm vai nó xuống rồi kêu to:
– Liên ơi, đừng mở cửa…
Một cái tát như trời giáng làm Nam tối tăm mặt mũi. Nó loạng
choạng nhổ xuống nền nhà một bãi nước bọt dính máu. Bàn tay
phải của “người chú họ” đang dứ dứ trước mặt nó và qua những tia
đom đóm trước mặt nhì nhằng Nam nhìn thấy một khẩu súng ngắn,
cái nòng đen ngòm.
– Im mồm!
Hắn ấn Nam ngồi xuống, ung dung thả khẩu súng vào túi quần.
Cửa mở. Một người khác, không to lớn bằng “người chú họ”, ăn
mặc như những thanh niên Nam vẫn thấy lang thang ngoài đường
phố, đẩy Liên và Hương vào nhà. Cả hai đứa đều nước mắt nước
mũi đầm đìa, hai má phồng to. Nam nhìn thấy trong mồm chúng cả
một đống giẻ to tướng. Có lẽ là những chiếc khăn rửa mặt.
– Bịt mồm thằng này nữa!
Sáu hất hàm và thằng kia lấy ngay cái khăn của bố nhét chặt vào
miệng Nam rồi trói mỗi đứa vào một chiếc ghế. Bé Liên và Hương
nhìn Nam không chớp mắt. Nam cảm thấy chúng đang trách móc
Nam và tim nó se lại vì hối hận. Nhưng không có cách gì nói chuyện
với hai cô bé được nữa rồi. Nếu không có cái khăn mặt này thì nhất
định Nam sẽ kêu toáng lên rồi ra sao thì ra!
– Cho tất cả sang đây rồi khóa cửa lại như cũ! – Sáu ra lệnh.
Thằng kia đi ra rồi trở lại ngay cùng với đồ đạc nhà bác Thịnh. Đầu
tiên là cái quạt Nhật mạ kền sáng loáng, chiếc va li, một túi ni lông
không biết chúng đã nhét đầy những thứ gì, một bó nữa, một bó
nữa…
– Thằng Xám vẫn canh dưới cầu thang đấy chứ?
– Còn dưới đó, anh Hai à!
– Xe đến chưa?
– Dạ rồi. Có mỗi chiếc xe bò thôi, anh Hai.
– Đưa xuống rồi vù thôi. Đến 162 nghe không?
Chúng nó thay nhau mang các thứ chạy sầm sập xuống cầu thang.
Nam không thấy Hùng đâu cả. Có lẽ nó đang đứng canh gác ở đâu
đó. Khi mớ đồ đạc đã chuyển đi hết rồi, Sáu là người cuối cùng.
Hắn có vẻ vui, bóp bóp nhẹ vào miệng Nam và hai cô bé rồi nói:
– Để xem ba cái khóa miệng có chắc không nào? Hắn nhét vào tay
mỗi đứa một chiếc kẹo giấy bóng.
– Chịu khó ngồi một chốc, các “cháu yêu” nhé. Rồi bố mẹ sẽ về
ngay thôi mà, lúc đó tha hồ mà ca hát.
Nam buông tay cho cái kẹo rơi xuống đất.
Sáu đi ra, đóng cửa nhẹ nhàng, rồi có tiếng khóa lách cách bên
ngoài. Nhưng hắn quay lại. Hắn cúi xuống gầm giường lôi cái bao
tải ra:
– Suýt thì quên mất món sò huyết – Hắn nói, cho bao tải lên vai, ra
khỏi phòng, khóa lại như cũ.
Nam cố vùng vẫy để làm tung sợi dây, nhưng không có cách gì
được. Gian phòng tối om, im ắng. Nam đoán thế nào Hương và Liên
cũng khóc, nhưng nó không nhìn rõ nét mặt của hai đứa mà cũng
chẳng nghe thấy tiếng sụt sịt nào. Hay là chúng nó đã lịm đi vì mệt
và sợ? Ngộ nhỡ chúng bị ngất đi thì sao? Biết làm sao bây giờ? Có
cách nào tự cởi được sợi dây thì sẽ ổn tất cả. Nhưng sợi dây là sợi
dây. Nam đâu biết rằng nó đã bị trói bởi hai bàn tay của Muỗi Vằn.
Những cái nút buộc của hắn đã từng nổi tiếng trong đám trộm cắp
kiếm ăn quanh bến cảng.
“Tất cả chỉ tại mình hết” – Nam nghĩ – “Bác Thịnh bị mất trộm của
cải là do mình đưa Hùng Lé về nhà. Bé Liên và bé Hương bị đánh,
bị đày đọa, vì mình, vì mình hết!”. Nam thấy hết sợ, nhưng nó khóc
vì hối hận và nhục nhã… Rồi nó lịm đi lúc nào không biết.
Những tiếng kêu khóc om sòm đánh thức cả ba đứa dậy (Hai cô ...
1. Phần thứ nhất
2. Phần thứ hai
3. Phần thứ ba
4. Đoạn kết
Phần thứ nhất
N
am đưa trả mẹ tiền tàu , tiền ăn quà mẹ cho và nói:
– Mẹ ơi, con không đi thăm bố nữa đâu.
– Sao thế con? Hay là con tôi ốm rồi?
– Không phải, mẹ ạ. Con đi vắng lâu, ở nhà ai nấu cơm cho mẹ. Với
lại còn con thỏ đen, ai cắt cỏ, tìm lá cho nó?
Mẹ vuốt tóc Nam:
– Con tôi ngoan quá. Nhưng con không phải lo. Mẹ sẽ nuôi hộ thỏ.
Con cứ đi chơi với bố nửa tháng rồi về ôn hè cũng vừa. Đây là quà
thưởng của bố mẹ cho con. Năm vừa rồi con là học sinh tiên tiến
của lớp 5A1 mà.
1 Theo
hệ thống giáo dục mười năm.
Nam rơm rớm nước mắt, thầm cảm ơn mẹ rồi ra tàu đêm, về thành
phố cảng thăm bố.
Dạo này tàu khách rút bớt chuyến để dành đường cho tàu chở hàng
từ cảng về Thủ đô. Ngồi ở sân ga, Nam đợi mãi. Nhưng chỉ có
những chuyến tàu hàng dài dằng dặc vút qua, bánh tàu dập ình ình
trên đường sắt, vang động cả một khu ga mênh mông. Thùng sắt
lớn bằng cả một gian nhà, xếp thành hàng trên những dãy toa trần.
