Tìm kiếm Giáo án
Bước đầu phân biệt truyền thuyết và giai thoại

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Bình luận Văn học – Niên giám 2005, NXB Văn Hóa Sài Gòn & Hội nghiên cứu – Giảng dạy Văn học TP.HCM, tr.95.
Người gửi: Võ Phúc Châu
Ngày gửi: 14h:50' 23-02-2008
Dung lượng: 218.0 KB
Số lượt tải: 85
Nguồn: Bình luận Văn học – Niên giám 2005, NXB Văn Hóa Sài Gòn & Hội nghiên cứu – Giảng dạy Văn học TP.HCM, tr.95.
Người gửi: Võ Phúc Châu
Ngày gửi: 14h:50' 23-02-2008
Dung lượng: 218.0 KB
Số lượt tải: 85
Số lượt thích:
0 người
BƯỚC ĐẦU PHÂN BIỆT TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI
VÕ PHÚC CHÂU *
***
1. Phân biệt truyền thuyết và giai thoại – vấn đề đặt ra tưởng chừng không cần thiết. Bởi chúng đã là hai thể loại khác nhau. Từ điển văn học (bộ mới) giới thuyết chúng rõ ràng qua việc giải thích thuật ngữ . Nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu về phônclo cũng không xem chúng là một .
Tuy nhiên, việc phân biệt hai thể loại này lại liên quan trực tiếp đến vấn đề lý thuyết lẫn thực tế sưu tầm, biên soạn văn học dân gian.
1.1. Trong khoa học về phônclo, việc đối sánh các thể loại với nhau luôn là thao tác hữu hiệu nhằm củng cố thêm đặc trưng thể loại và tìm hiểu cấu trúc bên trong tác phẩm. Thao tác này được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và khó khăn nhất của người nghiên cứu văn học dân gian. Vì theo Propp, “ranh giới giữa các thể loại không phải bao giờ cũng vững chắc và đôi khi cũng bị phá vỡ” (V. IA. Propp, 1976, Phônclo và thực tại, NXB Khoa Học, Moskva - Bản dịch tiếng Việt của Chu Xuân Diên – tài liệu đánh máy, tr.28). Truyền thuyết và giai thoại cũng không có ngoại lệ: “… Trong những ghi chép sớm nhất, giai thoại văn học thường không phân giới rõ rệt với truyền thuyết, truyền kỳ, có những mảng giai thoại xuất hiện thời kỳ sau lại gần với tiếu lâm” (Từ điển Văn Học, Sđd, tr.519).
1.2. Thực tế càng chứng tỏ hai thể loại này chưa được phân giới rõ ràng. Khi sưu tầm, khảo sát chuyện dân gian về những anh hùng kháng Pháp ở Nam Bộ, có quan điểm cho rằng: “Khác với những truyền thuyết danh nhân ở Bắc Bộ, những truyện ở đây có thể xem là những giai thoại vì nó gần gũi với người thật, ít có yếu tố siêu nhiên, thần kỳ” (Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, NXB Giáo Dục, 2002, tr.14). Có công trình gộp chung mọi tự sự dân gian vào giai thoại (Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười, NXB Đồng Tháp, 1988). Có tập sách gọi một số tác phẩm là giai thoại, trong khi chúng hội đủ những đặc trưng của truyền thuyết: Giai thoại về Thiên Hộ Dương, Giai thoại về ông Phòng Biểu… (Nam kỳ cố sự, NXB Đồng Tháp, 1997).
2. Về thao tác khoa học, việc đối sánh hai thể loại này tưởng chừng chông chênh. Liệu có nên khảo sát một đối tượng khi nó còn đang vận động và biến đổi ? Bởi truyền thuyết đôi khi còn nhập nhằng với thần thoại, cổ tích . Giai thoại thuộc về văn học viết hay văn học dân gian ? Giai thoại có phải là một loại hình của truyện cổ tích hay không ? (Phônclo và thực tại , Sđd, tr.44) v.v.
Thực ra, sự phức tạp trên không ngăn trở việc tìm ranh giới giữa truyền thuyết và giai thoại. Trái lại, nó còn hỗ trợ cho việc nhận diện rõ hơn đặc trưng, cấu trúc của các thể loại này - cơ sở quan trọng dùng đối sánh. Hơn nữa, nếu một thể loại văn học dân gian (biểu hiện qua từng đơn vị tác phẩm cụ thể) luôn có sự biến đổi, giao thoa với thể loại khác thì điều đó càng chứng tỏ nó vẫn đang sống và rất giàu sức sống. Về điều này, Propp đã từng khẳng định: “Tác phẩm phônclo vận động, luôn luôn thay đổi, và sự vận động, sự thay đổi ấy là một trong những dấu hiệu đặc trưng của phônclo” (Phônclo và thực tại , Sđd, tr.12).
