Bắt sống cảm xúc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 10h:37' 21-08-2025
Dung lượng: 782.1 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 10h:37' 21-08-2025
Dung lượng: 782.1 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Lời khen tặng
Chương 1 TÌM THẤY ĐIỀU KỲ DIỆU
Chương 2 KẺ BẮT CÓC VÀ NHÀ THƯƠNG THUYẾT
Chương 3 SỨC MẠNH CỦA SỰ GẦN GŨI
Chương 4 HÒA ĐIỆU
Chương 5 SỨC MẠNH CỦA SỰ TƯƠNG ĐỒNG
Chương 6 TẢNG ĐÁ, CUỘC CHIẾN VÀ PHÒNG KHÁCH CỦA NATHAN
Chương 7 TỐ CHẤT
Chương 8 PHÁT TRIỂN CÁ NHÂN
Lời kết
Về tác giả
Lời khen tặng
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Bạn nên đọc cuốn sách thú vị “Bắt sóng cảm xúc” của hai tác giả Ori
Brafman và Rom Brafman, nếu muốn tìm hiểu sâu hơn nguyên nhân tại sao
chúng ta lập tức có thiện cảm với người này chứ không phải người kia, hay
muốn biết thêm về những tác nhân thúc đẩy mối quan hệ đó.
Là cuốn cẩm nang gợi mở những ý tưởng mới nhất về hình thái giao tiếp
giữa con người với nhau, “Bắt sóng cảm xúc” còn là một chuyến đi thú vị
khám phá cách bạn hòa nhịp với thế giới quan xung quanh mình, làm thay đổi
cách nghĩ của bạn trong những khoảnh khắc khi bạn rơi vào vùng cảm xúc đặc
biệt và mọi thứ dường như đã được đặt vào quỹ đạo.
Wayne Hurlbert
- Blog Business World
CHƯƠNG 1
TÌM THẤY ĐIỀU KỲ DIỆU
Ngồi cạnh hồ bơi của khách sạn Pasadena, Paul đang dự định làm một
điều gì đó thật ngẫu hứng, ít nhất là theo cách của riêng anh.
Cơn gió đêm vùng Nam California bắt đầu thổi mạnh. Bất kỳ ai nghe thấy
Paul và cô gái ngồi đối diện trò chuyện đều nghĩ rằng họ quen biết nhau đã
lâu, dù thật ra họ chỉ vừa gặp nhau hai ngày trước. Họ hào hứng bàn luận về
mọi thứ, từ những chuyến du lịch vòng quanh thế giới, phong trào chống chiến
tranh thập niên 70 đến học thuyết của Socrate. Cuộc trò chuyện cứ thế diễn ra tự nhiên và sôi nổi. Cả hai tranh nhau nói, rồi thỉnh thoảng cười phá lên trước
những câu chuyện vui thời thơ ấu. Quan sát hai người - Nadia, cô gái mang
đậm nét đặc trưng của vùng Địa Trung Hải với mái tóc đen nhánh, và Paul,
chàng trai người Mỹ với dáng vẻ vạm vỡ - ai cũng ngỡ họ là một cặp tình nhân
hoàn hảo. Dường như có một sợi dây vô hình đang kết nối hai người vậy.
Không ai ngờ rằng Paul và Nadia gặp nhau để bàn công việc. Lúc đó, Paul
đang phụ trách dự án thu dọn kho vũ khí hạt nhân trị giá 15 tỷ đô-la ở
Colorado. Để hỗ trợ thực hiện dự án, Paul đã tập hợp rất nhiều chuyên gia trên
khắp thế giới. Công việc căng thẳng đến mức văn phòng của nhóm đặt tại
Pasadena mở cửa làm việc suốt bảy ngày trong tuần. Vai trò điều phối và giám
sát tiến độ dự án đối với Paul không mấy khó khăn. Là cựu sĩ quan trong lực
lượng đặc nhiệm, Paul đã được huấn luyện để đưa ra quyết định tức thời và anh
thuộc dạng người có khả năng ứng biến nhanh nhạy với mọi tình huống nghĩa là ở anh hội đủ tố chất của một nhà lãnh đạo. Khi trò chuyện, Paul diễn
đạt rõ ràng, mạch lạc và luôn tập trung lắng nghe từng lời của người đối diện.
Mỗi buổi sáng, đúng 8 giờ 15 phút, Paul tập hợp các chuyên gia để thảo luận
nội dung công việc trong ngày. Tuy nhiên, trong cuộc họp diễn ra vài ngày
trước đã xảy ra một điều khác biệt. Ngay từ đầu buổi họp, Paul đã chú ý đến
một thành viên mới – Nadia. Suy nghĩ đầu tiên bật lên trong đầu anh là: “Cô
gái này là ai?” và anh lập tức cảm thấy bị cuốn hút. Nhưng phản ứng đầu tiên
của Nadia với Paul thì không như thế. Hôm ấy là ngày đầu Nadia tham gia
nhóm làm việc. Kỳ nghỉ của cô tại Paris phải rút ngắn lại để cô kịp bay về
Pasadena tiếp nhận vai trò giám đốc điều hành dự án. Nếu việc đó chưa đủ để
cô bực mình thì nhận định của Paul trong cuộc họp chính là giọt nước tràn ly.
Hôm đó, Paul đã nói một câu đại loại: “Tôi nhận ra mối quan hệ giữa con
người với con người chưa có gì cải thiện kể từ thời của các triết gia cổ đại Plato,
Aristotle và Socrate”. Anh cũng không nhớ vì sao lại nói ra câu ấy.
Vài phút sau, anh để ý thấy những người bên dưới đang chuyền tay nhau
một mảnh giấy gấp làm tư. Rồi mảnh giấy được chuyền đến anh. Anh mở ra đọc
dòng chữ đầu tiên: “Tôi hoàn toàn phản đối nhận định của anh”. Mảnh giấy
viết tay dài gần một trang và không ký tên. Anh nhìn lên, đợi chờ một cái gật
đầu từ chủ nhân của nó, nhưng chỉ nhận được ánh nhìn trống rỗng từ mọi
người. Chỉ sau khi cuộc họp kết thúc và mọi người quay trở lại phòng làm việc,
Nadia mới tìm gặp Paul.
Nadia nhớ lại: “Chúng tôi chưa thật sự quen biết nhau. Tôi chỉ muốn nói với
anh ấy 'Tôi không đồng ý với anh. Còn sự thay đổi trong quan hệ chủ nhân nô lệ và mối quan hệ nam - nữ thì sao? Xã hội đã có nhiều bước tiến vượt bậc
kể từ lúc đó. Làm sao anh có thể kết luận như vậy được? Tôi muốn cùng anh
trao đổi thêm về vấn đề này'”.
Paul thấy cô gái này thật thú vị. Thay vì nổi giận, anh nói: “Rất sẵn lòng tiếp
chuyện cô”. Nadia trả lời: “Bất cứ khi nào anh muốn”.
12 giờ sau, Paul và Nadia đã ngồi bên chiếc bàn cạnh hồ bơi của khách sạn
Pasadena. Cả hai đều dự tính sẽ tận dụng buổi hẹn này để tiếp tục cuộc tranh
luận còn dang dở và sẵn đó đề cập đến một số vấn đề quan trọng trong công
việc. Tuy nhiên, đề tài công việc không hề xuất hiện trong suốt buổi tối. Càng
về khuya, cuộc trò chuyện càng thân mật hơn.
- Chúng ta chấm dứt mọi hiểu lầm chứ? - Paul hỏi Nadia khi nhận ra họ đã
lãng quên đề tài công việc.
- Vâng. – Nadia trả lời.
Ngay từ đầu, cô đã nhận ra giữa họ có mối gắn kết đặc biệt. Nadia chia sẻ với
chúng tôi: “Từ lúc anh ấy nói về Plato và Aristotle, tôi biết chúng tôi có cùng
mối quan tâm trong cuộc sống, ngay cả những điều nhỏ nhặt. Ai lại có thể đề
cập đến triết lý Plato và Aristotle giữa buổi họp về chiến lược chứ? Ý tôi là mấy
ai trong số những người có mặt lúc ấy biết về Plato và các triết gia Hy Lạp cổ
đại, hay liệu họ có quan tâm đến đề tài này không? Paul là người can đảm –
anh ấy dám tạo ra sự khác biệt”.
Sau khi buổi hẹn đầu tiên chưa đạt được một phần của kế hoạch đã đặt ra
trước đó, Paul và Nadia quyết định gặp lại vào tối hôm sau, rồi hôm sau nữa,
cũng ngay cạnh hồ bơi của khách sạn Pasadena. Và rồi điều bất ngờ đã đến.
Paul nhìn Nadia rồi hỏi:
- Em thấy sao nếu anh nói anh yêu em và muốn cưới em?
- Đây là giả thuyết hay lời cầu hôn? – Nadia vặn lại.
- Rồi em sẽ biết thôi mà.
Chúng ta tạm dừng câu chuyện ở đây. Trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng
Paul và Nadia đã không còn là những cô cậu bé mới lớn. Họ đều là những
người trưởng thành và là những nhà quản lý giàu kinh nghiệm. Giống như hầu
hết chúng ta, khi tiếp xúc và trò chuyện với một người bạn mới, họ cũng chào
hỏi rồi bắt chuyện bằng những câu: Anh/chị đang làm công việc gì? Ở đâu?
Tuy nhiên đôi lúc, cuộc gặp mặt có thể trở thành một trải nghiệm khó quên.
Có lẽ đó là khi cả hai đều có khiếu hài hước hoặc ngưỡng mộ cá tính của nhau.
Hoặc chỉ khi ở cạnh người đó, chúng ta mới chợt nhận ra mình chính là mình.
Cả hai đều cảm thấy thoải mái và có nhiều điểm chung. Cuộc trò chuyện diễn ra
một cách tự nhiên, không bối rối hoặc e dè. Nói cách khác, chúng ta đã bắt
sóng được cảm xúc của đối phương.
Cuốn sách này nói về những khoảnh khắc kỳ diệu đó. Đó là những lúc chúng
ta có cảm giác bình yên và cảm nhận được mối gắn kết với một con người, một
nơi chốn hoặc một hành động cụ thể nào đó. Thông thường, phải mất vài tuần
hoặc vài tháng, ta mới cảm thấy thân thuộc và an toàn với một người vừa gặp.
Chúng ta phải tạo dựng được lòng tin, tìm thấy tiếng nói chung, hiểu về những
thói quen của nhau và thắt bện sợi dây cảm xúc - nói chung, quá trình này chỉ
diễn ra theo hướng tích lũy. Thế nhưng đôi khi mọi thứ chỉ xảy ra trong chớp
mắt, và sự gắn kết ngay lập tức được hình thành.