Sắt thép từng bó, máy cày đỏ chóe dưới nắng chiều. Lại một
chuyến tàu nữa qua. Bông trắng từng kiện lè ra cửa sổ. Đoàn tàu
hàng nào cũng dài, cũng nặng và bánh xe nghiến ầm ĩ trên đường
sắt. Bao nhiêu hành khách đợi tàu, kẻ ngồi, người đứng, ai cũng sốt
ruột. Cuối cùng, nhà ga thông báo: Chuyến tàu khách từ Hà Nội về
sẽ rời sân ga xuống thành phố cảng vào mười giờ đêm.
Mười giờ tàu chạy. Nam lên một toa đen, có ghế dài, ngồi thu mình
bên cạnh mấy chú bộ đội trẻ và nghịch. Mẹ bảo rằng, đi tàu, đi xe
cứ ngồi cạnh các chú bộ đội là yên trí nhất. Ai bắt nạt thì các chú ấy
bênh vực. Lên tàu, xuống xe, các chú ấy thường giúp đỡ người già
và trẻ con. Chẳng ai bắt nạt Nam, Nam cũng có thể tự mình lên
xuống tàu. Nhưng Nam thích ngồi gần mấy chú là vì những khẩu
súng còn mới, mới từ quai đến báng, đến nòng làm Nam mê mẩn.
Hai giờ sáng, tàu đến ga Hải Phòng. Nam thấy tiếc, giá tàu cứ chạy
mãi để Nam được ngồi gần mấy chú bộ đội. Nhưng phút chia tay đã
đến rồi, các chú đưa Nam ra cửa soát vé, rồi sân ga. Các chú đi
công tác ra đảo, phải ra bến Bính đợi tàu thủy đi Cát Bà. Đồng chí
chỉ huy thấy mấy chú còn bịn rịn bên Nam liền nói:
– Chuẩn bị, thành hàng!
Chỉ đến khi đó tiểu đội lính mới dứt ra được khỏi Nam. Một chú lính
vui tính bẹo tai Nam, nhoẻn cười:
– Chào cậu cả. Nếu đường tối thì ở lại sân ga, sáng hãy về nhé.
– Vâng ạ! – Nam trả lời, cố làm ra giọng đàng hoàng.
Đã hai giờ sáng, tất nhiên là Nam chẳng về nhà làm gì, vừa làm bố
mất ngủ, vừa sợ đường tối. Nam ngồi lại sân ga, dưới cái cột đèn
cao áp giữa sân. Chú chỉ huy đưa tiểu đội lính đi. Nam nhìn theo và
nghĩ lớn lên mình cũng sẽ như các chú ấy. Bây giờ thì hẵng ngồi lại
đây đợi trời sáng.
Đêm trên sân ga cũng vui như trên tàu. Nam ngắm nhìn tất cả mọi
người, mọi hoạt động, ngắm cả những người ngủ gà ngủ gật dưới
mái hiên đợi chuyến tàu sáng. Tàu hỏa, sân ga, thành phố… từ lâu
là những thứ gợi lên trong lòng Nam những cảm giác thèm
thuồng…
Nam bỗng thấy bố mặc một bộ quần áo tây rất đẹp, chân đi giày
đen, tươi cười bước lại gần Nam và nói:
– Con ở nhà quê ra bao giờ vậy?
Đúng là bố rồi, bố hay dùng tiếng “nhà quê” để chỉ làng Phượng Vĩ
xinh đẹp và vui tươi của Nam. Cộp! Đầu Nam đập vào một vật
cứng. Nam mở mắt ra. Thôi chết rồi, mình vừa ngủ gật và bố chỉ là
một giấc mơ ngắn. Một bàn tay mềm mềm vỗ lên vai Nam.
– Chú mình ngủ gật mà say nhỉ?
Nam dụi mắt. Một cậu bé hơn Nam khoảng hai, ba tuổi (nghĩa là độ
mười bốn, mười lăm là cùng), đầu tóc cắt vừa phải, mặc chiếc áo
sơ mi có túi, có cầu vai, ngắn tay, đang cho hai ngón tay cái chọc
vào dưới thắt lưng, nghiêng đầu nhìn Nam miệng huýt sáo khe khẽ.
– Em vừa trên tàu xuống – Nam lúng túng, muốn nói một câu gì đó
để làm quen.
Gương mặt của cậu bé kia rất khôi ngô, lanh lợi, đẹp như một cô
gái.
Cậu bé nhìn nghiêng xuống phía chân Nam và đến lúc này Nam
mới thấy rằng cậu ta hơi hơi lé. Hơi lé một chút thôi, nhưng cũng gọi
là lé.
Cậu ta ngừng huýt sáo:
– Này, lần sau thì đừng vội gì mà khai nhé. Có phải cái còi đâu mà
chưa thổi đã kêu. Chú mình đói hẳn?
Quả thật, Nam đã thấy đói. Nhưng Nam trả lời:
– Em không đói.
– Nói dối rồi. Trông chú mình vã mồ hôi thế kia. Này, ngốn đi. Bánh
còn nóng giòn đây.
Cậu ta đưa cho Nam nửa cái bánh mì. Còn nửa kia, cho vào miệng
nhai. Trông ngon quá. Thật khó mà từ chối lòng tốt của cậu ta được.
Vả lại, bánh mì… Bánh mì thì ở thành phố mới có thôi, thứ bánh
vừa nóng vừa giòn ấy. Còn ở làng Phượng Vĩ người ta bán những
que củi chứ không phải là bánh nữa. Nó vừa lạnh vừa khô không
khốc. Nam cầm nửa cái bánh nhỏ, cũng cho vào mồm, nhai không
kém ngon lành.
Chú nhãi vừa ăn vừa ngắm Nam. Cứ cắn một miếng bánh chú lại
hát:
Bé bé bằng gang
Cắn một miếng nữa rồi lại hát:
Đôi má vàng vàng
Một miếng nữa:
Bé đi câu cá
Một miếng nữa:
Cá câu cua càng …
– Này – Cậu ta nói – Chú mình đi đâu đó? Nam im lặng. Nam không
phải là cái còi.
– Tớ hỏi, chú mình đi đâu đó? Bây giờ tớ hỏi nghĩa là chú mình phải
trả lời, nghe không? Có phải hội đuôi không?
Hội đuôi là hội gì nhỉ? Nam chẳng biết trả lời thế nào.
– Em ở quê nhà lên thăm bố. Em sợ, sáng mới về nhà.
– Vậy hả? Thế chú mình tên là gì?
– Em tên là Nam.