3. Tiến hành phân biệt truyền thuyết và giai thoại cũng đồng nghĩa với việc quay về khảo sát đặc trưng từng thể loại và đối sánh chúng với nhau. Nó gắn với hàng loạt câu hỏi: Truyền thuyết là gì? Giai thoại là gì? Chúng thường nhập nhằng ở phương diện nào? Tại sao có sự nhập nhằng ấy? Những căn cứ nào giúp phân biệt chúng? Có thể rút ra dấu hiệu nhận dạng từng thể loại không?...
Bằng kiến thức và tầm nhìn có hạn, chúng tôi xin bước đầu trả lời những câu hỏi này.
3.1. Truyền thuyết là một thể loại lớn trong văn học dân gian, đã hình thành, vận động và phát triển lâu đời. Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã xác định được bản chất thể loại này.
Tựu trung, truyền thuyết là những tự sự dân gian có cái lõi lịch sử; màu sắc ít nhiều huyền ảo; nội dung kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử. Truyền thuyết không phải là chính sử mà chỉ là dã sử. Nó là văn học chứ không phải lịch sử. Nó thể hiện cách nhìn, cách đánh giá của nhân dân về lịch sử.
Khác chính sử, một số sự kiện trong truyền thuyết có thể do người dân bịa đặt, tưởng tượng ra. Nhưng điều đó chỉ nhằm củng cố thêm niềm tin, sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với những người có công trong lịch sử.
Tuy nhiên, không phải nhân vật, sự kiện lịch sử nào cũng được đi vào truyền thuyết. Muốn thành truyền thuyết, những nhân vật, sự kiện này phải gần gũi với nhân dân; phải được nuôi dưỡng bởi lòng biết ơn, sự tôn thờ và ngưỡng mộ của bao thế hệ; phải tồn tại qua nhiều chứng tích văn hóa …
Truyền thuyết được chia thành nhiều nhóm: truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết thần tổ ngành nghề, truyền thuyết địa danh ...
Trong đó, tiêu biểu nhất cho đặc điểm thể loại là nhóm truyền thuyết lịch sử.
Do vậy, khi tiến hành đối sánh truyền thuyết với giai thoại, chúng tôi căn cứ vào đặc điểm của nhóm truyện này.
3.2. Giai thoại là đối tượng nghiên cứu khá mới mẻ của văn học dân gian và cả văn học thành văn. Tuy được công nhận là một thể loại nhưng lý thuyết về nó còn ít được chú ý. Ở Trung Quốc, thuật ngữ giai thoại xuất hiện ngay từ thời Đường – Tống nhưng chưa thấy ai luận bàn gì về thể loại. Ở Nga, những năm 60 của thế kỷ XX, lý thuyết giai thoại mới được giới Phônclo học quan tâm. Còn ở Việt Nam, thuật ngữ này chỉ được chính thức sử dụng từ 1965, qua tập sách Giai thoại văn học Việt Nam của nhóm soạn giả Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch. Nhìn chung, theo Vũ Ngọc Khánh: “Tuy vẫn luôn luôn được nhắc đến, kể đến, với nhiều trân trọng, nhưng phải nói rằng giai thoại chưa được nghiên cứu bao nhiêu, và thật ra thì cũng chưa xác định vị trí cho rõ rệt lắm” (Tiếp cận kho tàng Foklore Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999, tr.164).