Cảm giác thân thuộc và cuốn hút này không chỉ được tìm thấy trong tình
yêu mà cả trong tình bạn và thường diễn ra trong những không gian bất ngờ
nhất.
������✦✦✦
Đối với Jim West và Gerhard Sessler, hai nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm
Bell, sự gắn kết ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên đã trở thành dấu ấn ghi nhận sự
thay đổi trong sự nghiệp của mỗi người. Nhưng nếu bạn quay ngược về quá khứ
và gặp hai người trước khi họ làm quen với nhau, bạn hẳn sẽ ngạc nhiên trước
sự khác biệt của hai tính cách này.
Jim cao gầy, là người Mỹ gốc Phi. Lớn lên tại vùng Virginia trong thời Đại
Suy thoái, anh đã học được cách tận dụng tất cả mọi nguồn lực có sẵn xung
quanh mình. Jim kể lại: “Là người da màu nên tôi theo học tại các ngôi trường
dành riêng cho người da màu. Nhưng tôi may mắn có được những người thầy
giỏi”.
Ngay từ khi Jim còn nhỏ, các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và láng giềng đã
nhìn thấy ở cậu bé này có một khả năng đặc biệt. Theo lời kể của người anh
trai, cậu bé Jim luôn cầm tua-vít trong tay. Lúc thì cậu tháo tung chiếc đồng hồ
của ông nội, lúc thì cậu mày mò ráp lại chiếc radio cũ. Lớn lên, Jim đam mê
lĩnh vực vật lý và quyết định chọn nghề này. Có lần, cha Jim dẫn cậu đến giới
thiệu với ba người đàn ông da đen, đồng thời là ba vị tiến sĩ vật lý, hóa học.
Jim nhớ lại: “Công việc tốt nhất mà họ có thể tìm thấy là ở sở bưu điện. Cha tôi
ngụ ý rằng nếu tôi theo đuổi sự nghiệp vật lý thì trong tương lai, tôi cũng chỉ
như họ mà thôi”.
Dù vậy, Jim vẫn kiên trì theo đuổi ước mơ và cuối cùng, anh được nhận vào
làm tại Phòng thí nghiệm Bell. Với một kỹ sư thì tìm được việc làm tại
Disneyland là một điều đáng tự hào. Jim giải thích: “Đó là một viện nghiên
cứu hàng đầu. Mọi người từ khắp nơi trên thế giới đều mong muốn được làm
việc tại đây”.
Trong ngày đầu tiên làm việc tại Bell, Jim được bố trí một phòng ngay cạnh
phòng của một nhân viên mới tên là Gerhard Sessler. Tóc cắt ngắn năng động,
quần áo chỉn chu, Gerhard tỏ ra khá tự nhiên và nồng nhiệt khi gặp Jim.
Gerhard lớn lên tại Đức trước Thế chiến II. Anh kể: “Tôi vừa tròn tám tuổi khi
cuộc chiến bắt đầu. Bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng. Đó là một thời kỳ đen
tối”.
Một người Mỹ gốc Phi đến từ miền Nam làm việc cạnh một di dân người Đức
quả là một điều khác thường vào năm 1959. Tuy vậy, cả hai nhanh chóng trở
nên thân thiết. Dù chất giọng Đức đặc sệt của Gerhard khiến Jim nhiều phen
bối rối, nhưng họ vẫn có những cuộc thảo luận sôi nổi về vật lý và cả về cuộc
sống. Gerhard kể: “Vừa tiếp xúc là tôi nhận ra ngay Jim là người ham học hỏi
và nhạy bén, thích khám phá những điều mới mẻ. Tôi lập tức bị cuốn hút bởi
tính cách đó”.
Còn Jim nói: “Chúng tôi cùng là nhân viên mới và cùng thuộc về cộng đồng
thiểu số, công việc lại có tính độc lập, rất khó chia sẻ. Cảm giác lạc lõng và cô
đơn là không thể tránh khỏi. Nhưng với Gerhard thì khác. Tôi biết tôi luôn có
thể là chính mình. Không quá lời chút nào khi nói rằng chúng tôi hợp nhau
ngay khi vừa mới gặp”.
Jim và Gerhard dành hàng giờ liền để thảo luận về khoa học. Càng trao đổi,
họ càng thấy đồng tâm đồng ý. Và trong những cuộc trò chuyện sôi nổi đó, cả
hai đã nảy ra một ý tưởng tuyệt vời – một ý tưởng đã trở thành phát minh đột
phá trong lĩnh vực vô tuyến: chiếc micro không dây.
So sánh câu chuyện của Jim – Gerhard và Paul – Nadia, chúng ta nhận thấy
tuy mối quan hệ của hai cặp đôi này khác nhau, nhưng lại có một điểm chung:
cả hai đều khởi đầu từ cái mà chúng tôi gọi là sự thân thuộc tức thời. Mặc dù là
cảm giác tức thời nhưng mối liên kết được hình thành bởi cảm giác này có thể
rất sâu đậm và là bước khởi đầu cho một mối quan hệ bền chặt, lâu dài.
Hãy quay lại câu chuyện của Paul và Nadia bên hồ bơi của khách sạn
Pasadena. Vào buổi hò hẹn thứ hai, Paul đã nói yêu Nadia dù họ chỉ vừa biết
nhau vài ngày. Và đến buổi thứ ba, Paul ngỏ lời cầu hôn. Nadia gật đầu. Cả hai
cảm thấy như đang bị cuốn đi theo một luồng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ. Một
tháng sau, Paul và Nadia tổ chức lễ cưới.
Một quyết định chóng vánh như thế liệu có hứa hẹn một cuộc hôn nhân bền
vững?
Câu trả lời là có. Paul kể lại: “Cảm giác kỳ diệu của những ngày đầu ở
Pasadena vẫn hiện hữu trong tôi và tôi chắc là với Nadia cũng vậy”. Nói cách
khác, sự cảm mến ngay từ phút giây đầu gặp gỡ vẫn có thể duy trì một mối quan
hệ lâu dài và bền vững.
Với câu chuyện của Jim và Gerhard, mối gắn kết bắt nguồn từ sự đồng cảm.
Gerhard nhớ lại: “Chúng tôi hào hứng và hăng say hơn khi làm việc cùng
nhau. Chúng tôi sẵn sàng theo đuổi những ý tưởng và lý thuyết mới. Một lần,
chúng tôi nhận được tin từ Nhà hát Lincoln Center ở New York. Họ vừa xây
xong một phòng lớn để biểu diễn nhạc giao hưởng, nhưng chất lượng âm thanh
vô cùng tệ - vừa yếu, vừa vang không đều. Các nhà phê bình đã viết nhiều bài
báo với lời lẽ chỉ trích gay gắt khiến những người liên quan không mấy hài
lòng. Công việc của chúng tôi là tìm hiểu xem tại sao lại xảy ra hiện tượng đó”.
Nhiệm vụ này không đơn giản. Jim thuật lại: “Để xác định nguyên nhân,
bạn phải thử độ vang trong khán phòng, nghĩa là bạn phải tạo ra một âm
thanh thật lớn. Trong những không gian nhỏ, chúng tôi có thể sử dụng súng
ngắn để tạo âm và kiểm tra tiếng vang, nhưng với một phòng hòa nhạc lớn như
Lincoln Center thì không thể”.
Gerhard tiếp lời: “Tất nhiên là có thể dùng loa phóng thanh, nhưng chúng
tôi cần một âm thanh lớn hơn gấp nhiều lần. Chúng tôi vắt óc suy nghĩ suốt
một thời gian dài và cuối cùng Jim bảo rằng anh ấy đã tìm ra giải pháp”.
Jim giải thích: “Tôi từng đến xem các trận bóng đá ở Rutgers và thấy một
khẩu pháo nhỏ được kéo ra sân. Các cổ động viên sẽ châm ngòi mỗi khi đội
Rutgers ghi điểm. Tiếng nổ lớn, vang rền. Để tôi dùng thử cách đó nhé”. Rồi họ
đi mượn khẩu pháo đó thật.
Hãy tưởng tượng hình ảnh hai nhà khoa học kéo khẩu pháo vào phòng hòa
nhạc Lincoln Center. Gerhard nói: “Jim chuẩn bị và khi mọi thứ đã sẵn sàng,
anh ấy châm ngòi”. Âm thanh được tạo ra có độ vang đúng như họ mong
muốn. Nhưng họ còn nhận được nhiều hơn thế. “Giám đốc Lincoln Center vội
chạy vào. Ông không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ông nhăn nhó 'Ôi không! Tối
nay chúng tôi có một buổi hòa nhạc. Làm sao xử lý đám khói này bây giờ?'”.
Phải đến ba bốn ngày sau khói mới tan hết. Nhưng tiếng nổ từ khẩu pháo của
Jim và Gerhard đã giúp phát hiện ra một điểm bất thường gần trần nhà –
nguyên nhân gây ra sự cố âm thanh kia.
Bạn cần óc sáng tạo và một chút liều lĩnh để làm nên những điều tương tự.
Đó là nét tính cách khác mà cả Jim và Gerhard đều có.
Vậy mối quan hệ bền vững của Jim và Gerhard có được vun đắp từ sợi dây
gắn kết ban đầu không? Liệu Jim và Gerhard từng có mối quan hệ nào tương tự
trước đây với một người có cùng đam mê và sự kiên nhẫn, nhưng giữa hai bên
không xuất hiện cảm giác hòa hợp, thân thiết ngay từ lần đầu gặp mặt?
Tại Hà Lan, một cặp vợ chồng cùng là nhà tâm lý học Dick Barelds và
Pieternel Barelds-Dijkstra (chúng tôi gọi họ là Barelds) đã tiến hành nghiên
cứu tác động của sự hòa hợp tức thời đến mối quan hệ vợ chồng sau nhiều năm
lấy nhau.
Hai nhà tâm lý liên lạc với 1.000 cặp vợ chồng được chọn ngẫu nhiên từ
cuốn danh bạ điện thoại rồi mời họ đến để tham gia cuộc khảo sát về tình trạng
hôn nhân. Mỗi người phải làm khảo sát độc lập với những câu hỏi được thiết kế
mang tính cá nhân và gợi mở. Câu trả lời của họ cũng được giữ bí mật.