– Nam gì mới được chứ? Như anh đây tên là Hùng. Nhưng là Hùng
Lé. Như thế mới gọi là tên chứ.
– Em con bố Thành. Chúng nó gọi em là Nam Thành để khỏi nhầ̀m
với Nam con bà Linh, gọi là Nam Linh.
– Nam Thành, quỷnh lắm. Không ra sao cả. Cứ gọi là Nam Quỷnh
cho rồi. Như thế oai hơn, rõ chưa?
Nam im lặng. Ai muốn gọi Nam thế nào thì gọi.
– Bây giờ ăn bánh rồi, chú ngồi đây, ngồi đúng chỗ này. Tí nữa anh
nhờ chú mày tí việc.
Hùng Lé huýt sáo, bỏ đi. Bóng nó khuất vào đám người lố nhố trên
sân ga.
Nam ngồi chờ. Chờ mãi, nhưng không thấy Hùng Lé trở lại nữa.
Thế mà trời đã sáng hẳn rồi. Nam chờ một lúc nữa.
Hùng Lé vẫn không trở lại, Nam đứng dậy, vươn vai, đi ra cổng,
bước vào đường phố còn ngái ngủ.
Đường phố sạch sẽ hơn đường trong làng, nhưng lại khó nhận ra vì
quá nhiều ngã ba, ngã tư. Nam đã đến nhà bố nhiều lần, vậy mà
phải lạc mất hai bận mới tìm được đường phố quen thuộc. Chả là vì
có một dãy xe cần cẩu mới tinh vừa đưa từ cảng lên che khuất mất
lối vào. Nam đi qua mà không nhận ra. Nhưng rồi nó vẫn nhìn thấy
ngôi nhà ba tầng đằng sau một dãy tường chạy dọc theo đường
phố. Nó vào sân, bước lên cầu thang giữa, đi dọc một đoạn theo
hành lang gác hai và đứng trước phòng của bố. Đúng là phòng của
bố rồi. Trước cửa có một cái chậu rửa mặt cũ đổ đầy đất. Trong
chậu trồng một cây đinh lăng bố mang từ vườn nhà lên. Còn cái
cửa sổ thì không nhầm đi đâu được. Thành cửa có một vết dao như
cái sẹo. Dạo Nam bảy tuổi, lên chơi với bố, Nam kề miếng gỗ vào
thành cửa sổ đẽo cái súng diêm. Lưỡi dao chém nhầm vào thanh
gỗ ngang phía dưới.
Nhưng cửa đã khóa chặt. Trên ván cửa, một hàng chữ phấn viết
vội: “Thành đi nghỉ mát, 25 tháng 6 mới về”. Nam muốn khóc òa lên
một tiếng thật to. Thế là không còn hi vọng gặp được bố. Bây giờ
biết làm thế nào đây? May mà Hùng Lé cho nửa chiếc bánh mì
không thì đói rã tay chân. Cái khóa bi còn mới như nói với Nam: Xin
lỗi bạn, bạn hãy đứng bên ngoài!
Nam quay người, xuống thang gác. Bây giờ chỉ còn mỗi việc là ra
ga, mua vé rồi lên chuyến tàu chợ sẽ chạy vào quãng bốn giờ chiều
nay để về nhà. Nhưng lấy tiền đâu mua vé nữa? Mẹ cho Nam đủ
tiền tàu, xuống thành phố đã có bố lo cho ăn uống, lúc về thì bố
mua vé tàu hay gửi Nam theo xe cơ quan về tận làng, còn lo gì nữa.
Hai mẹ con đã không tính được chuyện bất trắc này. Số tiền còn lại
trong túi chỉ vừa đủ mua một cái bánh mì thôi. Nam dừng lại góc
đường mua bánh, nhưng chưa ăn vội mà cho vào túi. Thôi, cứ ra ga
hẵng hay. Người ta nói nếu không có tiền mua vé thì có thể chen
vào, lên tàu rồi tìm cách trốn khi người ta soát vé. Cách ấy gọi là lậu
vé. Nam thì chịu, Nam không hề làm những chuyện như thế bao
giờ.
Chỉ còn một hi vọng thế này nữa thôi. Ra ga, ngồi chờ và nếu như
gặp một người quen nào đó cùng làng, nhất là một người bà con
thì… Nam có thể vay tạm một ít tiền mua vé. Hay là… quay lại cơ
quan bố? Ngượng chết đi được. Hay là hỏi vay tiền tàu của bác
Nga, bà hàng xóm của bố? Bác ấy sẽ nghĩ như thế nào? Đúng rồi,
thằng lỏi con chắc là bị mẹ đánh, bỏ quê nhà trốn lên với bố đây.
Vào đây, vào đây… Và thế là bác ấy căn dặn, giảng giải… phải thế
này nên thế kia, không thể như thế được…
Vừa nghĩ đến đó, chân đã bước tới sân ga. Nam ngồi xuống bậc
thềm nhà đợi, rút chiếc bánh, nhấ́m nháp từng miếng nhỏ, lòng
buồn như chấu cắn.
Là dân ở sân ga, mọi việc xảy ra trong khu đất lắm người và hàng
hóa này đều không qua khỏi mắt Hùng Lé. Nó chỉ như một chiếc lá
trong đám lá, một hạt thóc trong đống thóc, nhưng nó khác mọi
người ở chỗ này, trong khi người ta không hề để ý gì đến nó thì nó
lại để ý đến tất cả mọi người. Vì vậy, Nam Quỷnh vừa trở lại sân ga,
Hùng Lé nhìn thấy ngay. Từ xa, dựa vào một gốc cây bàng nhỏ,
Hùng lặng lẽ quan sát thằng bé nhà quê mất hút từ sáng sớm nay.
Hồi sáng, nó định nhờ thằng bé làm một việc nhỏ, nhưng rồi không
cần nữa. Thằng bé đã trở về kia rồi, đang ngồi nhai bánh ngon lành.
Hùng thủng thẳng bước tới.
– Trở lại hả? Sao chú mình không đến chỗ bố? Hay là nói dối đấy?
Nam mừng lắm. Dẫu sao cũng gọi là gặp người quen trong cảnh bơ
vơ này. May ra Hùng Lé có thể giúp Nam việc gì chăng?
– Em đến nhà bố, nhưng bố đi vắng, không vào được.
– Vậy hả? Bố chú mình đi những đâu?
– Bố đi nghỉ mát, một tuần nữa mới về.
