Bài 11. Bếp lửa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trương Khánh Chi
Ngày gửi: 20h:56' 28-11-2022
Dung lượng: 20.8 KB
Số lượt tải: 65
Nguồn:
Người gửi: Trương Khánh Chi
Ngày gửi: 20h:56' 28-11-2022
Dung lượng: 20.8 KB
Số lượt tải: 65
Số lượt thích:
0 người
BẾP LỬA- BẰNG VIỆT
Trong cuộc sống, con người ta luôn có lúc gặp phải những gian lao, trắc
trở. Chính trong những năm tháng khó khăn, gian khổ ấy, chúng ta sẽ nhận ra
được những giá trị tinh thần vô cùng thiêng liêng và đáng quý. Những giá trị ấy,
những kỉ niệm ấy sẽ tạo nên sức mạnh nâng đỡ bước chân ta trong suốt cuộc đời
dài. Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt đã soi sáng chân lí giản đơn ấy. Hình ảnh
“bếp lửa” đã khơi nguồn hồi tưởng của tác giả những năm tháng sống bên bà,
cùng bà nhóm lên ngọn lửa nồng ấm của tuổi thơ, để người đọc biết bao thế hệ
cùng rung cảm với một bản trường ca về tình bà cháu.
Bài thơ được viết vào năm 1963 khi tác giả 19 tuổi và đang là sinh viên
ngành luật ở nước ngoài. Tác phẩm viết theo thể thơ tự do và được đưa vào tập
“Hương Cây- Bếp Lửa” vào năm 1968 là tập thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ và
Bằng Việt. Bằng sự kết hợp hài hòa giữa biểu cảm với tự sự, miêu tả và nghị
luận, bài thơ đã xây dựng hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà và là
điểm tựa khơi gợi mọi cảm xúc và suy nghĩ về tình bà cháu.
Trong biết bao kỉ niệm tuổi thơ, bếp lửa in dấu đậm nhất trong suy nghĩ
của Bằng Việt.Bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp ấy, mạch hồi tưởng của
bài thơ bắt đầu :
“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa ”
Khổ thơ chỉ vỏn vẹn ba câu mà đã hai lần lặp lại điệp từ “một bếp lửa”. “Bếp
lửa” ấy là hình ảnh vô cùng gần gũi và thân quen với mỗi gia đình Việt Nam từ
bao giờ. Từ láy “chờn vờn” vừa tả ánh sáng lập lòe và từng làn khói vương vấn
của bếp lửa mới nhen buổi sớm, vừa gợi lại hình ảnh bóng bà chập chờn trên in
trên vách. Kết hợp với sự mờ ảo của “sương sớm”, những mảnh ký ức ấy như
ẩn hiện trong làn sương vương vấn mùi khói, không hề thiếu đi sự nồng ấm.
“Ấp iu” tuy là một từ ghép nhưng lại mang âm hưởng của từ láy, vừa là sự kết
hợp của ấp ủ và yêu thương, vừa gợi tả bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng
đong đầy yêu thương của người nhóm lửa. Sự “nồng đượm” kia không chỉ tả
bếp lửa cháy đượm mà còn ẩn chứa tình cảm trân trọng của tác giả đối với
người đã cần mẫn, chăm chút thắp lên ngọn lửa ấy. Tác giả đã sử dụng biện
pháp tả thực kết hợp với biện pháp tu từ ẩn dụ để gợi bàn tay chăm chút của
người bà cũng như tấm lòng chi chút của người nhóm lửa. Hai hình ảnh sóng
đôi đối nhau “chờn vờn sương sớm” – “ấp iu nồng đượm” đã tạo nên sự hòa
phối âm thanh làm cho câu thơ vừa nhẹ nhàng như khói bếp vừa trĩu nặng về
thời gian. Để rồi không cầm được cảm xúc, người cháu đã thốt lên : “Cháu
thương bà biết mấy nắng mưa”, thật giản dị mà vẫn trào dâng một tình yêu
thương bà vô hạn. Từ đó, sức ấm và ánh sáng của hình ảnh bếp lửa đã lan tỏa
khắp bài thơ, trở thành điểm tựa để mở ra một chân trời đầy ắp kỉ niệm tuổi thơ
về tình bà cháu.
Theo dòng hồi tưởng ấy, Bằng Việt trở về với những năm tháng tuổi thơ
thiếu thốn, nhọc nhằn ám đầy mùi khói :
“ Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Hơn hai triệu người
dân Việt Nam chết đói vì chính sách cai trị dã man của giặc Nhật, giặc Pháp.