Dựa vào câu trả lời, các cặp đôi được chia làm ba nhóm. Nhóm thứ nhất gồm
những cặp đã từng là bạn thân trước khi yêu nhau. Họ biết nhau rất rõ. Sau
một thời gian, mối quan hệ của họ chuyển từ tình bạn sang tình yêu. Nhóm
thứ hai gồm những người quen nhau qua mai mối. Sau nhiều lần hẹn hò, tình
cảm dần sâu đậm và cuối cùng, họ đi đến quyết định kết hôn. Nhóm cuối gồm
những cặp ban đầu là những người xa lạ - như Paul và Nadia – tình cờ gặp gỡ
nhưng quyến luyến nhau ngay phút giây đầu.
Cả ba nhóm đều có những điểm tương đồng về học vấn, thu nhập và có trung
bình hai con. Nhìn bề ngoài, bạn sẽ thấy giữa các nhóm không có sự khác biệt
nhiều lắm.
Nhưng Barelds vẫn tự hỏi liệu có sự khác biệt nào cần lưu ý không. Thế nên
họ quyết định tiến hành phân tích sâu hơn các mối quan hệ đó. Họ đoán các
cặp vợ chồng từng là bạn trước khi kết hôn và các cặp đã trải qua một thời gian
dài tìm hiểu sẽ có cuộc hôn nhân hòa hợp hơn những cặp gặp phải tiếng sét ái
tình. Lý do họ đưa ra là một khi bạn dành thời gian để tìm hiểu một người,
nhiều khả năng bạn sẽ xem người đó như người bạn đời – một người có nhiều
điểm tương đồng với bạn để đảm bảo một mối quan hệ lâu dài. Thật vậy, dữ liệu
của cuộc khảo sát đã chỉ ra rằng những đôi vợ chồng của nhóm thứ nhất và thứ
hai có nhiều điểm chung hơn nhóm thứ ba.
Tuy nhiên, khi Barelds yêu cầu những người tham gia tự đánh giá bản thân
trong mối tương quan với người bạn đời (ví dụ: “Hy vọng tôi sẽ mãi yêu anh
ấy/cô ấy suốt cuộc đời này”; “Tôi cảm nhận được rằng anh ấy/cô ấy thật sự hiểu
tôi”), thì không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm. Cả ba nhóm đều đạt cùng
mức độ tình cảm và sự gắn bó trong đời sống vợ chồng.
Dù sự tương đồng về tính cách và quan điểm là yếu tố quyết định độ bền
vững của một mối quan hệ, nhưng Barelds đã tìm ra một yếu tố quan trọng
không kém giúp gắn kết tình cảm vợ chồng. Những cặp đôi sẽ trả lời đồng ý
hoặc không trước những nhận định sau: “Khi xem những bộ phim tình cảm
hoặc đọc những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, tôi đều nghĩ đến vợ/chồng mình”;
“Tôi tin rằng không ai có thể mang lại hạnh phúc cho tôi như người vợ/chồng
hiện tại”; “Tôi như tan chảy khi nhìn vào mắt vợ/chồng mình”. Liệu có bao
nhiêu người trong số chúng ta cảm thấy “như tan chảy” như thế khi nhìn vào
mắt người bạn đời?
Khi Barelds phân tích kết quả khảo sát, họ nhận ra rằng những cặp vợ chồng
yêu nhau từ lần gặp gỡ đầu tiên có xu hướng đồng ý với nhận định trên. Họ
nghĩ nhiều đến người bạn đời, cho rằng đó chính là một nửa thật sự của mình
và luôn cảm thấy mối quan hệ giữa họ là một điều kỳ diệu. Có thể nói tình cảm
của họ dành cho nhau vẫn nồng nàn và say đắm, thậm chí sau khi kết hôn và
có con. Dù không có nhiều điểm tương đồng và thấu hiểu nhau trước đó, nhưng
mối quan hệ giữa họ vẫn ngày càng khắng khít.
Khi Rom thực hiện cuộc khảo sát về những khoảnh khắc đáng nhớ nhất
trong cuộc đời, anh nhận ra rằng việc hồi tưởng những phút giây kỳ diệu, dù đã
nhiều năm trôi qua, cũng làm sống dậy những xúc cảm và đam mê một thời.
Có thể bạn cho rằng thời gian sẽ làm phai mờ xúc cảm và ký ức, song những
người tham gia cuộc khảo sát vẫn nhớ như in những thời khắc vô giá mà họ
từng có trong đời. Hơn 90% nói rằng họ cảm thấy hạnh phúc, rằng với họ, giây
phút đó như mới xảy ra hôm qua. Họ nói: “Nó khiến tôi bật cười”; “Khoảnh
khắc đó vẫn sống động trong tâm trí tôi”; “Cảm xúc còn vẹn nguyên”.
Rõ ràng sự hòa hợp ngay từ phút ban đầu chính là chất keo kết dính giúp
mối quan hệ bền vững qua thời gian.
Năm mươi năm sau lần gặp mặt đầu tiên, hai nhà vật lý Gerhard Sessler và
Jim West của Phòng thí nghiệm Bell đều mô tả người cộng sự của mình theo
cùng một cách. “Chúng tôi thân thiết ngay từ lúc mới làm việc chung. Chúng
tôi rất gắn bó và đồng cảm với nhau, cả khi tôi đã về hưu”, Gerhard nhớ lại. “Tôi
từng làm việc với rất nhiều người, nhưng với Jim là hợp ý nhất”.
Sợi dây liên kết kỳ diệu này không chỉ củng cố mối quan hệ, mà còn tạo ra
những ảnh hưởng tích cực. Với Jim và Gerhard, sự gắn kết giữa họ đã giúp giải
quyết một vấn đề hóc búa từng thách thức các kỹ sư âm thanh suốt nhiều thập
niên.
Trong một lần trò chuyện, Jim và Gerhard đề cập đến chiếc micro. Các dụng
cụ được sử dụng lúc bấy giờ khá thô kệch, lại cồng kềnh, nên không thể ứng
dụng trên diện rộng, nhất là trong các thiết bị nén và di động.
Gerhard lý giải: “Chiếc micro lúc ấy bao gồm nhiều tinh thể cacbon được nối
với nguồn điện bên ngoài. Thiết bị này tuy lỗi thời và phức tạp nhưng hoạt
động tốt. Mọi người ở Bell bảo chúng tôi 'Các anh sẽ không bao giờ cải tiến
được nó đâu'”. Sau nhiều tháng bàn luận và mày mò tháo lắp, Jim và Gerhard
đã bật ra một ý tưởng táo bạo: đưa nguồn điện vào bên trong chiếc micro. Nếu
không phụ thuộc nguồn năng lượng bên ngoài, thì kích thước chiếc micro sẽ
được thu nhỏ đáng kể.
Một khi đã thống nhất, Jim và Gerhard quyết định thực hiện ngay. Phòng
thí nghiệm Bell cho rằng hai nhà khoa học tài năng đang lãng phí thời gian
vào một việc bất khả thi. Áp lực hủy bỏ dự án đè nặng lên vai họ. Bất chấp
những lời phê bình và chỉ trích, Jim và Gerhard không ngừng động viên nhau.
Gerhard chia sẻ: “Nếu phải thực hiện một mình, nếu không có Jim bên cạnh,
chắc là tôi đã bỏ cuộc từ lâu rồi”. Mối đồng cảm từ những ngày đầu đã tiếp
thêm sức mạnh để họ tiến về phía trước. Bằng những cách cụ thể nhất, mối
thân tình ngay từ phút ban đầu đã giúp con người phát huy khả năng vượt bậc,
nhất là khi họ phải đối mặt với thử thách.
Ngày nay, thiết bị tích hợp gắn trong chiếc micro do Jim và Gerhard phát
minh đã được sản xuất hàng loạt. Mỗi khi sử dụng điện thoại di động, máy
quay video hoặc máy tính xách tay, bạn đang thừa hưởng một phát minh vĩ đại
được tạo ra nhờ vào sự đồng tâm đồng ý từ lúc mới gặp của hai nhà khoa học.
���
������✦✦✦
Với trường hợp của Paul và Nadia, 15 năm sau buổi gặp gỡ đầu tiên, trong
họ vẫn còn nguyên vẹn những cảm xúc kỳ diệu ban đầu. Cả hai đang điều hành
công ty ESi. Nadia thổ lộ: “Năm đầu tiên thật không dễ dàng gì. Chúng tôi gặp
rất nhiều thử thách”. Mối quan hệ giữa Paul và Nadia không phải lúc nào cũng
êm thấm, suôn sẻ, nhưng họ chưa bao giờ sợ sự bất hòa đó. Nadia giải thích:
“Tôi không muốn đạt được điều gì đó bằng mọi cách. Nếu một trong hai người
không nhất trí thì quá trình ra quyết định chung sẽ bị ảnh hưởng. Chúng tôi
cần đánh giá mọi việc theo nhiều góc nhìn khác nhau. Điều đó khiến chúng tôi
trở nên mạnh mẽ”. Nadia ngừng lại, mỉm cười: “Điều duy nhất chúng tôi luôn
đồng thuận là chúng tôi luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của
nhau”. Xúc cảm của lần gặp đầu tiên đã tạo nên hiệu ứng tích cực lâu dài trong
mối quan hệ của họ. Và đó không chỉ là sự gắn kết nhất thời, thoáng qua.
Nhưng tại sao chúng ta lại có thể thân thiết với một ai đó ngay trong lần gặp
đầu tiên? Điều gì tạo ra sự gắn kết này? Để tìm hiểu, chúng ta hãy gặp gỡ một
nhân viên cảnh sát đã từng đối mặt với kẻ bắt cóc con tin để thấy sự kỳ diệu của
sợi dây gắn kết tức thời có thể tạo ra sự khác biệt giữa sự sống và cái chết.
CHƯƠNG 2
KẺ BẮT CÓC VÀ NHÀ THƯƠNG THUYẾT
Chiếc ô tô của cảnh sát Greg Sancier lao đi giữa dòng xe cộ. Mỗi phút giây
lúc này rất có thể phải đánh đổi bằng một mạng sống. Anh được thông báo có
người vừa đột nhập vào một ngôi nhà ở San Jose, California, và đang bắt giữ
những người trong nhà làm con tin. Nhiệm vụ của Sancier là làm sao để tất cả
mọi người có thể ra khỏi đó một cách an toàn.
- Tôi biết mình sẽ phải làm việc trong suốt 5, 10, 15 tiếng liên tục. Mỗi lần ra
ngoài, tôi đều cầu nguyện 'Lạy Chúa, xin Người ban cho con sức mạnh, giúp
con làm tốt những việc cần làm tối nay để đảm bảo mạng sống cho mọi người'.