Hùng Lé nghiêng đầu bên này, rồi bên kia, hai ngón tay bật vào
nhau tanh tách. Nó huýt một tiếng sáo miệng rồi hát:
Bố đi mất đâu
Bố đi lối nào
Ngồi khóc, ngồi khóc
Nhóc ơi là nhóc
Giờ biết tính sao?
– Bây giờ chú mình định thế nào hả?
– Em đợi tàu về quê đây – Nam nói.
Hùng Lé vỗ vai nó:
– Quỷnh ơi là Quỷnh! Sao chú mình ngốc thế hả? Cứ vào nhà bố
mà ngủ, nấu cơm, nấu mì ăn rồi rong chơi mấy ngày cho biết phố xá
thì đã sao? Về quê làm gì? Chăn trâu à? Chăn trâu sao vui bằng bát
phố hả?
– Nhưng em không có chìa khóa! Em không vào nhà được.
– Quỷnh ơi là Quỷnh! Đi theo tao, tao mở cho mà vào – Hùng Lé
kéo vai áo Nam, lôi nó đứng dậy.
– Anh có chìa khóa đâu mà mở? Bố em cầm chìa cơ mà?
– Bố chú mình gửi chìa khóa cho tao. Nhiều nhà trong phố đi đâu
vắng đều gửi chìa khóa cho tao. Rồi chú mình sẽ biết, tao mở cho
mà xem – Nó hạ giọng – Nhưng hàng xóm có ai hỏi thì bảo rằng bố
chú mình đưa chìa khóa nhé. Còn tao là anh họ, anh họ nhớ chưa?
Tao tên là Hùng. Tao là anh họ chú mình đấy.
Nam không còn đủ thì giờ để suy nghĩ nữa. Hùng Lé xốc nách nó
bước ra cổng ga. Nam đi cạnh Hùng như một đôi bạn thân, về nhà
của bố. “Phải đấy, ta sẽ quét dọn, lau chùi bàn ghế, đồ đạc cho bố.
Bố về chắc là sẽ ngạc nhiên lắm…” – Nam nghĩ.
Bác Nga là người hàng xóm hay tò mò của bố Nam. Chẳng những
hay tò mò mà bác còn thích tham gia vào chuyện người khác. Bác
là nhân viên kế toán của cơ quan nọ, bây giờ bác về mất sức, gọi là
về “một cục”, thường làm nghề đan len để kiếm thêm tiền. Bác gặp
Hùng và Nam ở cầu thang, gần phòng của bố.
– Chào bác ạ! – Không tránh được bác, Nam chào vui vẻ.
– Thằng Nam! Cháu lên bao giờ? Bố đi nghỉ mát rồi, cháu vào nhà
thế nào được.
Nam lí nhí đáp:
– Bố cháu đưa chìa khóa cho cháu, cháu sẽ ở đây rồi đợi bố cháu
về.
– Vậy hả? Nhưng phải cẩn thận đấy, đi đâu là phải khóa kĩ, nghe
chưa?
– Vâng ạ!
Lần đầu tiên Nam nói dối. Nó thấy tai nóng dừ lên vì xấu hổ.
– Cậu nào đây? – Bác Nga tò mò.
– Cháu là Hùng, anh họ Nam ạ – Hùng lễ phép nói.
– Anh họ cháu – Nam ngập ngừng.
– Ở quê ra hả? Cẩn thận nhé, đi đâu là phải khóa cửa ngay.
Thôi, bác đi chợ đã.
Hai anh em không gặp ai trong cầu thang và hành lang nữa. Mọi
người đều đi làm. Ở các gian nhà khác người ta khóa cửa, nhốt trẻ
con ở trong.
Hùng Lé nhìn ổ khóa. Nó bật ngón tay cái tách:
– Vừng ơi, mở cửa. Vừng ơi… mày biết chuyện ấy không hả Nam?
Truyện Alibaba ấy mà? Vừng ơi, mở cửa… thế là cái cửa hang
bằng đá mở ra cho bọn cướp vào.
Nó vừa huýt sáo vừa rút trong túi ra một chùm chìa khóa. Nam chưa
bao giờ nhìn thấy một chùm chìa khóa như vậy, hình như ở đấy có
mọi loại chìa khóa trên đời. Hùng lúi húi một chốc bên cái ổ khóa
và… một tiếng tách nhỏ, cái khóa bật ra. Cửa mở. Một mùi ẩm mốc
mát lạnh. Nam khoan khoái bước vào nhà bố – nhà của mình.
– Tao còn là Hùng-vạn-năng nữa kia đấy, chú mình ạ. Nhưng tao
thích cái tên Hùng Lé hơn. Hùng Lé, oai hơn phải không chú mình?
Chà, nhà bố chú mình mát quá. Nhưng bố chú mình nghèo thật đấy.
Trong nhà chẳng có cóc khô gì cả!
Nam chẳng hề để ý xem bố giàu hay nghèo. Nó hồi hộp nhìn thùng
đựng gạo của bố. Nó mở nắp thùng ra. May quá, còn những nửa
thùng. Rồi nó nhấc chiếc bếp dầu dưới nhà lên. Dầu sóng sánh ra
tay nó. Vậy là tuyệt rồi.
– Em nấu cơm, anh Hùng nhé!
– Phải đấy, nấu cơm mà ăn. Còn tao không ăn đâu. Tao ăn quán
quen rồi. Cũng có nhiều lúc đói như mẻ, nhưng bây giờ thì no căng,
no như quả bóng thế này này. Chà, nhà bố chú mình nghèo quá,
chẳng có cái cóc khô gì cả. Nhưng được cái mát thật, tao chợp mắt
tí đây.
Nam đã nấu cơm xong. Không có tiền mua rau, nhưng trong chạn
bố còn tôm rảo kho đường. Bát đũa thì có sẵn. Mỗi lần lên thành
phố thăm bố, thế nào mẹ cũng mang theo một bó đũa, mẹ ngồi vót
đũa những lúc rỗi rãi, những đôi đũa mẹ vót bằng gốc tre đực, bóng
như đũa mun. Mẹ vẫn thường nói: “Tội nghiệp bố, nấu ăn lủi thủi
một mình!”. Mẹ biết rằng bố còn bận công tác, bố không thể chuyển
về quê nhà làm việc được. Bởi vì bố là kĩ sư đóng tàu thủy, bố về xã
làm gì?
Nghe nói nhà máy đóng tàu của bố rộng mênh mông, bố và các chú
công nhân đang đóng những con tàu hàng ngàn tấn.