Người chết như ngả dạ, người sống thì “dật dờ như những bóng ma”. Cái đói cơ
hồ đã ám ảnh trong văn chương Việt Nam một thời, đói đến nỗi phải ăn đất sét
(trong văn Ngô Tất Tố), những trăn trở về miếng ăn luôn dằn vặt trang viết của
Nam Cao… Đến nỗi nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tổng kết trong một câu thơ
đau đớn: “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”. Với việc sử dụng từ láy “đói
mòn đói mỏi” tác giả đã gợi lên cái đói dai dẳng và mòn mỏi khắp các miền quê
Việt Nam. Hình ảnh “khô rạc ngựa gầy” đã diễn tả hoàn cảnh thiếu thốn của
gia đình là một hình ảnh đậm chất hiện thực diễn tả sự xơ xác tiều tụy của
những con người người trong cuộc mưu sinh. “Đói mòn đói mỏi”, “khô rạc
ngựa gầy”- những chi tiết thơ đậm chất hiện thực đã tái hiện lại hình ảnh xóm
làng xơ xác,tiêu điều cùng những con người tiều tụy, vật lộn mưu sinh. Không
trải qua cái đói quay, đói quắt thì Bằng Việt chẳng thể viết được những câu thơ
chân thực đến thế! Ấn tượng nhất đối với cháu trong những năm đói khổ là mùi
khói bếp của bà – mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại
“sống mũi còn cay”. Cái cay vì khói bếp của cậu bé bốn tuổi và cái cay bởi xúc
động của người cháu đã trưởng thành khi nhớ về bà hòa quyện. Quá khứ và hiện
tại đồng hiện trên những dòng thơ. Điều này cho thấy, mùi khói bếp của bà có
sức ám ảnh, làm lay động cả thể chất và tâm hồn cháu. Với những hình ảnh tả
thực miêu tả rõ nét nhất về nạn đói năm 1945 đó là một lịch sử đau thương của
dân tộc và sâu đậm nhất là mùi khói bếp in rõ trong tâm trí của người cháu cũng
như tuổi thơ nhiều gian khổ thiếu thốn.
Và như một thước phim quay chậm, những kỉ niệm gắn liền với hình
ảnh người bà ùa về đó là kỉ niệm tám năm kháng chiến cùng bà đó cũng là năm
tác giả sống trong sự cưu mang dạy dỗ của bà:
“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
Khoảng thời gian 8 năm cháu ở cùng bà đã để lại nhiều kỷ niệm với người
cháu. Những năm tháng ấy là những năm tháng hồn nhiên trong sáng và vô tư
qua hình ảnh tâm tình với tiếng chim tu hú. Tiếng chim tu hú là âm thanh quen
thuộc của đồng quê. nó như giục giã khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng
người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong.Tiếng tu hú đã gợi lên sự nhớ mong
trong tâm hồn người cháu. Bà vừa là cha vừa là mẹ của người cháu được tác giả
thể hiện qua các động từ “dạy, bảo, chăm” đã thể hiện tấm lòng bao la sự chăm
chút nâng niu của bà với đứa cháu bé nhỏ.Các điệp từ bà cháu được lặp lại 4 lần
đan xen vào nhau gợi lên tình bà cháu quấn quýt yêu thương. Từ “nhóm” đã gợi
lên sự kính trọng bà của người cháu. Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi chẳng đến ở cùng
bà – Kêu chi hòa trên những cánh đồng xa” mới thấm thía làm sao, xót xa làm
sao! Nó diễn tả nỗi lòng da diết của tác giả khi nhớ về tuổi thơ, nhớ về bà.
Những câu thơ như lời đối thoại tâm tình, cháu trò chuyện với bà trong tâm
tưởng, cháu trò chuyện với chim tu hú trong tình yêu thương. Và tất cả đều là sự
bộc bạch của cháu dành cho người bà kính yêu. Hình ảnh của bà, hình ảnh của
bếp lửa và âm thanh của chim tu hú vang vọng trong một không gian mênh
mông khiến cả bài thơ nhuốm phủ sắc bàng bạc của không gian hoài niệm, của
tình bà cháu đẹp như trong chuyện cổ tích.. Khổ thơ thứ 3 đã gợi lên tình yêu
thương sự đùm bọc che chở và dạy dỗ của người bà là chỗ dựa tinh thần cho
cháu đó cũng là nỗi nhớ thương bà và quê hương khắc khoải đến quặn lòng của
người cháu khi xa quê.
Hình ảnh bà lại hiện lên thật đẹp trong hoàn cảnh đau thương của chiến
tranh:
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm
nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn xơ xác trong khói lửa của chiến tranh.
Ngọn lửa hung tàn đã đốt cháy ngôi nhà của hai bà cháu. Trên cái nền của sự
tàn phá hủy diệt ấy hình ảnh hàng xóm hiện lên qua từ láy “đỡ đần” đã cho thấy
trong bom đạn chiến tranh ngời lên vẻ đẹp của tình đoàn kết là sự cưu mang,
đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu.Điều khiến cháu xúc động nhất là
một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian
nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ,kiên cường trước hiện
thực ác liệt. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn
của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh. Vậy là bà đã gồng mình
gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho
đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương
vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung
của dân tộc. Bà không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho hậu phương mà còn là
điểm tựa vững chắc cho cả tiền tuyến. Bà góp phần làm ngời sáng vẻ đẹp tâm
hồn của người phụ nữ Việt Nam vốn giàu lòng vị tha giàu đức hi sinh.Tình cảm
bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc.