Bởi vì thật tình mà nói, đôi lúc tôi không biết sẽ phải làm thế nào để giải cứu
họ”, - Greg kể.
Sancier, một cựu binh từng làm việc 25 năm trong lực lượng đặc nhiệm, luôn
áp dụng các kiến thức về tâm lý tội phạm mà anh đã được huấn luyện để giải
quyết những tình huống tương tự. Anh là một trong số ít những nhà thương
thuyết tội phạm có bằng tiến sĩ tâm lý học.
Với gương mặt chữ điền, vai rộng, cơ thể rắn chắc, trông Sancier chẳng khác
nào một vận động viên. Tính cách anh khá gần gũi, hòa đồng, khuôn miệng
như thoáng cười sau hàng ria mép. Anh làm chúng ta liên tưởng đến một
người đang đi gặp gỡ bạn bè hơn là chuẩn bị thương thuyết với một tên tội
phạm trong những tình huống đầy kịch tính. Nhưng chính những điều đó đã
giúp Sancier thành công.
Cách tiếp cận tội phạm của Sancier đã thể hiện một điểm trọng yếu về cách
tạo ra sự gắn kết tức thời. Thông thường, khi nghĩ về cách thức và lý do chúng
ta mong muốn bắt sóng cảm xúc với một người, chúng ta có xu hướng hành
động tương tự như thế, tức là nghĩ ra một tình huống giả định để chúng ta xác
lập một sự gắn kết với người đó. Sancier là người có khả năng tạo ra mối gắn kết
này khi cần, ngay cả trong những tình huống căng thẳng nhất. Nói cách khác,
sự gắn kết tình thân tức thời không đơn giản là những cảm xúc cầu may, và tất
nhiên không xuất hiện vô tình hay ngẫu nhiên.Vậy thì điều gì có thể giúp một
người nhanh chóng xác lập sợi dây gắn kết tình thân tức thời với một người
khác?
Trên đường đến hiện trường, Sancier cố hình dung về tình huống anh sắp
phải đối mặt. Kẻ bắt giữ con tin, một gã tên Ed Jones, đang đứng trước nguy cơ
vi phạm luật “bất quá tam” ở California: Jones đã hai lần phạm trọng tội và
nếu bị kết án lần thứ ba, hắn sẽ phải lãnh án tử hình theo đạo luật của bang
này. Jones biết điều đó.
Sau này, Sancier kể với chúng tôi: “Hắn là thành viên của một nhóm tội
phạm và hắn muốn chơi trội để chứng tỏ mình với đồng đảng. Chắc bạn đã
nghe nói đến trường hợp bọn tội phạm tự tử bằng cách gây chú ý với cảnh sát
và khiến họ buộc phải nổ súng chứ? Jones cũng thế - hắn đang có ý định mượn
tay chúng tôi để có 'cái chết vinh quang' theo kiểu đó”.
Dù Sancier có kỹ năng thương thuyết tài tình và khả năng bắn súng rất cừ,
nhưng cách tốt nhất để giải quyết sự việc mà không làm hại đến con tin và cả
Jones chính là thuyết phục hắn đầu hàng. Mà để làm được như vậy, Sancier
phải nhanh chóng thiết lập một sợi dây gắn kết với Jones.
Sancier đến nơi xảy ra vụ bắt cóc với một cẩm nang đặc biệt mang tính mô
phỏng, bao gồm nhiều cách tiếp cận tội phạm để xây dựng mối quan hệ - anh
luôn sử dụng một trong số đó trong lúc làm việc. Đối với Sancier, tiếp cận và
gắn kết quan hệ với những kẻ tội phạm trong những tình huống tương tự là
một nghệ thuật. Anh sử dụng tính cách gần gũi, thân tình và cởi mở vốn có của
mình để tiếp cận tội phạm. Nhưng anh vẫn nhờ đến yếu tố khoa học.
������✦✦✦
Một nghiên cứu gần đây xác nhận rằng phương pháp tâm lý nhẹ nhàng
nhưng quyết đoán có thể gây thiện cảm với đối phương ngay khi vừa gặp. Ngay
cả những cử chỉ, điệu bộ hay hành động tưởng chừng đơn giản cũng tạo nên
nhiều khác biệt.
Trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu mời nhóm đối tượng tham gia
vào một căn phòng và giới thiệu họ với một người mà họ chưa từng gặp mặt.
Mỗi cặp sẽ nhận được một tình huống khó xử, ví dụ: “Bạn sẽ làm gì nếu nhìn
thấy người yêu đang hôn say đắm một người khác?” hoặc “Bạn sẽ làm gì nếu
nhìn thấy anh chị của bạn lấy cắp những vật đáng giá?”. Cả hai phải tranh luận
và tìm cách giải quyết những tình huống không có lời giải đáp cụ thể này.
Những người tham gia không biết người bạn đồng hành của mình là trợ lý
của các nhà nghiên cứu với trách nhiệm khơi gợi đối phương để ghi nhận
những biến đổi tâm lý. Với một nửa nhóm đối tượng, các trợ lý chỉ đơn thuần
hòa mình vào không khí thảo luận và dẫn dắt họ vào các phạm trù đạo đức.
Nhưng với một nửa còn lại, các trợ lý cố ý chạm tay vào đối phương ba lần
trong suốt cuộc trò chuyện kéo dài năm phút - một lần vào vai, hai lần vào
khuỷu tay – rồi ghi nhận những biến đổi tâm lý của đối phương thông qua sự
tiếp xúc cá nhân đó. Do say sưa bàn luận nên những người tham gia hầu như
không để ý đến những cử chỉ này, hoặc chỉ phản ứng bằng cái nhìn thoáng qua.
Tuy nhiên, những va chạm cơ thể tưởng chừng như vô tình đó lại có sức tác
động lớn không ngờ: những người “được chạm” trong suốt cuộc trò chuyện cảm
thấy gắn kết với người đối thoại hơn những người “không được chạm”. Họ nói
có cảm giác “cuốn hút, thân tình, gần gũi, tin cậy, thoải mái và đồng cảm” với
người bạn của mình hơn.
Tiềm thức con người giải mã sự va chạm là dấu hiệu của sự gần gũi và thân
mật, chính vì vậy động tác va chạm, dù chỉ trong thoáng chốc, cũng khiến ta
cảm thấy bị đối phương lôi cuốn. Hành động này thôi thúc chúng ta thiết lập
một sự gắn kết với người đối diện. Giao tiếp bằng mắt cũng mang lại hiệu ứng
tương tự. Cả hai hành vi đều là những dấu hiệu tức thời ngụ ý rằng chúng ta
đang dành nhiều cảm tình cho người đối diện. Điều thú vị là người nhận được
những tín hiệu này không những bị tác động, mà còn lập tức đón nhận chúng
một cách vô thức và gần như mặc nhiên cảm mến người gửi tín hiệu.
Những giác quan khác cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo nên sự gắn
kết tức thời. Các nhà khoa học bắt đầu khám phá vai trò của mùi hương và
pheromone - loại chất do động vật tiết ra, có tác dụng chi phối hành vi và hấp
dẫn những cá thể cùng loài. Từ lâu, giới khoa học đã tin rằng con người không
giống các chủng loài khác, và không tiết ra hoặc phản ứng với pheromone. Thế
nhưng nhiều cặp đôi khẳng định người yêu hoặc bạn đời của họ có mùi hương
riêng biệt, lôi cuốn.
Liệu có bao nhiêu sự thật trong nhận định trên? Để tìm câu trả lời, các nhà
nghiên cứu đã đưa cho hai nhóm phụ nữ ảnh chụp những người đàn ông mà
họ chưa từng gặp mặt. Sau khi xem ảnh, cả hai nhóm được yêu cầu nhận xét
theo những tiêu chí sau: vóc dáng, sự hấp dẫn hình thể, cảm giác an toàn, trí
thông minh và liệu họ có phải là người đáng tin cậy trong các mối quan hệ hay
không. Nhưng điểm khác biệt là trên góc kệ trong căn phòng của nhóm thứ hai
có một lọ nhỏ đựng các mẩu bông thấm mồ hôi của đàn ông. Các nhà nghiên
cứu đặt lọ bông thấm khá xa để nhóm phụ nữ không nhận ra trong phòng có
mùi lạ. Ban đầu, sự xuất hiện của những mẩu bông không tạo ra hiệu ứng đáng
chú ý nào. Cả hai nhóm đều đánh giá các chàng trai như nhau về tiềm năng
tiến tới một mối quan hệ lâu dài. Nhưng khi các nhà nghiên cứu kiểm tra các
chỉ số hấp dẫn hình thể, họ lại phát hiện ra một chi tiết thú vị: nhóm thứ hai
nhận xét những người đàn ông trong ảnh có cơ thể cường tráng, nét mặt ấn
tượng và phong thái tự tin hơn.
Rõ ràng, vùng tân vỏ não của phụ nữ - phần não chịu trách nhiệm ra quyết
định, như chọn bạn đời – không bị “lung lạc” bởi mùi hương; tuy nhiên, vùng
não nguyên thủy lại chịu tác động rất mạnh. Mùi từ những miếng bông không
thể đánh bại lý trí của những người phụ nữ đó, nhưng lại trực tiếp tác động đến
cảm quan của họ. Các nhà khoa học kết luận rằng những dấu hiệu nhạy cảm
như sự va chạm, ánh nhìn, mùi hương luôn chi phối mối quan hệ giữa con
người với nhau và là nhân tố tạo ra sự
gắn kết.
������✦✦✦
Ở những chương tiếp theo, chúng ta sẽ lần lượt xem xét những phương thức
gắn kết trong nhiều tình huống khác nhau. Trong mỗi tình huống luôn tồn tại
năm chất xúc tác, còn gọi là năm thành phần hay yếu tố thúc đẩy sự hòa hợp
ngay từ phút ban đầu, đó là tính dễ xúc động, sự gần gũi, sự hòa điệu, sự tương
đồng và không gian. Chúng ta sẽ tìm hiểu vai trò của mỗi yếu tố trong việc giúp
tạo ra mối gắn kết tức thời.
Đầu tiên là bản tính dễ xúc động. Đây có lẽ là chất xúc tác phản trực giác
nhất. Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng khi tỏ ra dễ xúc động, chúng ta sẽ tự đặt
mình vào thế yếu và cho phép đối phương lấn át hay gây sức ép lên mình.
Nhưng khi chúng ta muốn tạo ra sự gắn kết tức thời, bản tính dễ xúc động lại
trở thành điểm mạnh và làm tăng khả năng gắn kết của chúng ta với những
người xung quanh.
Tính yếu đuối và dễ xúc động thường làm cho người khác mủi lòng và
t...