– Anh Hùng ơi, dậy ăn cơm đi! Hùng Lé bật dậy, hốt hoảng:
– Chết rồi! Tao ngủ đã lâu chưa hả chú mình? Bây giờ là mấy giờ rồi
nhỉ?
– Chưa đến mười một giờ đâu – Nam nói.
– Thôi được, không sao – Hùng nhìn nồi cơm, đĩa tôm kho đường –
Mày nấu cơm gạo quê à? Thơm điếc cả mũi. Ngon đấy, sáng nay
tao ăn hết một xỉa mà bây giờ đã đói rồi.
– Một xỉa là gì hả anh?
– Là mười đồng ấy mà. Rồi mày cũng biết những thứ đó ngay thôi.
Nhưng mày ăn cơm đi chứ!
– Cả anh ăn nữa.
– Không, tao chỉ ăn một con tôm thôi. Tao phải đi ra ga đây. Chậm
chút nữa là Râu Xồm nó luộc tao chín như khoai ấy.
Hùng ăn một con tôm và ra đi. Nam nghe tiếng huýt sáo dọc cầu
thang. Nó cầm bát cơm lên ăn, vừa ăn vừa suy nghĩ. Hùng Lé là
người thế nào? Nó có vẻ tốt mà vẫn thế nào ấy. Nhất là thỉnh thoảng
nó nói ra những tiếng lóng nghe chối tai không chịu được. Nhưng
không có Hùng Lé thì từ sáng đến giờ mình biết xoay xở thế nào?
Dù sao thì cũng phải cám ơn nó, nó chê mình quỷnh là phải. Mình
thì ngố, còn nó lại tài ba làm sao!
Nam khép cửa, đưa bát ra phía nhà tắm để rửa. Lúc trở về phòng,
nó đi qua một cánh cửa sổ mở toang. Hai cái trán trẻ con dựa vào
song cửa, mớ tóc con gái rủ lơ thơ. Nam nhớ ra rồi, đây là bé Liên
và bé Hương, hai đứa trẻ sinh đôi của nhà bác Thịnh. Năm ngoái
Nam ra chơi, chúng còn bé tí, vậy mà bây giờ đã ra dáng học sinh
lớp một rồi.
Nhà bác Thịnh giàu, rất giàu nữa là khác. Người trong dãy nhà ba
tầng này nói thế. Bố cũng bảo thế. Bác Thịnh trai là quản đốc phân
xưởng, bác thường được đi nước ngoài tham quan người ta đóng
tàu. Bác gái đi học ở Đức về, nay làm giám đốc một nhà máy làm
sợi len. Trong nhà bác Thịnh, toàn là những thứ đồ đẹp cả. Nào
quạt, nào máy truyền hình, nào quần áo len dạ, xe máy nữa. Nhà có
nhiều đồ đạc như thế nên khi hai bác đi làm, bé Liên và bé Hương
đều bị nhốt. Bác Thịnh trai – tính rất cẩn thận – đã khóa cửa bằng
một cái khóa đồng to tướng mua tận Tiệp Khắc. Như vậy là chắc
chắn lắm rồi. Lũ trộm chỉ còn ngồi bên ngoài mà khóc thôi. Chỉ tội
nghiệp Liên và Hương. Giá như con nhà khác thì chúng đã được
giao chìa khóa, muốn đi đâu chỉ việc khóa cửa lại, tha hồ mà chơi.
Nam đặt rổ bát xuống hành lang, lại bên cửa sổ.
– Meo, meo… – Nó làm tiếng mèo kêu và bẹo vào mũi bé Liên.
– Anh Nam, mở cửa cho em ra với. Chúng em bị nhốt từ sáng đến
giờ rồi – Liên nũng nịu. Nó vẫn bị Nam gọi là Liên Mèo từ năm
ngoái.
– Anh chịu thôi. Anh có chìa khóa đâu.
– Hay là anh bắt hộ em con chuồn chuồn đậu trên hành lang kia –
Bé Hương, giống Liên như đúc một khuôn, nói.
– Được, để anh bắt cho.
Nam thè lưỡi, nín thở, đưa tay ra, nhưng con vật bé bỏng mà khôn
ngoan đã bay sang đậu một chỗ khác cách đó dăm mét.
Chuồn chuồn có cánh thì bay…
Tiếng Hùng Lé nói sau lưng Nam. Có lẽ nó về lúc Nam đang lúi húi
rửa bát đĩa.
Hùng nhanh như một con chồn, nó lần theo bức tường, một nháy
mắt, con chuồn chuồn đã nằm trong tay nó.
– Cho em, cho em.
Hai cánh tay đưa ra cửa sổ.
Hùng Lé bước lại, đặt con chuồn chuồn đã bị hớt mất một mẩu cánh
vào tay bé Liên. Nó nhoẻn cười với hai đứa trẻ đang vui như hội và
nhìn qua song cửa, mắt bỗng sáng lên như có một tia nắng chiếu
vào. Nhưng tia sáng ấy lại tắt ngấm ngay.
– Về đi.
Nam nói và kéo tay Hùng Lé về nhà bố.
Cửa lớn khép hờ, Nam giật mình, trong nhà có ai đó. Nó định thần
lại và nhìn thấy một thanh niên vạm vỡ, râu quai nón phủ kín hai
bên má, từ dưới tai kéo xuống tận cằm. Mái tóc anh ta không để dài
mà cắt cao, nhưng vì bộ râu, vì đôi lông mày rậm, trông anh ta dữ
tợn như đang muốn đánh ai.
– Vào đây em, vào đây!
Nam ngạc nhiên vì nghe thấy tiếng anh thanh niên gọi nó một cách
dịu dàng, thân ái nữa. Dưới chân anh ta là một bao tải trong đựng
thứ gì đó có vẻ nặng lắm. Phút chốc Nam tưởng như anh ta là một
anh thợ hiền lành vừa đi làm về. Mặt anh khó đăm đăm, có lẽ vì anh
quá mệt.
– Em cất bát rồi ngồi xuống đây, anh bảo – Anh ta nói tiếp, vẫn với
giọng rất dịu dàng.
Hùng Lé khép cửa. Nó ngồi xuống mép giường của bố. Trông nó
không được nhanh nhẹn như khi chỉ có hai đứa với nhau. Nam cảm
thấy Hùng sợ anh thanh niên lạ mặt này lắm. Anh ta bảo Hùng:
– Hùng, giới thiệu chú với bạn Nam đi!
– Đây là chú ruột tớ – Hùng nói, vẻ miễn cưỡng.