Những suy ngẫm của người cháu đã về hình ảnh bếp lửa đã hiện lên rất
rõ ràng qua khổ thơ thứ 5:
"Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.”
Hình ảnh bếp lửa ở dòng thơ đầu là hình ảnh tả thực về sự vật hữu hình cụ thể
gần gũi và gắn liền với những gian khổ của đời bà. Từ hình ảnh bếp lửa tác giả
liên tưởng đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng và khách quan. Bếp lửa bà
nhóm lên không chỉ bằng nguyên liệu bên ngoài mà chính bằng ngọn lửa từ
trong lòng bà đó là ngọn lửa của tình yêu thương của niềm tin, sự bền bỉ, sự bất
diệt. Ngọn lửa ngày ngày bà nhóm cũng là nhóm niềm vui niềm tin niềm yêu
thương để nâng đỡ cháu trên suốt những chặng đường dài. Bà không chỉ là
người nhóm lửa giữ lửa mà còn là người truyền lửa ngọn lửa của sự sống của
niềm tin cho các thế hệ nối tiếp nhau. Các động từ “nhen, ủ, chứa” đã khẳng
định ý chí bản lĩnh sống của bà cũng như của những người phụ nữ Việt Nam lúc
bấy giờ. Điệp ngữ, ẩn dụ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho
giọng thơ mạnh mẽ đầy xúc động tự hào thông qua những suy ngẫm về hình ảnh
bếp lửa tác giả đã khẳng định vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại, đầy yêu thương của bà
hiện lên lấp lánh như một thứ ánh sáng diệu kì. Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, bài
thơ đã gợi đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng, khái quát. Bà không chỉ là
người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống,
niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
Từ ngọn lửa ấm nóng ấy, nhà thơ mở ra suy ngẫm về cuộc đời bà, về
bếp lửa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”
Chất biểu cảm trữ tình vẫn còn nhưng dòng suy tưởng đã nhuốm màu nghị luận.
“Lận đận”- từ láy gợi hình với hai thanh trắc đã diễn tả cuộc đời vất vả của bà
kết hợp với “biết mấy nắng mưa” là ẩn dụ để chỉ những thăng trầm của cuộc
sống càng làm đậm thêm sự hi sinh cần mẫn của bà.Trải qua tất cả những khó
khăn thách thức ấy hình ảnh bà vẫn chưa bao giờ tách rời với bếp lửa. “Mấy
chục năm rồi” lời thơ kể mà như đếm gợi lên cả một tuổi thanh xuân vất vả, cả
một đời người thức khuya dậy sớm gắn liền với khói bếp cay nồng.Ấy vậy mà
trong thói quen dậy sớm ta cảm nhận được sự tần tảo đức hi sinh vẫn nguyên
vẹn như thuở nào. Điệp từ “nhóm” ngân lên lan tỏa và khơi dậy biết bao yêu
thương biết bao rung cảm và xúc động trong lòng người đọc. Mỗi hình ảnh liệt
kê trong mỗi câu thơ là cả một dòng suy ngẫm gợi lên trong cả tác giả lẫn độc
giả. Bếp lửa ấp iu nồng đượm ở khổ 1 nay được lặp lại làm mạch cảm xúc được
nối liền ngân vang như một lời khẳng định về sự cần mẫn khéo léo của bà.
Chính tấm lòng nồng ấm đó đã “nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”
nuôi cháu trong những lúc thiếu thốn. Để từ đó bà nhắc cháu rằng không bao
giờ được quên những năm tháng nghĩa tình chia nhau từng củ khoai củ sắn cho
đỡ đói lòng. Những năm tháng mà hai bà cháu sống trong sự đùm bọc, san sẻ
cùng xóm làng với “nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”. câu thơ như một lời răn dạy
cháu hãy luôn sống chan hòa và biết nghĩ đến mọi người đừng ích kỷ cho riêng
mình. Chính những bài học thầm lặng và cuộc sống ấy đã rọi vào tâm hồn người
cháu và thắp sáng những ước mơ khát vọng. Chính vì vậy tác giả đã thốt lên
rằng: “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”. Qua đó ta đã thấy được và không
chỉ thấu hiểu cháu mà còn là tấm gương cho cháu noi theo. Ký ức tuổi thơ tuy
không rõ ràng nhưng vẫn ghi dấu từng hình ảnh cụ thể “ khoai sắn” “ xôi gạo”
và tượng trưng “yêu thương”, “tâm tình” đan xen quấn quýt vào nhau giữa cuộc
sống đời thường và giá trị tinh thần. Bà thì nhóm lửa còn Bằng Việt thì nhóm
lên biết bao hoài niệm khơi dậy bao đợt sóng yêu thương trong lòng người đọc.