Lời khen tặng
Chương 1 TÌM THẤY ĐIỀU KỲ DIỆU
Chương 2 KẺ BẮT CÓC VÀ NHÀ THƯƠNG THUYẾT
Chương 3 SỨC MẠNH CỦA SỰ GẦN GŨI
Chương 4 HÒA ĐIỆU
Chương 5 SỨC MẠNH CỦA SỰ TƯƠNG ĐỒNG
Chương 6 TẢNG ĐÁ, CUỘC CHIẾN VÀ PHÒNG KHÁCH CỦA NATHAN
Chương 7 TỐ CHẤT
Chương 8 PHÁT TRIỂN CÁ NHÂN
Lời kết
Về tác giả
Lời khen tặng
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Bạn nên đọc cuốn sách thú vị “Bắt sóng cảm xúc” của hai tác giả Ori
Brafman và Rom Brafman, nếu muốn tìm hiểu sâu hơn nguyên nhân tại sao
chúng ta lập tức có thiện cảm với người này chứ không phải người kia, hay
muốn biết thêm về những tác nhân thúc đẩy mối quan hệ đó.
Là cuốn cẩm nang gợi mở những ý tưởng mới nhất về hình thái giao tiếp
giữa con người với nhau, “Bắt sóng cảm xúc” còn là một chuyến đi thú vị
khám phá cách bạn hòa nhịp với thế giới quan xung quanh mình, làm thay đổi
cách nghĩ của bạn trong những khoảnh khắc khi bạn rơi vào vùng cảm xúc đặc
biệt và mọi thứ dường như đã được đặt vào quỹ đạo.
Wayne Hurlbert
- Blog Business World
CHƯƠNG 1
TÌM THẤY ĐIỀU KỲ DIỆU
Ngồi cạnh hồ bơi của khách sạn Pasadena, Paul đang dự định làm một
điều gì đó thật ngẫu hứng, ít nhất là theo cách của riêng anh.
Cơn gió đêm vùng Nam California bắt đầu thổi mạnh. Bất kỳ ai nghe thấy
Paul và cô gái ngồi đối diện trò chuyện đều nghĩ rằng họ quen biết nhau đã
lâu, dù thật ra họ chỉ vừa gặp nhau hai ngày trước. Họ hào hứng bàn luận về
mọi thứ, từ những chuyến du lịch vòng quanh thế giới, phong trào chống chiến
tranh thập niên 70 đến học thuyết của Socrate. Cuộc trò chuyện cứ thế diễn ra tự nhiên và sôi nổi. Cả hai tranh nhau nói, rồi thỉnh thoảng cười phá lên trước
những câu chuyện vui thời thơ ấu. Quan sát hai người - Nadia, cô gái mang
đậm nét đặc trưng của vùng Địa Trung Hải với mái tóc đen nhánh, và Paul,
chàng trai người Mỹ với dáng vẻ vạm vỡ - ai cũng ngỡ họ là một cặp tình nhân
hoàn hảo. Dường như có một sợi dây vô hình đang kết nối hai người vậy.
Không ai ngờ rằng Paul và Nadia gặp nhau để bàn công việc. Lúc đó, Paul
đang phụ trách dự án thu dọn kho vũ khí hạt nhân trị giá 15 tỷ đô-la ở
Colorado. Để hỗ trợ thực hiện dự án, Paul đã tập hợp rất nhiều chuyên gia trên
khắp thế giới. Công việc căng thẳng đến mức văn phòng của nhóm đặt tại
Pasadena mở cửa làm việc suốt bảy ngày trong tuần. Vai trò điều phối và giám
sát tiến độ dự án đối với Paul không mấy khó khăn. Là cựu sĩ quan trong lực
lượng đặc nhiệm, Paul đã được huấn luyện để đưa ra quyết định tức thời và anh
thuộc dạng người có khả năng ứng biến nhanh nhạy với mọi tình huống nghĩa là ở anh hội đủ tố chất của một nhà lãnh đạo. Khi trò chuyện, Paul diễn
đạt rõ ràng, mạch lạc và luôn tập trung lắng nghe từng lời của người đối diện.
Mỗi buổi sáng, đúng 8 giờ 15 phút, Paul tập hợp các chuyên gia để thảo luận
nội dung công việc trong ngày. Tuy nhiên, trong cuộc họp diễn ra vài ngày
trước đã xảy ra một điều khác biệt. Ngay từ đầu buổi họp, Paul đã chú ý đến
một thành viên mới – Nadia. Suy nghĩ đầu tiên bật lên trong đầu anh là: “Cô
gái này là ai?” và anh lập tức cảm thấy bị cuốn hút. Nhưng phản ứng đầu tiên
của Nadia với Paul thì không như thế. Hôm ấy là ngày đầu Nadia tham gia
nhóm làm việc. Kỳ nghỉ của cô tại Paris phải rút ngắn lại để cô kịp bay về
Pasadena tiếp nhận vai trò giám đốc điều hành dự án. Nếu việc đó chưa đủ để
cô bực mình thì nhận định của Paul trong cuộc họp chính là giọt nước tràn ly.
Hôm đó, Paul đã nói một câu đại loại: “Tôi nhận ra mối quan hệ giữa con
người với con người chưa có gì cải thiện kể từ thời của các triết gia cổ đại Plato,
Aristotle và Socrate”. Anh cũng không nhớ vì sao lại nói ra câu ấy.
Vài phút sau, anh để ý thấy những người bên dưới đang chuyền tay nhau
một mảnh giấy gấp làm tư. Rồi mảnh giấy được chuyền đến anh. Anh mở ra đọc
dòng chữ đầu tiên: “Tôi hoàn toàn phản đối nhận định của anh”. Mảnh giấy
viết tay dài gần một trang và không ký tên. Anh nhìn lên, đợi chờ một cái gật
đầu từ chủ nhân của nó, nhưng chỉ nhận được ánh nhìn trống rỗng từ mọi
người. Chỉ sau khi cuộc họp kết thúc và mọi người quay trở lại phòng làm việc,
Nadia mới tìm gặp Paul.
Nadia nhớ lại: “Chúng tôi chưa thật sự quen biết nhau. Tôi chỉ muốn nói với
anh ấy 'Tôi không đồng ý với anh. Còn sự thay đổi trong quan hệ chủ nhân nô lệ và mối quan hệ nam - nữ thì sao? Xã hội đã có nhiều bước tiến vượt bậc
kể từ lúc đó. Làm sao anh có thể kết luận như vậy được? Tôi muốn cùng anh
trao đổi thêm về vấn đề này'”.
Paul thấy cô gái này thật thú vị. Thay vì nổi giận, anh nói: “Rất sẵn lòng tiếp
chuyện cô”. Nadia trả lời: “Bất cứ khi nào anh muốn”.
12 giờ sau, Paul và Nadia đã ngồi bên chiếc bàn cạnh hồ bơi của khách sạn
Pasadena. Cả hai đều dự tính sẽ tận dụng buổi hẹn này để tiếp tục cuộc tranh
luận còn dang dở và sẵn đó đề cập đến một số vấn đề quan trọng trong công
việc. Tuy nhiên, đề tài công việc không hề xuất hiện trong suốt buổi tối. Càng
về khuya, cuộc trò chuyện càng thân mật hơn.
- Chúng ta chấm dứt mọi hiểu lầm chứ? - Paul hỏi Nadia khi nhận ra họ đã
lãng quên đề tài công việc.
- Vâng. – Nadia trả lời.
Ngay từ đầu, cô đã nhận ra giữa họ có mối gắn kết đặc biệt. Nadia chia sẻ với
chúng tôi: “Từ lúc anh ấy nói về Plato và Aristotle, tôi biết chúng tôi có cùng
mối quan tâm trong cuộc sống, ngay cả những điều nhỏ nhặt. Ai lại có thể đề
cập đến triết lý Plato và Aristotle giữa buổi họp về chiến lược chứ? Ý tôi là mấy
ai trong số những người có mặt lúc ấy biết về Plato và các triết gia Hy Lạp cổ
đại, hay liệu họ có quan tâm đến đề tài này không? Paul là người can đảm –
anh ấy dám tạo ra sự khác biệt”.
Sau khi buổi hẹn đầu tiên chưa đạt được một phần của kế hoạch đã đặt ra
trước đó, Paul và Nadia quyết định gặp lại vào tối hôm sau, rồi hôm sau nữa,
cũng ngay cạnh hồ bơi của khách sạn Pasadena. Và rồi điều bất ngờ đã đến.
Paul nhìn Nadia rồi hỏi:
- Em thấy sao nếu anh nói anh yêu em và muốn cưới em?
- Đây là giả thuyết hay lời cầu hôn? – Nadia vặn lại.
- Rồi em sẽ biết thôi mà.
Chúng ta tạm dừng câu chuyện ở đây. Trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng
Paul và Nadia đã không còn là những cô cậu bé mới lớn. Họ đều là những
người trưởng thành và là những nhà quản lý giàu kinh nghiệm. Giống như hầu
hết chúng ta, khi tiếp xúc và trò chuyện với một người bạn mới, họ cũng chào
hỏi rồi bắt chuyện bằng những câu: Anh/chị đang làm công việc gì? Ở đâu?
Tuy nhiên đôi lúc, cuộc gặp mặt có thể trở thành một trải nghiệm khó quên.
Có lẽ đó là khi cả hai đều có khiếu hài hước hoặc ngưỡng mộ cá tính của nhau.
Hoặc chỉ khi ở cạnh người đó, chúng ta mới chợt nhận ra mình chính là mình.
Cả hai đều cảm thấy thoải mái và có nhiều điểm chung. Cuộc trò chuyện diễn ra
một cách tự nhiên, không bối rối hoặc e dè. Nói cách khác, chúng ta đã bắt
sóng được cảm xúc của đối phương.
Cuốn sách này nói về những khoảnh khắc kỳ diệu đó. Đó là những lúc chúng
ta có cảm giác bình yên và cảm nhận được mối gắn kết với một con người, một
nơi chốn hoặc một hành động cụ thể nào đó. Thông thường, phải mất vài tuần
hoặc vài tháng, ta mới cảm thấy thân thuộc và an toàn với một người vừa gặp.
Chúng ta phải tạo dựng được lòng tin, tìm thấy tiếng nói chung, hiểu về những
thói quen của nhau và thắt bện sợi dây cảm xúc - nói chung, quá trình này chỉ
diễn ra theo hướng tích lũy. Thế nhưng đôi khi mọi thứ chỉ xảy ra trong chớp
mắt, và sự gắn kết ngay lập tức được hình thành.