– Thế đấy – Anh thanh niên nói – Vậy là từ đây ta thành chú họ của
cháu, Nam ạ. Chú tên là Sáu, làm nghề thợ điện cùng một nhà máy
với bố cháu, nghĩa là cái nhà máy trước đây, khi bố cháu vừa học ở
nước ngoài về cơ, bây giờ bố cháu chuyển sang nhà máy khác rồi.
Nghe Hùng kể chuyện, chú mừng lắm. Vậy là đã năm sáu năm, chú
không gặp bố cháu. Còn trước kia thì quấn quýt nhau như hai anh
em vậy. Chả chú là cây sáng kiến của nhà máy mà. Còn bố cháu là
kĩ sư giỏi.
Có những người bề ngoài rất khó coi, hung dữ nữa là khác, nhưng
bên trong thì rất hiền lành. Ở làng Phượng Vĩ có một ông già quắc
thước dữ tướng như hùm, nhưng chiều chuộng trẻ con hết mức.
Chú Sáu này có thể là một người như vậy chăng?
– Trời ơi, trông cháu giống bố như hai giọt nước vậy. Lại đây chú
cho quà.
Anh ta kéo Nam lại, xoa đầu Nam rồi rút trong túi ra một phong kẹo
lạc.
– Ăn đi cháu!
Nam cầm phong kẹo, đưa mắt tìm Hùng Lé, nhưng nó đã biến đâu
rồi. Hùng đi đâu? Nó cứ nhanh như con chồn, thoắt ẩn, thoắt hiện
không biết đâu mà lường được. Anh thanh niên lấy lại phong kẹo,
bóc ra, ăn một thanh rồi đưa cả cho Nam. Nam lấy một thanh, ăn
ngon lành.
Trong khi Nam ăn kẹo thì anh thanh niên đi lại trong gian phòng,
nhìn rất kĩ bức ảnh của bố, những tờ tranh bố treo trên vách, miệng
lẩm bẩm: “Chà trông bố cháu thay đổi nhiều quá đi mất. Chắc là
công việc vất vả lắm!”. Rồi anh ta ngồi xuống bàn viết của bố, đưa
mắt đọc những tờ giấy bố đang viết dở, lật mấy tờ lên, rút ra một
quyển vở, giở ra một cách lơ đãng nhưng vẫn có ý tìm tòi một cái gì.
Rồi anh đặt xuống:
– Nhà chú ở xa lắm, tận bên Thủy Nguyên cơ. Chú làm ở thành phố
nhiều khi hàng tuần mới về. Đi làm về chú thường đến nhà những
người bạn thân ở nhờ, nhiều khi ngủ trưa trong nhà máy. Giá mà
chú biết bố cháu ở đây thì khéo chú đã đến ở với bố cháu cho vui.
Nhưng được rồi, bây giờ bố cháu đi vắng, chú sẽ ở lại với cháu mấy
hôm cho cháu đỡ buồn và đỡ sợ. Cháu biết không – anh hạ giọng –
ở thành phố không như quê cháu đâu. Trộm cắp nhiều lắm, cháu ở
đây một mình chẳng có lợi chút nào.
Nam cảm thấy chú Sáu muốn nói, nói rất nhiều về tình cảm sâu
nặng của chú đối với bố. Nhưng sao chú có vẻ tò mò như thế nhỉ?
Ở nhà Nam, đã thành thói quen, Nam, bé Việt và cả mẹ nữa, không
ai ngồi vào bàn, lục lọi hay tò mò đọc những thứ bố viết như thế. Có
lẽ ở nhà chú này thì khác chăng?
– Cháu ăn nữa đi.
– Dạ, đủ rồi ạ! – Nam mở ngăn kéo, cho gói kẹo ăn dở vào.
– Bây giờ, chú tranh thủ ngủ một chút để chiều còn đi làm. Đúng
một giờ rưỡi nhớ đánh thức chú dậy nhé. Nếu Hùng về thì bảo rằng
chú đã đi, chiều chú về đây, cả mấy chú cháu ăn cơm rồi cùng rửa
bát.
Trong khi nói như thế, đôi mắt anh ta không rời Nam cũng như mọi
vật trong phòng, đôi mắt thỉnh thoảng lại sáng lên, trông như mắt
mèo.
Chờ “người chú họ” thiu thiu ngủ. Nam mở cửa ra ngoài. Nó muốn
tìm một chỗ vắng nào đó để suy nghĩ, để bình tĩnh lại, vì quả thật,
sự xuất hiện của người chú họ không quen biết này làm Nam thấy
rối trí quá. Nó cẩn thận bóp khóa vào rồi bước dọc hành lang.
Nó nhìn thấy Hùng Lé đang đứng bên cửa sổ nhà bác Thịnh nói
chuyện và đùa nghịch với hai cô bé sinh đôi. Hai đứa trẻ tỏ vẻ
quyến luyến và khâm phục Hùng sau khi được nó bắt hộ con chuồn
chuồn. Còn Hùng thì đang lấy giấy gấp cho chúng những đồ chơi
vặt như: con chim, cái thuyền, cái quản bút. Thấy Nam, Hùng lúng
túng đặt các thứ xuống thành cửa sổ.
– Bố chúng nó sắp về đấy – Hùng Lé nói và kéo Nam đi khỏi cửa
sổ.
Nam thấy ghen tị, Hùng như không muốn Nam chơi đùa với hai đứa
trẻ. Cả hai cô bé cũng như quên bẵng Nam, rõ là chúng đã bị Hùng
lôi cuốn vì những trò chơi thú vị, những con giống bằng giấy.
Đúng một giờ rưỡi chiều, không đợi Nam đánh thức, “người chú họ”
bật dậy. Anh ta lấy tay dụi mắt, tự rót nước trắng trong chai của bố
uống một cốc đầy, chụp lên đầu cái mũ cối đã tàng, đeo một đôi
kính đen to tướng rồi đứng trước gương ngắm nghía. Anh ta chợt
thấy râu quai nón tua tủa quanh cằm liền lấy dao cạo (bố vẫn để
dao trước gương, trên một tấm kính nhỏ). Cái dao bào ủi đám râu
cứng kêu sồn sột nghe ớn cả người.
– Hùng đâu rồi? – Anh ta vừa cạo râu vừa nhìn vào gương hỏi Nam
lúc đó đang ngồi trên mép giường phía sau anh ta.
– Đi rồi ạ.
– Tốt.
Cạo râu xong, anh ta đẩy cái bao tải vào tít gầm giường nói:
– Có mấy thứ đồ nghề của chú gửi cháu. Nhớ đừng có nghịch nhé.