Cho đến nay, qua một số công trình nghiên cứu về phônclo, bản chất của giai thoại, nhìn chung, đã được xác định. Theo GS. Kiều Thu Hoạch, “giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có nghĩa là hay, thoại là câu chuyện kể. Như vậy, giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp, mà lâu nay, giới nghiên cứu vẫn coi thuật ngữ này là tương đương với thuật ngữ anecdote của phương Tây” (Thông báo Văn hóa dân gian 2002, Sđd, tr.644). Vũ Ngọc Khánh cũng xem giai thoại tương đương với thuật ngữ anecdote đồng thời nhấn mạnh, đó là những mẩu chuyện ngắn, rất ngắn, có tính cách hài hước, dí dỏm, gây được những nụ cười “mang ý nghĩa triết học” (Sđd, tr.164). Chú ý đến không gian sống của nó, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố cho giai thoại “là việc tốt, chuyện hay, thường truyền tụng ở dân gian” (Phan Đình Phùng – Việt sử giai thoại, NXB Văn Học, Hà Nội, 2000, tr.243). Có khác đi, Lại Nguyên Ân cho giai thoại là “một thể loại chuyện kể truyền miệng, lưu hành chủ yếu trong giới nhà văn và lớp công chúng yêu thích thơ văn, nhất là những người có hiểu biết Hán học và văn chương chữ Hán” (Từ điển Văn Học, Sđd, tr.519). Nghiêng về thi pháp thể loại, Guxép định nghĩa, “Chúng tôi gọi là giai thoại, tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước, được xây dựng trên một tình tiết có một sức tăng tiến, tới điểm cao, biểu hiện rõ rệt và hết sức bất ngờ” (Tiếp cận kho tàng Foklore Việt Nam, Sđd, tr.168).
Theo trên, giai thoại là những tự sự dân gian, chủ yếu được truyền miệng. Nó là những câu chuyện lý thú, hay, đẹp, có tính chất hài hước, dí dỏm, mang nhiều ý nghĩa triết lý.
3.3. Thoạt xem qua, truyền thuyết và giai thoại chỉ giống nhau ở chỗ: cùng là những tự sự dân gian và chủ yếu được truyền miệng. Còn lại, một bên gắn liền với những vấn đề, sự kiện lịch sử, thiêng liêng, hệ trọng; một bên là chuyện đời thường, lý thú và hài hước. Làm sao có thể nhầm lẫn giữa hai thể loại có nhiều dấu hiệu khác biệt nhau như vậy?
Tuy nhiên vấn đề không đơn giản và không dừng ở đó.
Soi vào thực tế tác phẩm, nếu chỉ xem giai thoại là anecdote (theo cách hiểu của phương Tây) thì chuyện về cuộc đời những anh hùng kháng Pháp ở Nam Bộ sao được phép gọi là giai thoại? Bởi làm sao có yếu tố trào phúng, hài hước trong những câu chuyện khởi nghĩa, hy sinh đầy bi tráng? Nhưng tại sao một số công trình sưu tầm, biên soạn văn học dân gian vẫn xem chúng là giai thoại?
Có lẽ mấu chốt nằm ở chỗ này: do đặc thù văn hóa, ở phương Đông và Việt Nam, giai thoại không dễ phân biệt với truyền thuyết. Bởi, giai thoại phương Đông còn được xem “là cuốn sổ biên niên của cuộc sống, là người bạn thường xuyên của con người và của các sự kiện lịch sử xã hội” (Tiếp cận kho tàng Foklore Việt Nam, Sđd, tr.165). Giai thoại phương Đông đâu chỉ mang ý vị hài hước. Nó còn có những câu chuyện đẹp, được viết, kể thật nghiêm túc, cẩn trọng về các nhân vật lịch sử. Những công trình biên soạn về Việt sử giai thoại của Đào Trinh Nhất và Nguyễn Khắc Thuần là minh chứng .
Vấn đề sẽ càng rõ hơn khi giai thoại được phân nhóm như truyền thuyết. Qua khảo sát kho tàng giai thoại Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh đề nghị chia giai thoại làm ba nhóm: giai thoại văn học, giai thoại lịch sử, giai thoại Folklore (Tiếp cận kho tàng Foklore Việt Nam, Sđd, tr.174).
Xin ghi lại phần diễn giải của Vũ Ngọc Khánh về ba nhóm giai thoại này:
- Giai thoại văn học: những câu chuyện hoàn toàn là chuyện sáng tạo và chuyện những người sáng tạo trong địa hạt văn chương học thuật.
- Giai thoại lịch sử: những câu chuyện khác liên quan với những sự kiện, những nhân vật hoạt động trong các chính trường, có liên hệ chặt chẽ với tiến trình tồn vong của đất nước.
- Giai thoại Folklore: các mẩu chuyện về những tài năng thợ thêu, thợ chạm, những nghệ nhân, nghệ sĩ tuồng chèo, hội họa, điêu khắc, diễn xướng,… gây được những thú vị, bất ngờ; các mẩu chuyện làm nền cho những thành ngữ, phương ngôn, vẫn thường được nhân dân truyền tụng để biểu lộ niềm tin, tự hào về con người, quê hương, dòng họ,…
Theo đó, điểm chính tạo nên tình trạng nhập nhằng giữa truyền thuyết và giai thoại là do nhóm giai thoại lịch sử.