Cảm giác thân thuộc và cuốn hút này không chỉ được tìm thấy trong tình
yêu mà cả trong tình bạn và thường diễn ra trong những không gian bất ngờ
nhất.
������✦✦✦
Đối với Jim West và Gerhard Sessler, hai nhà vật lý tại Phòng thí nghiệm
Bell, sự gắn kết ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên đã trở thành dấu ấn ghi nhận sự
thay đổi trong sự nghiệp của mỗi người. Nhưng nếu bạn quay ngược về quá khứ
và gặp hai người trước khi họ làm quen với nhau, bạn hẳn sẽ ngạc nhiên trước
sự khác biệt của hai tính cách này.
Jim cao gầy, là người Mỹ gốc Phi. Lớn lên tại vùng Virginia trong thời Đại
Suy thoái, anh đã học được cách tận dụng tất cả mọi nguồn lực có sẵn xung
quanh mình. Jim kể lại: “Là người da màu nên tôi theo học tại các ngôi trường
dành riêng cho người da màu. Nhưng tôi may mắn có được những người thầy
giỏi”.
Ngay từ khi Jim còn nhỏ, các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và láng giềng đã
nhìn thấy ở cậu bé này có một khả năng đặc biệt. Theo lời kể của người anh
trai, cậu bé Jim luôn cầm tua-vít trong tay. Lúc thì cậu tháo tung chiếc đồng hồ
của ông nội, lúc thì cậu mày mò ráp lại chiếc radio cũ. Lớn lên, Jim đam mê
lĩnh vực vật lý và quyết định chọn nghề này. Có lần, cha Jim dẫn cậu đến giới
thiệu với ba người đàn ông da đen, đồng thời là ba vị tiến sĩ vật lý, hóa học.
Jim nhớ lại: “Công việc tốt nhất mà họ có thể tìm thấy là ở sở bưu điện. Cha tôi
ngụ ý rằng nếu tôi theo đuổi sự nghiệp vật lý thì trong tương lai, tôi cũng chỉ
như họ mà thôi”.
Dù vậy, Jim vẫn kiên trì theo đuổi ước mơ và cuối cùng, anh được nhận vào
làm tại Phòng thí nghiệm Bell. Với một kỹ sư thì tìm được việc làm tại
Disneyland là một điều đáng tự hào. Jim giải thích: “Đó là một viện nghiên
cứu hàng đầu. Mọi người từ khắp nơi trên thế giới đều mong muốn được làm
việc tại đây”.
Trong ngày đầu tiên làm việc tại Bell, Jim được bố trí một phòng ngay cạnh
phòng của một nhân viên mới tên là Gerhard Sessler. Tóc cắt ngắn năng động,
quần áo chỉn chu, Gerhard tỏ ra khá tự nhiên và nồng nhiệt khi gặp Jim.
Gerhard lớn lên tại Đức trước Thế chiến II. Anh kể: “Tôi vừa tròn tám tuổi khi
cuộc chiến bắt đầu. Bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng. Đó là một thời kỳ đen
tối”.
Một người Mỹ gốc Phi đến từ miền Nam làm việc cạnh một di dân người Đức
quả là một điều khác thường vào năm 1959. Tuy vậy, cả hai nhanh chóng trở
nên thân thiết. Dù chất giọng Đức đặc sệt của Gerhard khiến Jim nhiều phen
bối rối, nhưng họ vẫn có những cuộc thảo luận sôi nổi về vật lý và cả về cuộc
sống. Gerhard kể: “Vừa tiếp xúc là tôi nhận ra ngay Jim là người ham học hỏi
và nhạy bén, thích khám phá những điều mới mẻ. Tôi lập tức bị cuốn hút bởi
tính cách đó”.
Còn Jim nói: “Chúng tôi cùng là nhân viên mới và cùng thuộc về cộng đồng
thiểu số, công việc lại có tính độc lập, rất khó chia sẻ. Cảm giác lạc lõng và cô
đơn là không thể tránh khỏi. Nhưng với Gerhard thì khác. Tôi biết tôi luôn có
thể là chính mình. Không quá lời chút nào khi nói rằng chúng tôi hợp nhau
ngay khi vừa mới gặp”.
Jim và Gerhard dành hàng giờ liền để thảo luận về khoa học. Càng trao đổi,
họ càng thấy đồng tâm đồng ý. Và trong những cuộc trò chuyện sôi nổi đó, cả
hai đã nảy ra một ý tưởng tuyệt vời – một ý tưởng đã trở thành phát minh đột
phá trong lĩnh vực vô tuyến: chiếc micro không dây.
So sánh câu chuyện của Jim – Gerhard và Paul – Nadia, chúng ta nhận thấy
tuy mối quan hệ của hai cặp đôi này khác nhau, nhưng lại có một điểm chung:
cả hai đều khởi đầu từ cái mà chúng tôi gọi là sự thân thuộc tức thời. Mặc dù là
cảm giác tức thời nhưng mối liên kết được hình thành bởi cảm giác này có thể
rất sâu đậm và là bước khởi đầu cho một mối quan hệ bền chặt, lâu dài.
Hãy quay lại câu chuyện của Paul và Nadia bên hồ bơi của khách sạn
Pasadena. Vào buổi hò hẹn thứ hai, Paul đã nói yêu Nadia dù họ chỉ vừa biết
nhau vài ngày. Và đến buổi thứ ba, Paul ngỏ lời cầu hôn. Nadia gật đầu. Cả hai
cảm thấy như đang bị cuốn đi theo một luồng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ. Một
tháng sau, Paul và Nadia tổ chức lễ cưới.
Một quyết định chóng vánh như thế liệu có hứa hẹn một cuộc hôn nhân bền
vững?
Câu trả lời là có. Paul kể lại: “Cảm giác kỳ diệu của những ngày đầu ở
Pasadena vẫn hiện hữu trong tôi và tôi chắc là với Nadia cũng vậy”. Nói cách
khác, sự cảm mến ngay từ phút giây đầu gặp gỡ vẫn có thể duy trì một mối quan
hệ lâu dài và bền vững.
Với câu chuyện của Jim và Gerhard, mối gắn kết bắt nguồn từ sự đồng cảm.
Gerhard nhớ lại: “Chúng tôi hào hứng và hăng say hơn khi làm việc cùng
nhau. Chúng tôi sẵn sàng theo đuổi những ý tưởng và lý thuyết mới. Một lần,
chúng tôi nhận được tin từ Nhà hát Lincoln Center ở New York. Họ vừa xây
xong một phòng lớn để biểu diễn nhạc giao hưởng, nhưng chất lượng âm thanh
vô cùng tệ - vừa yếu, vừa vang không đều. Các nhà phê bình đã viết nhiều bài
báo với lời lẽ chỉ trích gay gắt khiến những người liên quan không mấy hài
lòng. Công việc của chúng tôi là tìm hiểu xem tại sao lại xảy ra hiện tượng đó”.
Nhiệm vụ này không đơn giản. Jim thuật lại: “Để xác định nguyên nhân,
bạn phải thử độ vang trong khán phòng, nghĩa là bạn phải tạo ra một âm
thanh thật lớn. Trong những không gian nhỏ, chúng tôi có thể sử dụng súng
ngắn để tạo âm và kiểm tra tiếng vang, nhưng với một phòng hòa nhạc lớn như
Lincoln Center thì không thể”.
Gerhard tiếp lời: “Tất nhiên là có thể dùng loa phóng thanh, nhưng chúng
tôi cần một âm thanh lớn hơn gấp nhiều lần. Chúng tôi vắt óc suy nghĩ suốt
một thời gian dài và cuối cùng Jim bảo rằng anh ấy đã tìm ra giải pháp”.
Jim giải thích: “Tôi từng đến xem các trận bóng đá ở Rutgers và thấy một
khẩu pháo nhỏ được kéo ra sân. Các cổ động viên sẽ châm ngòi mỗi khi đội
Rutgers ghi điểm. Tiếng nổ lớn, vang rền. Để tôi dùng thử cách đó nhé”. Rồi họ
đi mượn khẩu pháo đó thật.
Hãy tưởng tượng hình ảnh hai nhà khoa học kéo khẩu pháo vào phòng hòa
nhạc Lincoln Center. Gerhard nói: “Jim chuẩn bị và khi mọi thứ đã sẵn sàng,
anh ấy châm ngòi”. Âm thanh được tạo ra có độ vang đúng như họ mong
muốn. Nhưng họ còn nhận được nhiều hơn thế. “Giám đốc Lincoln Center vội
chạy vào. Ông không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ông nhăn nhó 'Ôi không! Tối
nay chúng tôi có một buổi hòa nhạc. Làm sao xử lý đám khói này bây giờ?'”.
Phải đến ba bốn ngày sau khói mới tan hết. Nhưng tiếng nổ từ khẩu pháo của
Jim và Gerhard đã giúp phát hiện ra một điểm bất thường gần trần nhà –
nguyên nhân gây ra sự cố âm thanh kia.
Bạn cần óc sáng tạo và một chút liều lĩnh để làm nên những điều tương tự.
Đó là nét tính cách khác mà cả Jim và Gerhard đều có.
Vậy mối quan hệ bền vững của Jim và Gerhard có được vun đắp từ sợi dây
gắn kết ban đầu không? Liệu Jim và Gerhard từng có mối quan hệ nào tương tự
trước đây với một người có cùng đam mê và sự kiên nhẫn, nhưng giữa hai bên
không xuất hiện cảm giác hòa hợp, thân thiết ngay từ lần đầu gặp mặt?
Tại Hà Lan, một cặp vợ chồng cùng là nhà tâm lý học Dick Barelds và
Pieternel Barelds-Dijkstra (chúng tôi gọi họ là Barelds) đã tiến hành nghiên
cứu tác động của sự hòa hợp tức thời đến mối quan hệ vợ chồng sau nhiều năm
lấy nhau.
Hai nhà tâm lý liên lạc với 1.000 cặp vợ chồng được chọn ngẫu nhiên từ
cuốn danh bạ điện thoại rồi mời họ đến để tham gia cuộc khảo sát về tình trạng
hôn nhân. Mỗi người phải làm khảo sát độc lập với những câu hỏi được thiết kế
mang tính cá nhân và gợi mở. Câu trả lời của họ cũng được giữ bí mật.