– Dạ.
– Tốt.
Rồi anh ta đi ra, không quên khép kín cửa.
Nam lăn ra giường. Mát quá. Cả một đêm không ngủ, rồi bao nhiêu
chuyện lại xảy ra từ sáng sớm đến giờ làm đầu óc nó mụ mị đi. Nó
không thể bình thản được khi sực nhớ ra rằng đây không phải là
làng Phượng Vĩ của nó. Đây là thành phố, có hằng hà sa số người
sống chen chúc trong những ngôi nhà san sát như bát úp, trên một
khoảng đất chật hẹp. Ở làng, đi ngủ thường ít khi phải đóng cửa.
Ban ngày, người ta đi làm đồng, cửa ngõ, đồ đạc cứ bày ra đấy. Bất
kì người nào vào nhà đều được mời uống nước, hút thuốc. Ai đói,
người làng sẽ mời ăn cơm. Ai nhỡ đường sẽ được nhường chỗ
ngủ. Chính các chú công an xóm sau khi xem giấy tờ sẽ sắp xếp
chỗ ăn ở cho những người khách lạ ấy. Ai từ biệt làng Phượng Vĩ
cũng luyến tiếc, nhớ nhung. Hùng Lé đã nhường bánh cho Nam ăn
ở sân ga, đã chỉ vẽ cho Nam những điều bỡ ngỡ. Hùng đến nhà,
Nam phải đối xử với Hùng như bạn bè. Nhưng còn “người chú họ”
kia là ai? Mà thôi, nghĩ vớ vẩn như thế để làm gì khi chưa có gì xảy
ra cả. Thật thế, có hai người khách đến nhà Nam và giờ họ đã ra đi.
Họ chưa làm gì xấu cả, Nam cũng phải ngủ một giấc đây, ngủ bù
cho đêm qua và buổi sáng vất vả. Ngủ trong nhà của bố sau khi no
bụng thì có gì phải nói nhỉ? Cửa đã khép lại rồi, chỉ còn cài then bên
trong nữa thôi.
Nam tỉnh dậy, sau một giấc ngủ dài và say sưa. Thật không còn biết
trời đất gì nữa. Mẹ thường nói: “Ngủ say như củ khoai” là vậy đấy.
Gian nhà hơi tối, nhưng mát rượi. Nắng trưa không lọt vào chỗ nào
được. Nam mở cửa sổ phía hồi nhà. Mọi vật như cùng tỉnh dậy với
Nam, những vật quá quen thuộc, vẫn nằm yên ở chỗ cũ, từ ngày
nào Nam không còn nhớ nữa. Nam cúi nhìn xuống gầm giường,
chiếc bao tải “đồ nghề” của chú râu quai nón vẫn còn đó.
Nam ra cửa lớn, đưa tay kéo cái chốt. Nó đẩy cửa để ra ngoài.
Nhưng sao thế này? Một cảm giác lành lạnh chạy từ gáy dọc theo
sống lưng nó. Không thể nào mở được cửa. Nó hiếng mắt nhìn qua
chút khe hở và hiểu ngay: Cửa đã khóa ở bên ngoài. Ai đã khóa
trong khi Nam ngủ? Hay là chú râu quai nón? Không, lúc chú ấy ra
đi không nghe thấy tiếng bóp khóa. Thật ngu, lúc đi rửa bát về Nam
lấy chìa ở Hùng để mở cửa rồi quên khuấy, cứ để cái khóa và cả
chìa lủng lẳng ở đó. Vậy thì có ai đã nghịch ngợm khóa Nam lại, để
dạy cho Nam một bài học đây. Chưa chắc. Ở khu tập thể này chẳng
ai nghịch ngợm như thế. Nếu thấy Nam quên khóa ngoài cửa, họ sẽ
gọi và đưa cho Nam ngay. Vậy thì ai?
Nam nghĩ đến Hùng Lé, đến “người chú họ” râu quai nón và cảm
giác lạnh dọc sống lưng càng tăng. Hay là…
Phải, Nam thấy lóe lên trong đầu một dự đoán đáng sợ. Họ muốn
mình phải ở trong nhà, không được đi đâu. Hay là trong chiếc bao
tải kia có những thứ quý giá và đắt tiền đến mức người ta phải cẩn
thận như vậy?
Nam áp tai vào cửa nghe ngóng. Không có gì đáng ngờ. Nó rón rén
lại phía giường, chui vào, kéo cái bao tải ra. Cái bao tải nặng quá
chừng, phải cố hết sức mới kéo ra được chỗ sáng. Nam mở sợi
dây, cho tay vào trong bao. Vòng bi! Một bao tải vòng bi, dễ có đến
hàng trăm chiếc. Nam hiểu ngay đây là những chiếc vòng bi đáng
ngờ. Không ai giao cho người thợ điện như ông “chú họ” râu quai
nón này một số vòng bi nhiều như thế.
Nó từ từ đẩy chiếc bao tải vào chỗ cũ, lại ghế ngồi, suy nghĩ. Có thể
chú ấy đưa vòng bi đi chữa cho nhà máy? Có thể chú ấy đi mua về?
Nhưng tại sao lại khóa cửa lại? Nam nửa tin nửa ngờ, không biết
thế nào là đúng. Bây giờ có lẽ còn một việc cần làm là hô hoán lên
cho hàng xóm biết rằng Nam đang bị nhốt. Không, không nên ầm ĩ
như vậy trong khi chưa có chuyện gì xảy ra. Có lẽ mình đã dại dột
khi đưa Hùng Lé về đây. Bây giờ tốt nhất là cứ nằm ngủ đợi vài
tiếng đồng hồ nữa, Hùng Lé hay “người chú họ” sẽ trở lại và lúc đó
hẵng hay.
Nó lại nằm xuống giường nhưng không tài nào chợp mắt được. Có
tiếng nói chuyện lào xào đâu đây ngoài hành lang. Ngố thật – Nam
nghĩ bụng – hồi nãy mình định kêu lên, nhưng kêu thì có ai thưa.
Dọc hành lang chẳng nhà nào có người ở nhà. Còn lũ trẻ thì đều bị
nhốt, đứa thì ngủ, đứa thì đang nấu ăn hay chơi với nhau trong nhà.
Ai nói chuyện đấy nhỉ? À, có lẽ bé Liên con nhà bác Thịnh. Nam rón
nhẹ chân lại phía cửa. Nó áp tai vào tấm ván, cố nghe:
– Anh Hùng ơi, mở cửa cho chúng em ra ngoài chơi với!