3.4. Vậy có tiêu chí nào dùng phân biệt truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử không? Có thể rút ra dấu hiệu quan trọng nhất nhằm nhận dạng từng thể loại không?... Để tìm câu trả lời, chúng tôi tìm hiểu thêm về thi pháp thể loại và kiểm chứng trên văn bản tác phẩm. Tác phẩm dùng
VÕ PHÚC CHÂU *
***
1. Phân biệt truyền thuyết và giai thoại – vấn đề đặt ra tưởng chừng không cần thiết. Bởi chúng đã là hai thể loại khác nhau. Từ điển văn học (bộ mới) giới thuyết chúng rõ ràng qua việc giải thích thuật ngữ . Nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu về phônclo cũng không xem chúng là một .
Tuy nhiên, việc phân biệt hai thể loại này lại liên quan trực tiếp đến vấn đề lý thuyết lẫn thực tế sưu tầm, biên soạn văn học dân gian.
1.1. Trong khoa học về phônclo, việc đối sánh các thể loại với nhau luôn là thao tác hữu hiệu nhằm củng cố thêm đặc trưng thể loại và tìm hiểu cấu trúc bên trong tác phẩm. Thao tác này được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và khó khăn nhất của người nghiên cứu văn học dân gian. Vì theo Propp, “ranh giới giữa các thể loại không phải bao giờ cũng vững chắc và đôi khi cũng bị phá vỡ” (V. IA. Propp, 1976, Phônclo và thực tại, NXB Khoa Học, Moskva - Bản dịch tiếng Việt của Chu Xuân Diên – tài liệu đánh máy, tr.28). Truyền thuyết và giai thoại cũng không có ngoại lệ: “… Trong những ghi chép sớm nhất, giai thoại văn học thường không phân giới rõ rệt với truyền thuyết, truyền kỳ, có những mảng giai thoại xuất hiện thời kỳ sau lại gần với tiếu lâm” (Từ điển Văn Học, Sđd, tr.519).
1.2. Thực tế càng chứng tỏ hai thể loại này chưa được phân giới rõ ràng. Khi sưu tầm, khảo sát chuyện dân gian về những anh hùng kháng Pháp ở Nam Bộ, có quan điểm cho rằng: “Khác với những truyền thuyết danh nhân ở Bắc Bộ, những truyện ở đây có thể xem là những giai thoại vì nó gần gũi với người thật, ít có yếu tố siêu nhiên, thần kỳ” (Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, NXB Giáo Dục, 2002, tr.14). Có công trình gộp chung mọi tự sự dân gian vào giai thoại (Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười, NXB Đồng Tháp, 1988). Có tập sách gọi một số tác phẩm là giai thoại, trong khi chúng hội đủ những đặc trưng của truyền thuyết: Giai thoại về Thiên Hộ Dương, Giai thoại về ông Phòng Biểu… (Nam kỳ cố sự, NXB Đồng Tháp, 1997).
2. Về thao tác khoa học, việc đối sánh hai thể loại này tưởng chừng chông chênh. Liệu có nên khảo sát một đối tượng khi nó còn đang vận động và biến đổi ? Bởi truyền thuyết đôi khi còn nhập nhằng với thần thoại, cổ tích . Giai thoại thuộc về văn học viết hay văn học dân gian ? Giai thoại có phải là một loại hình của truyện cổ tích hay không ? (Phônclo và thực tại , Sđd, tr.44) v.v.
Thực ra, sự phức tạp trên không ngăn trở việc tìm ranh giới giữa truyền thuyết và giai thoại. Trái lại, nó còn hỗ trợ cho việc nhận diện rõ hơn đặc trưng, cấu trúc của các thể loại này - cơ sở quan trọng dùng đối sánh. Hơn nữa, nếu một thể loại văn học dân gian (biểu hiện qua từng đơn vị tác phẩm cụ thể) luôn có sự biến đổi, giao thoa với thể loại khác thì điều đó càng chứng tỏ nó vẫn đang sống và rất giàu sức sống. Về điều này, Propp đã từng khẳng định: “Tác phẩm phônclo vận động, luôn luôn thay đổi, và sự vận động, sự thay đổi ấy là một trong những dấu hiệu đặc trưng của phônclo” (Phônclo và thực tại , Sđd, tr.12).