Người bà ấy giản dị nhưng lại có một sức mạnh kỳ diệu. Để rồi từ đó nhà thơ
thốt lên bao nhiêu nhung nhớ và trân trọng: “Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa”
câu thơ với từ cảm thán “Ôi” như chất chứa dồn nén biết bao điều. Trong đó là
sức mạnh kỳ lạ không có gì có thể dập tắt được bếp lửa, nó cháy trong mọi
hoàn cảnh. Trong đó là sự thiêng liêng nhà thơ đã trân trọng gìn giữ nơi đất
khách quê người đó là tổ ấm là cội nguồn gia đình là cội nguồn quê hương.Đến
đây ta mới thực sự cảm nhận được toàn bộ vẻ đẹp của hình ảnh “bếp lửa”. Hình
ảnh ấy cùng chất trữ tình kết hợp với bình luận đã trở thành cái nền hoàn hảo để
mở ra dòng suy ngẫm của cả tác giả lẫn độc giả về cuộc đời tần tảo và nghĩa
tình của bà.
Để giờ đây khi đang ở cách xa bà hàng nghìn dặm Bằng Việt vẫn luôn
hướng lòng mình về người bà yêu thương:
“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
-Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...”
Ở nước Nga xa xôi lạnh giá bếp ga bếp điện đã thay thế bếp củi nhem nhuốc
khói nhưng hình ảnh người bà và bếp lửa sớm mai vẫn còn đọng lại mãi trong
tâm trí cháu. Bút pháp liệt kê và phép lặp cấu trúc “Có …trăm” đã vẽ nên một
chân trời bao la rộng lớn với biết bao điều vui tươi mới mẻ. Thế nhưng cuộc
sống hiện đại ấy vẫn không thể làm cháu nguôi đi nỗi nhớ đau đáu thường trực
về bà một nỗi nhớ tới mức: “ chẳng lúc nào quên nhắc nhở”. Người bà nói
riêng hay người phụ nữ trong gia đình luôn gắn với những gì gần gũi, thân thiết
nhất. Họ giữ cho nhịp sống của tổ ấm được duy trì, là nơi bình yên cuối cùng để
trở về sau những thăng trầm của cuộc đời.Trong dáng hình bình thường khiêm
nhường ấy quả đổi ẩn giấu một trái tim lớn đầy lòng nhân ái để họ trở thành
hiện thân của gia đình quê hương đất nước. Nay ở nơi đất khách quê người,
những câu thơ như hát ra từ ngọn lửa ấm nóng năm xưa của bà càng gợi nhắc
để người đọc thấm thía điều đó. Niềm kính yêu và trân trọng đối với bà đã trở
thành sự gắn bó đó với gia đình tình yêu và nỗi nhớ quê hương đất nước cũng
như lòng biết ơn của Bằng Việt đối với cội nguồn che chở nơi ấy. Để mỗi ngày
mỗi giờ lòng ông đều vang lên một câu hỏi: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên
chưa?” . “ Bếp Lửa” đã thực sự trở thành kỷ niệm ấm lòng, thành niềm tin
thiêng liêng kì diệu theo nhà thơ suốt cả cuộc đời.
Như vậy với việc sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp ngữ, các từ
ngữ hình ảnh chọn lọc, bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với
miêu tả, tự sự và bình luận bài thơ đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn
những suy nghĩ của cháu về cuộc đời bà để từ đó bộc lộ nỗi nhớ thương bà da
diết. Đọc những vần thơ ấy, ta nhận ra ở Bằng Việt là tình yêu thương, sự thấu
hiểu và lòng biết ơn vô tận của nhà thơ đối với bà và cũng là đối với quê hương
đất nước. Tình cảm ấy thật đáng trân trọng biết bao!
Bài thơ khép lại bằng một dấu câu đặc biệt, dấu chấm lửng. Dấu câu
như gợi mở về một bài học đạo lý tha thiết: sống chung thủy nhân nghĩa có
lòng biết ơn ơn có cách đối xử ân tình với gia đình, với láng giềng, với quê
hương, với nguồn cội. Bằng Việt đã sáng tạo hình tượng Bếp Lửa vừa mang ý
nghĩa thực thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Giọng điệu tâm tình trầm lắng
giàu chất suy tư đã làm say lòng người đọc. Và bài thơ “Bếp Lửa” của Bằng
Việt như một triết lý thầm kín. Những gì đẹp đẽ của tuổi thơ đáng được trân
trọng và nó sẽ nâng đỡ con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.