– Suỵt, nói khẽ chứ.
– Anh phải mở cho em ra cơ.
– Được rồi, để mở cho. Phải khe khẽ chứ.
Nam nghe những chiếc chìa khóa va vào nhau lách cách. Có lẽ
Hùng vẫn chưa mở được cửa. Hùng mở để làm gì? Tốt nhất là
mình lên tiếng để Hùng biết rằng mình đã biết nó đang mở cửa:
– Hùng ơi, mở hộ tôi nữa với! Nam cố hét thật to.
Có tiếng lách cách. Cửa mở ra thật và “người chú họ” bước vào
như một cơn gió đen rồi đóng áp cửa lại. Anh ta ăn mặc hoàn toàn
khác lúc ra đi. Quần áo bộ đội cũ, chân mang dép cao su, đầu vẫn
đội cái mũ cối ấy và không đeo kính râm. Trông anh ta không còn
dữ tợn như trước nữa. Cả bộ râu quai nón hình như cũng biến mất.
– Chú Sáu! – Nam nói, giọng lạc đi.
– Không chú cháu gì hết!
Anh ta đưa hai cánh tay như hai cái gọng kìm quặp lên vai Nam, ấn
nó ngồi xuống chiếc ghế thấp trong góc phòng.
– Ngồi xuống đây và im mồm, nghe không, thằng nhãi!
Hắn dằn từng tiếng khi nói câu đó và trong nháy mắt Nam hiểu ngay
việc gì đang xảy ra. Nó cố vùng dậy dưới hai bàn tay như vuốt đang
cố ghìm vai nó xuống rồi kêu to:
– Liên ơi, đừng mở cửa…
Một cái tát như trời giáng làm Nam tối tăm mặt mũi. Nó loạng
choạng nhổ xuống nền nhà một bãi nước bọt dính máu. Bàn tay
phải của “người chú họ” đang dứ dứ trước mặt nó và qua những tia
đom đóm trước mặt nhì nhằng Nam nhìn thấy một khẩu súng ngắn,
cái nòng đen ngòm.
– Im mồm!
Hắn ấn Nam ngồi xuống, ung dung thả khẩu súng vào túi quần.
Cửa mở. Một người khác, không to lớn bằng “người chú họ”, ăn
mặc như những thanh niên Nam vẫn thấy lang thang ngoài đường
phố, đẩy Liên và Hương vào nhà. Cả hai đứa đều nước mắt nước
mũi đầm đìa, hai má phồng to. Nam nhìn thấy trong mồm chúng cả
một đống giẻ to tướng. Có lẽ là những chiếc khăn rửa mặt.
– Bịt mồm thằng này nữa!
Sáu hất hàm và thằng kia lấy ngay cái khăn của bố nhét chặt vào
miệng Nam rồi trói mỗi đứa vào một chiếc ghế. Bé Liên và Hương
nhìn Nam không chớp mắt. Nam cảm thấy chúng đang trách móc
Nam và tim nó se lại vì hối hận. Nhưng không có cách gì nói chuyện
với hai cô bé được nữa rồi. Nếu không có cái khăn mặt này thì nhất
định Nam sẽ kêu toáng lên rồi ra sao thì ra!
– Cho tất cả sang đây rồi khóa cửa lại như cũ! – Sáu ra lệnh.
Thằng kia đi ra rồi trở lại ngay cùng với đồ đạc nhà bác Thịnh. Đầu
tiên là cái quạt Nhật mạ kền sáng loáng, chiếc va li, một túi ni lông
không biết chúng đã nhét đầy những thứ gì, một bó nữa, một bó
nữa…
– Thằng Xám vẫn canh dưới cầu thang đấy chứ?
– Còn dưới đó, anh Hai à!
– Xe đến chưa?
– Dạ rồi. Có mỗi chiếc xe bò thôi, anh Hai.
– Đưa xuống rồi vù thôi. Đến 162 nghe không?
Chúng nó thay nhau mang các thứ chạy sầm sập xuống cầu thang.
Nam không thấy Hùng đâu cả. Có lẽ nó đang đứng canh gác ở đâu
đó. Khi mớ đồ đạc đã chuyển đi hết rồi, Sáu là người cuối cùng.
Hắn có vẻ vui, bóp bóp nhẹ vào miệng Nam và hai cô bé rồi nói:
– Để xem ba cái khóa miệng có chắc không nào? Hắn nhét vào tay
mỗi đứa một chiếc kẹo giấy bóng.
– Chịu khó ngồi một chốc, các “cháu yêu” nhé. Rồi bố mẹ sẽ về
ngay thôi mà, lúc đó tha hồ mà ca hát.
Nam buông tay cho cái kẹo rơi xuống đất.
Sáu đi ra, đóng cửa nhẹ nhàng, rồi có tiếng khóa lách cách bên
ngoài. Nhưng hắn quay lại. Hắn cúi xuống gầm giường lôi cái bao
tải ra:
– Suýt thì quên mất món sò huyết – Hắn nói, cho bao tải lên vai, ra
khỏi phòng, khóa lại như cũ.
Nam cố vùng vẫy để làm tung sợi dây, nhưng không có cách gì
được. Gian phòng tối om, im ắng. Nam đoán thế nào Hương và Liên
cũng khóc, nhưng nó không nhìn rõ nét mặt của hai đứa mà cũng
chẳng nghe thấy tiếng sụt sịt nào. Hay là chúng nó đã lịm đi vì mệt
và sợ? Ngộ nhỡ chúng bị ngất đi thì sao? Biết làm sao bây giờ? Có
cách nào tự cởi được sợi dây thì sẽ ổn tất cả. Nhưng sợi dây là sợi
dây. Nam đâu biết rằng nó đã bị trói bởi hai bàn tay của Muỗi Vằn.
Những cái nút buộc của hắn đã từng nổi tiếng trong đám trộm cắp
kiếm ăn quanh bến cảng.
“Tất cả chỉ tại mình hết” – Nam nghĩ – “Bác Thịnh bị mất trộm của
cải là do mình đưa Hùng Lé về nhà. Bé Liên và bé Hương bị đánh,
bị đày đọa, vì mình, vì mình hết!”. Nam thấy hết sợ, nhưng nó khóc
vì hối hận và nhục nhã… Rồi nó lịm đi lúc nào không biết.
Những tiếng kêu khóc om sòm đánh thức cả ba đứa dậy (Hai cô ...
 








Các ý kiến mới nhất