Dựa vào câu trả lời, các cặp đôi được chia làm ba nhóm. Nhóm thứ nhất gồm
những cặp đã từng là bạn thân trước khi yêu nhau. Họ biết nhau rất rõ. Sau
một thời gian, mối quan hệ của họ chuyển từ tình bạn sang tình yêu. Nhóm
thứ hai gồm những người quen nhau qua mai mối. Sau nhiều lần hẹn hò, tình
cảm dần sâu đậm và cuối cùng, họ đi đến quyết định kết hôn. Nhóm cuối gồm
những cặp ban đầu là những người xa lạ - như Paul và Nadia – tình cờ gặp gỡ
nhưng quyến luyến nhau ngay phút giây đầu.
Cả ba nhóm đều có những điểm tương đồng về học vấn, thu nhập và có trung
bình hai con. Nhìn bề ngoài, bạn sẽ thấy giữa các nhóm không có sự khác biệt
nhiều lắm.
Nhưng Barelds vẫn tự hỏi liệu có sự khác biệt nào cần lưu ý không. Thế nên
họ quyết định tiến hành phân tích sâu hơn các mối quan hệ đó. Họ đoán các
cặp vợ chồng từng là bạn trước khi kết hôn và các cặp đã trải qua một thời gian
dài tìm hiểu sẽ có cuộc hôn nhân hòa hợp hơn những cặp gặp phải tiếng sét ái
tình. Lý do họ đưa ra là một khi bạn dành thời gian để tìm hiểu một người,
nhiều khả năng bạn sẽ xem người đó như người bạn đời – một người có nhiều
điểm tương đồng với bạn để đảm bảo một mối quan hệ lâu dài. Thật vậy, dữ liệu
của cuộc khảo sát đã chỉ ra rằng những đôi vợ chồng của nhóm thứ nhất và thứ
hai có nhiều điểm chung hơn nhóm thứ ba.
Tuy nhiên, khi Barelds yêu cầu những người tham gia tự đánh giá bản thân
trong mối tương quan với người bạn đời (ví dụ: “Hy vọng tôi sẽ mãi yêu anh
ấy/cô ấy suốt cuộc đời này”; “Tôi cảm nhận được rằng anh ấy/cô ấy thật sự hiểu
tôi”), thì không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm. Cả ba nhóm đều đạt cùng
mức độ tình cảm và sự gắn bó trong đời sống vợ chồng.
Dù sự tương đồng về tính cách và quan điểm là yếu tố quyết định độ bền
vững của một mối quan hệ, nhưng Barelds đã tìm ra một yếu tố quan trọng
không kém giúp gắn kết tình cảm vợ chồng. Những cặp đôi sẽ trả lời đồng ý
hoặc không trước những nhận định sau: “Khi xem những bộ phim tình cảm
hoặc đọc những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, tôi đều nghĩ đến vợ/chồng mình”;
“Tôi tin rằng không ai có thể mang lại hạnh phúc cho tôi như người vợ/chồng
hiện tại”; “Tôi như tan chảy khi nhìn vào mắt vợ/chồng mình”. Liệu có bao
nhiêu người trong số chúng ta cảm thấy “như tan chảy” như thế khi nhìn vào
mắt người bạn đời?
Khi Barelds phân tích kết quả khảo sát, họ nhận ra rằng những cặp vợ chồng
yêu nhau từ lần gặp gỡ đầu tiên có xu hướng đồng ý với nhận định trên. Họ
nghĩ nhiều đến người bạn đời, cho rằng đó chính là một nửa thật sự của mình
và luôn cảm thấy mối quan hệ giữa họ là một điều kỳ diệu. Có thể nói tình cảm
của họ dành cho nhau vẫn nồng nàn và say đắm, thậm chí sau khi kết hôn và
có con. Dù không có nhiều điểm tương đồng và thấu hiểu nhau trước đó, nhưng
mối quan hệ giữa họ vẫn ngày càng khắng khít.
Khi Rom thực hiện cuộc khảo sát về những khoảnh khắc đáng nhớ nhất
trong cuộc đời, anh nhận ra rằng việc hồi tưởng những phút giây kỳ diệu, dù đã
nhiều năm trôi qua, cũng làm sống dậy những xúc cảm và đam mê một thời.
Có thể bạn cho rằng thời gian sẽ làm phai mờ xúc cảm và ký ức, song những
người tham gia cuộc khảo sát vẫn nhớ như in những thời khắc vô giá mà họ
từng có trong đời. Hơn 90% nói rằng họ cảm thấy hạnh phúc, rằng với họ, giây
phút đó như mới xảy ra hôm qua. Họ nói: “Nó khiến tôi bật cười”; “Khoảnh
khắc đó vẫn sống động trong tâm trí tôi”; “Cảm xúc còn vẹn nguyên”.
Rõ ràng sự hòa hợp ngay từ phút ban đầu chính là chất keo kết dính giúp
mối quan hệ bền vững qua thời gian.
Năm mươi năm sau lần gặp mặt đầu tiên, hai nhà vật lý Gerhard Sessler và
Jim West của Phòng thí nghiệm Bell đều mô tả người cộng sự của mình theo
cùng một cách. “Chúng tôi thân thiết ngay từ lúc mới làm việc chung. Chúng
tôi rất gắn bó và đồng cảm với nhau, cả khi tôi đã về hưu”, Gerhard nhớ lại. “Tôi
từng làm việc với rất nhiều người, nhưng với Jim là hợp ý nhất”.
Sợi dây liên kết kỳ diệu này không chỉ củng cố mối quan hệ, mà còn tạo ra
những ảnh hưởng tích cực. Với Jim và Gerhard, sự gắn kết giữa họ đã giúp giải
quyết một vấn đề hóc búa từng thách thức các kỹ sư âm thanh suốt nhiều thập
niên.
Trong một lần trò chuyện, Jim và Gerhard đề cập đến chiếc micro. Các dụng
cụ được sử dụng lúc bấy giờ khá thô kệch, lại cồng kềnh, nên không thể ứng
dụng trên diện rộng, nhất là trong các thiết bị nén và di động.
Gerhard lý giải: “Chiếc micro lúc ấy bao gồm nhiều tinh thể cacbon được nối
với nguồn điện bên ngoài. Thiết bị này tuy lỗi thời và phức tạp nhưng hoạt
động tốt. Mọi người ở Bell bảo chúng tôi 'Các anh sẽ không bao giờ cải tiến
được nó đâu'”. Sau nhiều tháng bàn luận và mày mò tháo lắp, Jim và Gerhard
đã bật ra một ý tưởng táo bạo: đưa nguồn điện vào bên trong chiếc micro. Nếu
không phụ thuộc nguồn năng lượng bên ngoài, thì kích thước chiếc micro sẽ
được thu nhỏ đáng kể.
Một khi đã thống nhất, Jim và Gerhard quyết định thực hiện ngay. Phòng
thí nghiệm Bell cho rằng hai nhà khoa học tài năng đang lãng phí thời gian
vào một việc bất khả thi. Áp lực hủy bỏ dự án đè nặng lên vai họ. Bất chấp
những lời phê bình và chỉ trích, Jim và Gerhard không ngừng động viên nhau.
Gerhard chia sẻ: “Nếu phải thực hiện một mình, nếu không có Jim bên cạnh,
chắc là tôi đã bỏ cuộc từ lâu rồi”. Mối đồng cảm từ những ngày đầu đã tiếp
thêm sức mạnh để họ tiến về phía trước. Bằng những cách cụ thể nhất, mối
thân tình ngay từ phút ban đầu đã giúp con người phát huy khả năng vượt bậc,
nhất là khi họ phải đối mặt với thử thách.
Ngày nay, thiết bị tích hợp gắn trong chiếc micro do Jim và Gerhard phát
minh đã được sản xuất hàng loạt. Mỗi khi sử dụng điện thoại di động, máy
quay video hoặc máy tính xách tay, bạn đang thừa hưởng một phát minh vĩ đại
được tạo ra nhờ vào sự đồng tâm đồng ý từ lúc mới gặp của hai nhà khoa học.
���
������✦✦✦
Với trường hợp của Paul và Nadia, 15 năm sau buổi gặp gỡ đầu tiên, trong
họ vẫn còn nguyên vẹn những cảm xúc kỳ diệu ban đầu. Cả hai đang điều hành
công ty ESi. Nadia thổ lộ: “Năm đầu tiên thật không dễ dàng gì. Chúng tôi gặp
rất nhiều thử thách”. Mối quan hệ giữa Paul và Nadia không phải lúc nào cũng
êm thấm, suôn sẻ, nhưng họ chưa bao giờ sợ sự bất hòa đó. Nadia giải thích:
“Tôi không muốn đạt được điều gì đó bằng mọi cách. Nếu một trong hai người
không nhất trí thì quá trình ra quyết định chung sẽ bị ảnh hưởng. Chúng tôi
cần đánh giá mọi việc theo nhiều góc nhìn khác nhau. Điều đó khiến chúng tôi
trở nên mạnh mẽ”. Nadia ngừng lại, mỉm cười: “Điều duy nhất chúng tôi luôn
đồng thuận là chúng tôi luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của
nhau”. Xúc cảm của lần gặp đầu tiên đã tạo nên hiệu ứng tích cực lâu dài trong
mối quan hệ của họ. Và đó không chỉ là sự gắn kết nhất thời, thoáng qua.
Nhưng tại sao chúng ta lại có thể thân thiết với một ai đó ngay trong lần gặp
đầu tiên? Điều gì tạo ra sự gắn kết này? Để tìm hiểu, chúng ta hãy gặp gỡ một
nhân viên cảnh sát đã từng đối mặt với kẻ bắt cóc con tin để thấy sự kỳ diệu của
sợi dây gắn kết tức thời có thể tạo ra sự khác biệt giữa sự sống và cái chết.
CHƯƠNG 2
KẺ BẮT CÓC VÀ NHÀ THƯƠNG THUYẾT
Chiếc ô tô của cảnh sát Greg Sancier lao đi giữa dòng xe cộ. Mỗi phút giây
lúc này rất có thể phải đánh đổi bằng một mạng sống. Anh được thông báo có
người vừa đột nhập vào một ngôi nhà ở San Jose, California, và đang bắt giữ
những người trong nhà làm con tin. Nhiệm vụ của Sancier là làm sao để tất cả
mọi người có thể ra khỏi đó một cách an toàn.
- Tôi biết mình sẽ phải làm việc trong suốt 5, 10, 15 tiếng liên tục. Mỗi lần ra
ngoài, tôi đều cầu nguyện 'Lạy Chúa, xin Người ban cho con sức mạnh, giúp
con làm tốt những việc cần làm tối nay để đảm bảo mạng sống cho mọi người'.
Bởi vì thật tình mà nói, đôi lúc tôi không biết sẽ phải làm thế nào để giải cứu
họ”, - Greg kể.