Bằng Việt đã thể hiện lòng yêu thương, biết ơn bà sâu sắc. Lòng biết ơn chính là
biểu hiện cụ thể của tình yêu quê hương đất nước khi đã đi xa.
Trong cuộc sống, con người ta luôn có lúc gặp phải những gian lao, trắc
trở. Chính trong những năm tháng khó khăn, gian khổ ấy, chúng ta sẽ nhận ra
được những giá trị tinh thần vô cùng thiêng liêng và đáng quý. Những giá trị ấy,
những kỉ niệm ấy sẽ tạo nên sức mạnh nâng đỡ bước chân ta trong suốt cuộc đời
dài. Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt đã soi sáng chân lí giản đơn ấy. Hình ảnh
“bếp lửa” đã khơi nguồn hồi tưởng của tác giả những năm tháng sống bên bà,
cùng bà nhóm lên ngọn lửa nồng ấm của tuổi thơ, để người đọc biết bao thế hệ
cùng rung cảm với một bản trường ca về tình bà cháu.
Bài thơ được viết vào năm 1963 khi tác giả 19 tuổi và đang là sinh viên
ngành luật ở nước ngoài. Tác phẩm viết theo thể thơ tự do và được đưa vào tập
“Hương Cây- Bếp Lửa” vào năm 1968 là tập thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ và
Bằng Việt. Bằng sự kết hợp hài hòa giữa biểu cảm với tự sự, miêu tả và nghị
luận, bài thơ đã xây dựng hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà và là
điểm tựa khơi gợi mọi cảm xúc và suy nghĩ về tình bà cháu.
Trong biết bao kỉ niệm tuổi thơ, bếp lửa in dấu đậm nhất trong suy nghĩ
của Bằng Việt.Bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp ấy, mạch hồi tưởng của
bài thơ bắt đầu :
“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa ”
Khổ thơ chỉ vỏn vẹn ba câu mà đã hai lần lặp lại điệp từ “một bếp lửa”. “Bếp
lửa” ấy là hình ảnh vô cùng gần gũi và thân quen với mỗi gia đình Việt Nam từ
bao giờ. Từ láy “chờn vờn” vừa tả ánh sáng lập lòe và từng làn khói vương vấn
của bếp lửa mới nhen buổi sớm, vừa gợi lại hình ảnh bóng bà chập chờn trên in
trên vách. Kết hợp với sự mờ ảo của “sương sớm”, những mảnh ký ức ấy như
ẩn hiện trong làn sương vương vấn mùi khói, không hề thiếu đi sự nồng ấm.
“Ấp iu” tuy là một từ ghép nhưng lại mang âm hưởng của từ láy, vừa là sự kết
hợp của ấp ủ và yêu thương, vừa gợi tả bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng
đong đầy yêu thương của người nhóm lửa. Sự “nồng đượm” kia không chỉ tả
bếp lửa cháy đượm mà còn ẩn chứa tình cảm trân trọng của tác giả đối với
người đã cần mẫn, chăm chút thắp lên ngọn lửa ấy. Tác giả đã sử dụng biện
pháp tả thực kết hợp với biện pháp tu từ ẩn dụ để gợi bàn tay chăm chút của
người bà cũng như tấm lòng chi chút của người nhóm lửa. Hai hình ảnh sóng
đôi đối nhau “chờn vờn sương sớm” – “ấp iu nồng đượm” đã tạo nên sự hòa
phối âm thanh làm cho câu thơ vừa nhẹ nhàng như khói bếp vừa trĩu nặng về
thời gian. Để rồi không cầm được cảm xúc, người cháu đã thốt lên : “Cháu
thương bà biết mấy nắng mưa”, thật giản dị mà vẫn trào dâng một tình yêu
thương bà vô hạn. Từ đó, sức ấm và ánh sáng của hình ảnh bếp lửa đã lan tỏa
khắp bài thơ, trở thành điểm tựa để mở ra một chân trời đầy ắp kỉ niệm tuổi thơ
về tình bà cháu.
Theo dòng hồi tưởng ấy, Bằng Việt trở về với những năm tháng tuổi thơ
thiếu thốn, nhọc nhằn ám đầy mùi khói :
“ Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Hơn hai triệu người
dân Việt Nam chết đói vì chính sách cai trị dã man của giặc Nhật, giặc Pháp.