3. Tiến hành phân biệt truyền thuyết và giai thoại cũng đồng nghĩa với việc quay về khảo sát đặc trưng từng thể loại và đối sánh chúng với nhau. Nó gắn với hàng loạt câu hỏi: Truyền thuyết là gì? Giai thoại là gì? Chúng thường nhập nhằng ở phương diện nào? Tại sao có sự nhập nhằng ấy? Những căn cứ nào giúp phân biệt chúng? Có thể rút ra dấu hiệu nhận dạng từng thể loại không?...
Bằng kiến thức và tầm nhìn có hạn, chúng tôi xin bước đầu trả lời những câu hỏi này.
3.1. Truyền thuyết là một thể loại lớn trong văn học dân gian, đã hình thành, vận động và phát triển lâu đời. Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã xác định được bản chất thể loại này.
Tựu trung, truyền thuyết là những tự sự dân gian có cái lõi lịch sử; màu sắc ít nhiều huyền ảo; nội dung kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử. Truyền thuyết không phải là chính sử mà chỉ là dã sử. Nó là văn học chứ không phải lịch sử. Nó thể hiện cách nhìn, cách đánh giá của nhân dân về lịch sử.
Khác chính sử, một số sự kiện trong truyền thuyết có thể do người dân bịa đặt, tưởng tượng ra. Nhưng điều đó chỉ nhằm củng cố thêm niềm tin, sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với những người có công trong lịch sử.
Tuy nhiên, không phải nhân vật, sự kiện lịch sử nào cũng được đi vào truyền thuyết. Muốn thành truyền thuyết, những nhân vật, sự kiện này phải gần gũi với nhân dân; phải được nuôi dưỡng bởi lòng biết ơn, sự tôn thờ và ngưỡng mộ của bao thế hệ; phải tồn tại qua nhiều chứng tích văn hóa …
Truyền thuyết được chia thành nhiều nhóm: truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết thần tổ ngành nghề, truyền thuyết địa danh ...
Trong đó, tiêu biểu nhất cho đặc điểm thể loại là nhóm truyền thuyết lịch sử.
Do vậy, khi tiến hành đối sánh truyền thuyết với giai thoại, chúng tôi căn cứ vào đặc điểm của nhóm truyện này.
3.2. Giai thoại là đối tượng nghiên cứu khá mới mẻ của văn học dân gian và cả văn học thành văn. Tuy được công nhận là một thể loại nhưng lý thuyết về nó còn ít được chú ý. Ở Trung Quốc, thuật ngữ giai thoại xuất hiện ngay từ thời Đường – Tống nhưng chưa thấy ai luận bàn gì về thể loại. Ở Nga, những năm 60 của thế kỷ XX, lý thuyết giai thoại mới được giới Phônclo học quan tâm. Còn ở Việt Nam, thuật ngữ này chỉ được chính thức sử dụng từ 1965, qua tập sách Giai thoại văn học Việt Nam của nhóm soạn giả Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch. Nhìn chung, theo Vũ Ngọc Khánh: “Tuy vẫn luôn luôn được nhắc đến, kể đến, với nhiều trân trọng, nhưng phải nói rằng giai thoại chưa được nghiên cứu bao nhiêu, và thật ra thì cũng chưa xác định vị trí cho rõ rệt lắm” (Tiếp cận kho tàng Foklore Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999, tr.164).
Cho đến nay, qua một số công trình nghiên cứu về phônclo, bản chất của giai thoại, nhìn chung, đã được xác định. Theo GS. Kiều Thu Hoạch, “giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có nghĩa là hay, thoại là câu chuyện kể. Như vậy, giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp, mà lâu nay, giới nghiên cứu vẫn coi thuật ngữ này là tương đương với thuật ngữ anecdote của phương Tây” (Thông báo Văn hóa dân gian 2002, Sđd, tr.644). Vũ Ngọc Khánh cũng xem giai thoại tương đương với thuật ngữ anecdote đồng thời nhấn mạnh, đó là những mẩu chuyện ngắn, rất ngắn, có tính cách hài hước, dí dỏm, gây được những nụ cười “mang ý nghĩa triết học” (Sđd, tr.164). Chú ý đến không gian sống của nó, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố cho giai thoại “là việc tốt, chuyện hay, thường truyền tụng ở dân gian” (Phan Đình Phùng – Việt sử giai thoại, NXB Văn Học, Hà Nội, 2000, tr.243). Có khác đi, Lại Nguyên Ân cho giai thoại là “một thể loại chuyện kể truyền miệng, lưu hành chủ yếu trong giới nhà văn và lớp công chúng yêu thích thơ văn, nhất là những người có hiểu biết Hán học và văn chương chữ Hán” (Từ điển Văn Học, Sđd, tr.519). Nghiêng về thi pháp thể loại, Guxép định nghĩa, “Chúng tôi gọi là giai thoại, tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước, được xây dựng trên một tình tiết có một sức tăng tiến, tới điểm cao, biểu hiện rõ rệt và hết sức bất ngờ” (Tiếp cận kho tàng Foklore Việt Nam, Sđd, tr.168).