Sancier, một cựu binh từng làm việc 25 năm trong lực lượng đặc nhiệm, luôn
áp dụng các kiến thức về tâm lý tội phạm mà anh đã được huấn luyện để giải
quyết những tình huống tương tự. Anh là một trong số ít những nhà thương
thuyết tội phạm có bằng tiến sĩ tâm lý học.
Với gương mặt chữ điền, vai rộng, cơ thể rắn chắc, trông Sancier chẳng khác
nào một vận động viên. Tính cách anh khá gần gũi, hòa đồng, khuôn miệng
như thoáng cười sau hàng ria mép. Anh làm chúng ta liên tưởng đến một
người đang đi gặp gỡ bạn bè hơn là chuẩn bị thương thuyết với một tên tội
phạm trong những tình huống đầy kịch tính. Nhưng chính những điều đó đã
giúp Sancier thành công.
Cách tiếp cận tội phạm của Sancier đã thể hiện một điểm trọng yếu về cách
tạo ra sự gắn kết tức thời. Thông thường, khi nghĩ về cách thức và lý do chúng
ta mong muốn bắt sóng cảm xúc với một người, chúng ta có xu hướng hành
động tương tự như thế, tức là nghĩ ra một tình huống giả định để chúng ta xác
lập một sự gắn kết với người đó. Sancier là người có khả năng tạo ra mối gắn kết
này khi cần, ngay cả trong những tình huống căng thẳng nhất. Nói cách khác,
sự gắn kết tình thân tức thời không đơn giản là những cảm xúc cầu may, và tất
nhiên không xuất hiện vô tình hay ngẫu nhiên.Vậy thì điều gì có thể giúp một
người nhanh chóng xác lập sợi dây gắn kết tình thân tức thời với một người
khác?
Trên đường đến hiện trường, Sancier cố hình dung về tình huống anh sắp
phải đối mặt. Kẻ bắt giữ con tin, một gã tên Ed Jones, đang đứng trước nguy cơ
vi phạm luật “bất quá tam” ở California: Jones đã hai lần phạm trọng tội và
nếu bị kết án lần thứ ba, hắn sẽ phải lãnh án tử hình theo đạo luật của bang
này. Jones biết điều đó.
Sau này, Sancier kể với chúng tôi: “Hắn là thành viên của một nhóm tội
phạm và hắn muốn chơi trội để chứng tỏ mình với đồng đảng. Chắc bạn đã
nghe nói đến trường hợp bọn tội phạm tự tử bằng cách gây chú ý với cảnh sát
và khiến họ buộc phải nổ súng chứ? Jones cũng thế - hắn đang có ý định mượn
tay chúng tôi để có 'cái chết vinh quang' theo kiểu đó”.
Dù Sancier có kỹ năng thương thuyết tài tình và khả năng bắn súng rất cừ,
nhưng cách tốt nhất để giải quyết sự việc mà không làm hại đến con tin và cả
Jones chính là thuyết phục hắn đầu hàng. Mà để làm được như vậy, Sancier
phải nhanh chóng thiết lập một sợi dây gắn kết với Jones.
Sancier đến nơi xảy ra vụ bắt cóc với một cẩm nang đặc biệt mang tính mô
phỏng, bao gồm nhiều cách tiếp cận tội phạm để xây dựng mối quan hệ - anh
luôn sử dụng một trong số đó trong lúc làm việc. Đối với Sancier, tiếp cận và
gắn kết quan hệ với những kẻ tội phạm trong những tình huống tương tự là
một nghệ thuật. Anh sử dụng tính cách gần gũi, thân tình và cởi mở vốn có của
mình để tiếp cận tội phạm. Nhưng anh vẫn nhờ đến yếu tố khoa học.
������✦✦✦
Một nghiên cứu gần đây xác nhận rằng phương pháp tâm lý nhẹ nhàng
nhưng quyết đoán có thể gây thiện cảm với đối phương ngay khi vừa gặp. Ngay
cả những cử chỉ, điệu bộ hay hành động tưởng chừng đơn giản cũng tạo nên
nhiều khác biệt.
Trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu mời nhóm đối tượng tham gia
vào một căn phòng và giới thiệu họ với một người mà họ chưa từng gặp mặt.
Mỗi cặp sẽ nhận được một tình huống khó xử, ví dụ: “Bạn sẽ làm gì nếu nhìn
thấy người yêu đang hôn say đắm một người khác?” hoặc “Bạn sẽ làm gì nếu
nhìn thấy anh chị của bạn lấy cắp những vật đáng giá?”. Cả hai phải tranh luận
và tìm cách giải quyết những tình huống không có lời giải đáp cụ thể này.
Những người tham gia không biết người bạn đồng hành của mình là trợ lý
của các nhà nghiên cứu với trách nhiệm khơi gợi đối phương để ghi nhận
những biến đổi tâm lý. Với một nửa nhóm đối tượng, các trợ lý chỉ đơn thuần
hòa mình vào không khí thảo luận và dẫn dắt họ vào các phạm trù đạo đức.
Nhưng với một nửa còn lại, các trợ lý cố ý chạm tay vào đối phương ba lần
trong suốt cuộc trò chuyện kéo dài năm phút - một lần vào vai, hai lần vào
khuỷu tay – rồi ghi nhận những biến đổi tâm lý của đối phương thông qua sự
tiếp xúc cá nhân đó. Do say sưa bàn luận nên những người tham gia hầu như
không để ý đến những cử chỉ này, hoặc chỉ phản ứng bằng cái nhìn thoáng qua.
Tuy nhiên, những va chạm cơ thể tưởng chừng như vô tình đó lại có sức tác
động lớn không ngờ: những người “được chạm” trong suốt cuộc trò chuyện cảm
thấy gắn kết với người đối thoại hơn những người “không được chạm”. Họ nói
có cảm giác “cuốn hút, thân tình, gần gũi, tin cậy, thoải mái và đồng cảm” với
người bạn của mình hơn.
Tiềm thức con người giải mã sự va chạm là dấu hiệu của sự gần gũi và thân
mật, chính vì vậy động tác va chạm, dù chỉ trong thoáng chốc, cũng khiến ta
cảm thấy bị đối phương lôi cuốn. Hành động này thôi thúc chúng ta thiết lập
một sự gắn kết với người đối diện. Giao tiếp bằng mắt cũng mang lại hiệu ứng
tương tự. Cả hai hành vi đều là những dấu hiệu tức thời ngụ ý rằng chúng ta
đang dành nhiều cảm tình cho người đối diện. Điều thú vị là người nhận được
những tín hiệu này không những bị tác động, mà còn lập tức đón nhận chúng
một cách vô thức và gần như mặc nhiên cảm mến người gửi tín hiệu.
Những giác quan khác cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo nên sự gắn
kết tức thời. Các nhà khoa học bắt đầu khám phá vai trò của mùi hương và
pheromone - loại chất do động vật tiết ra, có tác dụng chi phối hành vi và hấp
dẫn những cá thể cùng loài. Từ lâu, giới khoa học đã tin rằng con người không
giống các chủng loài khác, và không tiết ra hoặc phản ứng với pheromone. Thế
nhưng nhiều cặp đôi khẳng định người yêu hoặc bạn đời của họ có mùi hương
riêng biệt, lôi cuốn.
Liệu có bao nhiêu sự thật trong nhận định trên? Để tìm câu trả lời, các nhà
nghiên cứu đã đưa cho hai nhóm phụ nữ ảnh chụp những người đàn ông mà
họ chưa từng gặp mặt. Sau khi xem ảnh, cả hai nhóm được yêu cầu nhận xét
theo những tiêu chí sau: vóc dáng, sự hấp dẫn hình thể, cảm giác an toàn, trí
thông minh và liệu họ có phải là người đáng tin cậy trong các mối quan hệ hay
không. Nhưng điểm khác biệt là trên góc kệ trong căn phòng của nhóm thứ hai
có một lọ nhỏ đựng các mẩu bông thấm mồ hôi của đàn ông. Các nhà nghiên
cứu đặt lọ bông thấm khá xa để nhóm phụ nữ không nhận ra trong phòng có
mùi lạ. Ban đầu, sự xuất hiện của những mẩu bông không tạo ra hiệu ứng đáng
chú ý nào. Cả hai nhóm đều đánh giá các chàng trai như nhau về tiềm năng
tiến tới một mối quan hệ lâu dài. Nhưng khi các nhà nghiên cứu kiểm tra các
chỉ số hấp dẫn hình thể, họ lại phát hiện ra một chi tiết thú vị: nhóm thứ hai
nhận xét những người đàn ông trong ảnh có cơ thể cường tráng, nét mặt ấn
tượng và phong thái tự tin hơn.
Rõ ràng, vùng tân vỏ não của phụ nữ - phần não chịu trách nhiệm ra quyết
định, như chọn bạn đời – không bị “lung lạc” bởi mùi hương; tuy nhiên, vùng
não nguyên thủy lại chịu tác động rất mạnh. Mùi từ những miếng bông không
thể đánh bại lý trí của những người phụ nữ đó, nhưng lại trực tiếp tác động đến
cảm quan của họ. Các nhà khoa học kết luận rằng những dấu hiệu nhạy cảm
như sự va chạm, ánh nhìn, mùi hương luôn chi phối mối quan hệ giữa con
người với nhau và là nhân tố tạo ra sự
gắn kết.
������✦✦✦
Ở những chương tiếp theo, chúng ta sẽ lần lượt xem xét những phương thức
gắn kết trong nhiều tình huống khác nhau. Trong mỗi tình huống luôn tồn tại
năm chất xúc tác, còn gọi là năm thành phần hay yếu tố thúc đẩy sự hòa hợp
ngay từ phút ban đầu, đó là tính dễ xúc động, sự gần gũi, sự hòa điệu, sự tương
đồng và không gian. Chúng ta sẽ tìm hiểu vai trò của mỗi yếu tố trong việc giúp
tạo ra mối gắn kết tức thời.
Đầu tiên là bản tính dễ xúc động. Đây có lẽ là chất xúc tác phản trực giác
nhất. Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng khi tỏ ra dễ xúc động, chúng ta sẽ tự đặt
mình vào thế yếu và cho phép đối phương lấn át hay gây sức ép lên mình.
Nhưng khi chúng ta muốn tạo ra sự gắn kết tức thời, bản tính dễ xúc động lại
trở thành điểm mạnh và làm tăng khả năng gắn kết của chúng ta với những
người xung quanh.
Tính yếu đuối và dễ xúc động thường làm cho người khác mủi lòng và
t...
 









Các ý kiến mới nhất