Người chết như ngả dạ, người sống thì “dật dờ như những bóng ma”. Cái đói cơ
hồ đã ám ảnh trong văn chương Việt Nam một thời, đói đến nỗi phải ăn đất sét
(trong văn Ngô Tất Tố), những trăn trở về miếng ăn luôn dằn vặt trang viết của
Nam Cao… Đến nỗi nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tổng kết trong một câu thơ
đau đớn: “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”. Với việc sử dụng từ láy “đói
mòn đói mỏi” tác giả đã gợi lên cái đói dai dẳng và mòn mỏi khắp các miền quê
Việt Nam. Hình ảnh “khô rạc ngựa gầy” đã diễn tả hoàn cảnh thiếu thốn của
gia đình là một hình ảnh đậm chất hiện thực diễn tả sự xơ xác tiều tụy của
những con người người trong cuộc mưu sinh. “Đói mòn đói mỏi”, “khô rạc
ngựa gầy”- những chi tiết thơ đậm chất hiện thực đã tái hiện lại hình ảnh xóm
làng xơ xác,tiêu điều cùng những con người tiều tụy, vật lộn mưu sinh. Không
trải qua cái đói quay, đói quắt thì Bằng Việt chẳng thể viết được những câu thơ
chân thực đến thế! Ấn tượng nhất đối với cháu trong những năm đói khổ là mùi
khói bếp của bà – mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại
“sống mũi còn cay”. Cái cay vì khói bếp của cậu bé bốn tuổi và cái cay bởi xúc
động của người cháu đã trưởng thành khi nhớ về bà hòa quyện. Quá khứ và hiện
tại đồng hiện trên những dòng thơ. Điều này cho thấy, mùi khói bếp của bà có
sức ám ảnh, làm lay động cả thể chất và tâm hồn cháu. Với những hình ảnh tả
thực miêu tả rõ nét nhất về nạn đói năm 1945 đó là một lịch sử đau thương của
dân tộc và sâu đậm nhất là mùi khói bếp in rõ trong tâm trí của người cháu cũng
như tuổi thơ nhiều gian khổ thiếu thốn.
Và như một thước phim quay chậm, những kỉ niệm gắn liền với hình
ảnh người bà ùa về đó là kỉ niệm tám năm kháng chiến cùng bà đó cũng là năm
tác giả sống trong sự cưu mang dạy dỗ của bà:
“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
Khoảng thời gian 8 năm cháu ở cùng bà đã để lại nhiều kỷ niệm với người
cháu. Những năm tháng ấy là những năm tháng hồn nhiên trong sáng và vô tư
qua hình ảnh tâm tình với tiếng chim tu hú. Tiếng chim tu hú là âm thanh quen
thuộc của đồng quê. nó như giục giã khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng
người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong.Tiếng tu hú đã gợi lên sự nhớ mong
trong tâm hồn người cháu. Bà vừa là cha vừa là mẹ của người cháu được tác giả
thể hiện qua các động từ “dạy, bảo, chăm” đã thể hiện tấm lòng bao la sự chăm
chút nâng niu của bà với đứa cháu bé nhỏ.Các điệp từ bà cháu được lặp lại 4 lần
đan xen vào nhau gợi lên tình bà cháu quấn quýt yêu thương. Từ “nhóm” đã gợi
lên sự kính trọng bà của người cháu. Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi chẳng đến ở cùng
bà – Kêu chi hòa trên những cánh đồng xa” mới thấm thía làm sao, xót xa làm
sao! Nó diễn tả nỗi lòng da diết của tác giả khi nhớ về tuổi thơ, nhớ về bà.
Những câu thơ như lời đối thoại tâm tình, cháu trò chuyện với bà trong tâm
tưởng, cháu trò chuyện với chim tu hú trong tình yêu thương. Và tất cả đều là sự
bộc bạch của cháu dành cho người bà kính yêu. Hình ảnh của bà, hình ảnh của
bếp lửa và âm thanh của chim tu hú vang vọng trong một không gian mênh
mông khiến cả bài thơ nhuốm phủ sắc bàng bạc của không gian hoài niệm, của
tình bà cháu đẹp như trong chuyện cổ tích.. Khổ thơ thứ 3 đã gợi lên tình yêu
thương sự đùm bọc che chở và dạy dỗ của người bà là chỗ dựa tinh thần cho
cháu đó cũng là nỗi nhớ thương bà và quê hương khắc khoải đến quặn lòng của
người cháu khi xa quê.
Hình ảnh bà lại hiện lên thật đẹp trong hoàn cảnh đau thương của chiến
tranh:
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm
nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn xơ xác trong khói lửa của chiến tranh.
Ngọn lửa hung tàn đã đốt cháy ngôi nhà của hai bà cháu. Trên cái nền của sự
tàn phá hủy diệt ấy hình ảnh hàng xóm hiện lên qua từ láy “đỡ đần” đã cho thấy
trong bom đạn chiến tranh ngời lên vẻ đẹp của tình đoàn kết là sự cưu mang,
đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu.Điều khiến cháu xúc động nhất là
một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian
nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ,kiên cường trước hiện
thực ác liệt. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn
của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh. Vậy là bà đã gồng mình
gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho
đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương
vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung
của dân tộc. Bà không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho hậu phương mà còn là
điểm tựa vững chắc cho cả tiền tuyến. Bà góp phần làm ngời sáng vẻ đẹp tâm
hồn của người phụ nữ Việt Nam vốn giàu lòng vị tha giàu đức hi sinh.Tình cảm
bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc.