Theo trên, giai thoại là những tự sự dân gian, chủ yếu được truyền miệng. Nó là những câu chuyện lý thú, hay, đẹp, có tính chất hài hước, dí dỏm, mang nhiều ý nghĩa triết lý.
3.3. Thoạt xem qua, truyền thuyết và giai thoại chỉ giống nhau ở chỗ: cùng là những tự sự dân gian và chủ yếu được truyền miệng. Còn lại, một bên gắn liền với những vấn đề, sự kiện lịch sử, thiêng liêng, hệ trọng; một bên là chuyện đời thường, lý thú và hài hước. Làm sao có thể nhầm lẫn giữa hai thể loại có nhiều dấu hiệu khác biệt nhau như vậy?
Tuy nhiên vấn đề không đơn giản và không dừng ở đó.
Soi vào thực tế tác phẩm, nếu chỉ xem giai thoại là anecdote (theo cách hiểu của phương Tây) thì chuyện về cuộc đời những anh hùng kháng Pháp ở Nam Bộ sao được phép gọi là giai thoại? Bởi làm sao có yếu tố trào phúng, hài hước trong những câu chuyện khởi nghĩa, hy sinh đầy bi tráng? Nhưng tại sao một số công trình sưu tầm, biên soạn văn học dân gian vẫn xem chúng là giai thoại?
Có lẽ mấu chốt nằm ở chỗ này: do đặc thù văn hóa, ở phương Đông và Việt Nam, giai thoại không dễ phân biệt với truyền thuyết. Bởi, giai thoại phương Đông còn được xem “là cuốn sổ biên niên của cuộc sống, là người bạn thường xuyên của con người và của các sự kiện lịch sử xã hội” (Tiếp cận kho tàng Foklore Việt Nam, Sđd, tr.165). Giai thoại phương Đông đâu chỉ mang ý vị hài hước. Nó còn có những câu chuyện đẹp, được viết, kể thật nghiêm túc, cẩn trọng về các nhân vật lịch sử. Những công trình biên soạn về Việt sử giai thoại của Đào Trinh Nhất và Nguyễn Khắc Thuần là minh chứng .
Vấn đề sẽ càng rõ hơn khi giai thoại được phân nhóm như truyền thuyết. Qua khảo sát kho tàng giai thoại Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh đề nghị chia giai thoại làm ba nhóm: giai thoại văn học, giai thoại lịch sử, giai thoại Folklore (Tiếp cận kho tàng Foklore Việt Nam, Sđd, tr.174).
Xin ghi lại phần diễn giải của Vũ Ngọc Khánh về ba nhóm giai thoại này:
- Giai thoại văn học: những câu chuyện hoàn toàn là chuyện sáng tạo và chuyện những người sáng tạo trong địa hạt văn chương học thuật.
- Giai thoại lịch sử: những câu chuyện khác liên quan với những sự kiện, những nhân vật hoạt động trong các chính trường, có liên hệ chặt chẽ với tiến trình tồn vong của đất nước.
- Giai thoại Folklore: các mẩu chuyện về những tài năng thợ thêu, thợ chạm, những nghệ nhân, nghệ sĩ tuồng chèo, hội họa, điêu khắc, diễn xướng,… gây được những thú vị, bất ngờ; các mẩu chuyện làm nền cho những thành ngữ, phương ngôn, vẫn thường được nhân dân truyền tụng để biểu lộ niềm tin, tự hào về con người, quê hương, dòng họ,…
Theo đó, điểm chính tạo nên tình trạng nhập nhằng giữa truyền thuyết và giai thoại là do nhóm giai thoại lịch sử.
3.4. Vậy có tiêu chí nào dùng phân biệt truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử không? Có thể rút ra dấu hiệu quan trọng nhất nhằm nhận dạng từng thể loại không?... Để tìm câu trả lời, chúng tôi tìm hiểu thêm về thi pháp thể loại và kiểm chứng trên văn bản tác phẩm. Tác phẩm dùng
 









Các ý kiến mới nhất