Những suy ngẫm của người cháu đã về hình ảnh bếp lửa đã hiện lên rất
rõ ràng qua khổ thơ thứ 5:
"Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.”
Hình ảnh bếp lửa ở dòng thơ đầu là hình ảnh tả thực về sự vật hữu hình cụ thể
gần gũi và gắn liền với những gian khổ của đời bà. Từ hình ảnh bếp lửa tác giả
liên tưởng đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng và khách quan. Bếp lửa bà
nhóm lên không chỉ bằng nguyên liệu bên ngoài mà chính bằng ngọn lửa từ
trong lòng bà đó là ngọn lửa của tình yêu thương của niềm tin, sự bền bỉ, sự bất
diệt. Ngọn lửa ngày ngày bà nhóm cũng là nhóm niềm vui niềm tin niềm yêu
thương để nâng đỡ cháu trên suốt những chặng đường dài. Bà không chỉ là
người nhóm lửa giữ lửa mà còn là người truyền lửa ngọn lửa của sự sống của
niềm tin cho các thế hệ nối tiếp nhau. Các động từ “nhen, ủ, chứa” đã khẳng
định ý chí bản lĩnh sống của bà cũng như của những người phụ nữ Việt Nam lúc
bấy giờ. Điệp ngữ, ẩn dụ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho
giọng thơ mạnh mẽ đầy xúc động tự hào thông qua những suy ngẫm về hình ảnh
bếp lửa tác giả đã khẳng định vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại, đầy yêu thương của bà
hiện lên lấp lánh như một thứ ánh sáng diệu kì. Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, bài
thơ đã gợi đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng, khái quát. Bà không chỉ là
người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống,
niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
Từ ngọn lửa ấm nóng ấy, nhà thơ mở ra suy ngẫm về cuộc đời bà, về
bếp lửa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”
Chất biểu cảm trữ tình vẫn còn nhưng dòng suy tưởng đã nhuốm màu nghị luận.
“Lận đận”- từ láy gợi hình với hai thanh trắc đã diễn tả cuộc đời vất vả của bà
kết hợp với “biết mấy nắng mưa” là ẩn dụ để chỉ những thăng trầm của cuộc
sống càng làm đậm thêm sự hi sinh cần mẫn của bà.Trải qua tất cả những khó
khăn thách thức ấy hình ảnh bà vẫn chưa bao giờ tách rời với bếp lửa. “Mấy
chục năm rồi” lời thơ kể mà như đếm gợi lên cả một tuổi thanh xuân vất vả, cả
một đời người thức khuya dậy sớm gắn liền với khói bếp cay nồng.Ấy vậy mà
trong thói quen dậy sớm ta cảm nhận được sự tần tảo đức hi sinh vẫn nguyên
vẹn như thuở nào. Điệp từ “nhóm” ngân lên lan tỏa và khơi dậy biết bao yêu
thương biết bao rung cảm và xúc động trong lòng người đọc. Mỗi hình ảnh liệt
kê trong mỗi câu thơ là cả một dòng suy ngẫm gợi lên trong cả tác giả lẫn độc
giả. Bếp lửa ấp iu nồng đượm ở khổ 1 nay được lặp lại làm mạch cảm xúc được
nối liền ngân vang như một lời khẳng định về sự cần mẫn khéo léo của bà.
Chính tấm lòng nồng ấm đó đã “nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”
nuôi cháu trong những lúc thiếu thốn. Để từ đó bà nhắc cháu rằng không bao
giờ được quên những năm tháng nghĩa tình chia nhau từng củ khoai củ sắn cho
đỡ đói lòng. Những năm tháng mà hai bà cháu sống trong sự đùm bọc, san sẻ
cùng xóm làng với “nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”. câu thơ như một lời răn dạy
cháu hãy luôn sống chan hòa và biết nghĩ đến mọi người đừng ích kỷ cho riêng
mình. Chính những bài học thầm lặng và cuộc sống ấy đã rọi vào tâm hồn người
cháu và thắp sáng những ước mơ khát vọng. Chính vì vậy tác giả đã thốt lên
rằng: “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”. Qua đó ta đã thấy được và không
chỉ thấu hiểu cháu mà còn là tấm gương cho cháu noi theo. Ký ức tuổi thơ tuy
không rõ ràng nhưng vẫn ghi dấu từng hình ảnh cụ thể “ khoai sắn” “ xôi gạo”
và tượng trưng “yêu thương”, “tâm tình” đan xen quấn quýt vào nhau giữa cuộc
sống đời thường và giá trị tinh thần. Bà thì nhóm lửa còn Bằng Việt thì nhóm
lên biết bao hoài niệm khơi dậy bao đợt sóng yêu thương trong lòng người đọc.
Người bà ấy giản dị nhưng lại có một sức mạnh kỳ diệu. Để rồi từ đó nhà thơ
thốt lên bao nhiêu nhung nhớ và trân trọng: “Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa”
câu thơ với từ cảm thán “Ôi” như chất chứa dồn nén biết bao điều. Trong đó là
sức mạnh kỳ lạ không có gì có thể dập tắt được bếp lửa, nó cháy trong mọi
hoàn cảnh. Trong đó là sự thiêng liêng nhà thơ đã trân trọng gìn giữ nơi đất
khách quê người đó là tổ ấm là cội nguồn gia đình là cội nguồn quê hương.Đến
đây ta mới thực sự cảm nhận được toàn bộ vẻ đẹp của hình ảnh “bếp lửa”. Hình
ảnh ấy cùng chất trữ tình kết hợp với bình luận đã trở thành cái nền hoàn hảo để
mở ra dòng suy ngẫm của cả tác giả lẫn độc giả về cuộc đời tần tảo và nghĩa
tình của bà.
Để giờ đây khi đang ở cách xa bà hàng nghìn dặm Bằng Việt vẫn luôn
hướng lòng mình về người bà yêu thương:
“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
-Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...”
Ở nước Nga xa xôi lạnh giá bếp ga bếp điện đã thay thế bếp củi nhem nhuốc
khói nhưng hình ảnh người bà và bếp lửa sớm mai vẫn còn đọng lại mãi trong
tâm trí cháu. Bút pháp liệt kê và phép lặp cấu trúc “Có …trăm” đã vẽ nên một
chân trời bao la rộng lớn với biết bao điều vui tươi mới mẻ. Thế nhưng cuộc
sống hiện đại ấy vẫn không thể làm cháu nguôi đi nỗi nhớ đau đáu thường trực
về bà một nỗi nhớ tới mức: “ chẳng lúc nào quên nhắc nhở”. Người bà nói
riêng hay người phụ nữ trong gia đình luôn gắn với những gì gần gũi, thân thiết
nhất. Họ giữ cho nhịp sống của tổ ấm được duy trì, là nơi bình yên cuối cùng để
trở về sau những thăng trầm của cuộc đời.Trong dáng hình bình thường khiêm
nhường ấy quả đổi ẩn giấu một trái tim lớn đầy lòng nhân ái để họ trở thành
hiện thân của gia đình quê hương đất nước. Nay ở nơi đất khách quê người,
những câu thơ như hát ra từ ngọn lửa ấm nóng năm xưa của bà càng gợi nhắc
để người đọc thấm thía điều đó. Niềm kính yêu và trân trọng đối với bà đã trở
thành sự gắn bó đó với gia đình tình yêu và nỗi nhớ quê hương đất nước cũng
như lòng biết ơn của Bằng Việt đối với cội nguồn che chở nơi ấy. Để mỗi ngày
mỗi giờ lòng ông đều vang lên một câu hỏi: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên
chưa?” . “ Bếp Lửa” đã thực sự trở thành kỷ niệm ấm lòng, thành niềm tin
thiêng liêng kì diệu theo nhà thơ suốt cả cuộc đời.
Như vậy với việc sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp ngữ, các từ
ngữ hình ảnh chọn lọc, bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với
miêu tả, tự sự và bình luận bài thơ đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn
những suy nghĩ của cháu về cuộc đời bà để từ đó bộc lộ nỗi nhớ thương bà da
diết. Đọc những vần thơ ấy, ta nhận ra ở Bằng Việt là tình yêu thương, sự thấu
hiểu và lòng biết ơn vô tận của nhà thơ đối với bà và cũng là đối với quê hương
đất nước. Tình cảm ấy thật đáng trân trọng biết bao!
Bài thơ khép lại bằng một dấu câu đặc biệt, dấu chấm lửng. Dấu câu
như gợi mở về một bài học đạo lý tha thiết: sống chung thủy nhân nghĩa có
lòng biết ơn ơn có cách đối xử ân tình với gia đình, với láng giềng, với quê
hương, với nguồn cội. Bằng Việt đã sáng tạo hình tượng Bếp Lửa vừa mang ý
nghĩa thực thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Giọng điệu tâm tình trầm lắng
giàu chất suy tư đã làm say lòng người đọc. Và bài thơ “Bếp Lửa” của Bằng
Việt như một triết lý thầm kín. Những gì đẹp đẽ của tuổi thơ đáng được trân
trọng và nó sẽ nâng đỡ con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.
Bằng Việt đã thể hiện lòng yêu thương, biết ơn bà sâu sắc. Lòng biết ơn chính là
biểu hiện cụ thể của tình yêu quê hương đất nước khi đã đi xa.
 









Các ý kiến mới nhất