Tìm kiếm Giáo án
baihaynhattuan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Minh Tuyết
Ngày gửi: 20h:21' 15-07-2008
Dung lượng: 181.5 KB
Số lượt tải: 76
Nguồn:
Người gửi: Trần Minh Tuyết
Ngày gửi: 20h:21' 15-07-2008
Dung lượng: 181.5 KB
Số lượt tải: 76
Số lượt thích:
0 người
Chương I: ĐẠI CƯƠNG VỀ HOÁ MÔI TRƯỜNG
I.3. Những cơ sở khoa học môi trường:
I.3.1. Sinh thái học, hệ sinh thái, cân bằng sinh thái:
I.3.1.1. Sinh thái học:
Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về sự phân bố và sinh sống của những sinh vật sống và các tác động qua lại giữa các sinh vật và môi trường sống của chúng.
Nghiên cứu sinh thái học giúp chúng ta biết:
Cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên
I.3.1.1. Hệ sinh thái:
Hệ sinh thái:
Hệ sinh thái (HST) là tổ hợp một quần xã sinh vật và môi trường xung quanh, trong đó sinh vật và môi trường tương tác với nhautạo nên các chuỗi thức ăn, lưới thức ăn và chu trình sinh đại hóa.
Hệ sinh thái (HST) có thể có những hệ lớn nhỏ khác nhau vd: hồ, ao, đại dương, trái đất.
Tính chất của hệ sinh thái:
Tính hệ thống:
Được thể hiện chủ yếu là mối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật và môi trường. Có 2 loại hệ thống cơ bản:
+ Hệ thống kín: Là hệ thống trong đó vật chất năng lượng, thông tin, chỉ trao đổi trong ranh giới của hệ thống.
+ Hệ thống hở: Là hệ thống trong đó vật chất, năng lượng, thong tin trao đổi qua ranh giới hệ thống.
Tính phản hồi:
Trong quá trình tồn tại và phát triển, HST thường xuyên tiếp nhận các loại vật chất và năng lượng … từ môi trường bên ngoài, làm cho HST có hai tính chất đặc thù là:
- Tính chất tự cân bằng: Là khả năng HST phản kháng lại các thay đổi của môi trường và giữ được trạng thái cân bằng.
- Năng lực chịu tải: Là khả năng chịu đựng những sức ép, những cú sốc trong những điều kiện khó khăn nhất.
Tuy nhiên tính phản hồi của HSTcũng có giới hạn, xác định. Khi tác động của môi trường vào HST nằm trong giới hạn, thì HST sẽ phản ứng lại một cách thích nghi phù hợp với môi trường, đối với những tác động lớn vượt khỏi mức giới hạn thì HST không tự điều chỉnh được và cuối cùng bị suy thoái và huỷ diệt.
Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái:
+ Cấu trúc của HST: HST điển hình được cấu tạo bởi 5 thành phần:
- Sinh vật sản xuất
- Sinh vật tiêu thụ
- Sinh vật phân huỷ
- Các chất hữu cơ ( gluxit, lipit, protein…)
- Các yếu tố khí hậu.
I.3.1.3. Cân bằng sinh thái:
Cân bằng sinh thái là trạng thái ổn định tự nhiên của hệ sinh thái hướng tới sự thích nghi cao nhất của điều kiện sống. Cân bằng sinh thái chỉ tồn tại khi các điều kiện tồn tại và phát triển của từng thành phần trong hệ thống được đảm bảo và ổn định.
Cân bằng sinh thái không phải là một trạng thái tĩnh của hệ sinh thái, khi có một nhân tố nào đó của môi trường bên ngoài tác động tới bất kỳ một thành phần nào đó của hệ thì cân bằng sẽ bị phá vỡ và một cân bằng mới được thiết lập (khả năng tự điều chỉnh).
Tuy nhiên, nếu thành phần nào đó của hệ bị tác động quá mạnh và không khôi phục lại được sẽ làm suy thoái toàn hệ thống (gọi là mất cân bằng sinh thái).
I.3.2. Tính đa dạng sinh học:
Định nghĩa: Đa dạng sinh học là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần,...và bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái .
Ý nghĩa: Sự đa dạng nguồn gen ở Việt Nam như gen cây trồng có 734 loài thuộc 79 họ; hệ động vật được nhận biết có 275 phân loài thú, 1.026 phân loài chim, 500 loài cá nước ngọt và khoảng trên 2.000 loài cá biển và hàng chục nghìn loài động vật không xương sống.
Các biểu hiện của kiểu gen ở Việt Nam cũng rất phong phú, riêng cây lúa đã có gần 400 giống lúa khác nhau.
Sự đa dạng sinh học càng lớn thì sẽ làm phong phú nguồn thức ăn cho con người và động vật hoang dã sống trong tự nhiên và đa dạng sinh học tạo nên vẻ đẹp cho cảnh quan tự nhiên.
Bảo vệ tính đa dạng sinh học:
- Thành lập các khu bảo vệ
- Thành lập các trung tâm nghiên cứu nuôi nhân giống
- Tăng cường công tác giáo dục về BVMT trong nhà trường và xã hội.
I.3.3. Môi trường phát triển và phát triển bền vững:
I.3.3.1. Môi trường và phát triển:
Phát triển là một xu thế tất yếu của xã hội, trong quá trình phát triển, để cải tạo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người, con người không ngừng tác động vào môi trường và làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng. Nhưng chúng ta không kìm hãm được sự phát triển của xã hội loài người. Vì vậy chúng ta cần tìm ra con đường phát triển phù hợp để giảm bớt sự ô nhiễm môi trường.
Môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển là quá trình sử dụng và cải thiện môi trường.
Môi trường là đối tượng của phát triển, phát triển là nguyên nhân làm biến đổi môi trường. Giữa môi trường và phát triển luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
I.3.3.2. Phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là sự phát triển thoã mãm những nhu cầu trong hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng làm thoã mãn những nhu cầu của thế hệ tương lai.
Phát triển bền vững là tiến trình đòi hỏi sự phát triển đồng thời tất cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội…Một xã hội bền vững thì phải có nền kinh tế phát triển bền vững.
I.3.4. Con người và môi trường:
I.3.4.1. Bản chất và các yếu tố về sinh thái xã hội ảnh hưởng đến con người:
I.3.4.2. Tác động của con người vào môi trường:
Nhân loại đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau với nhiều tác động đặc thù đến môi trường. Sự gia tăng dân số thế giới ngày càng nhanh thì tác động của con người đến môi trường càng mãnh liệt. Từ đầu công nguyên đến thời kỳ cận đại, dân số thế giới tăng khoảng từ 2-3 lần. Ðầu thế kỷ 17, có khoảng 500- 550 triệu người và đầu thế kỷ 19 có khoảng 1 tỉ người. Ðầu thế kỷ 20, có khoảng 2 tỷ người. Tốc độ tăng dân số cũng tăng theo thời gian. Năm 1960, thế giới có khoảng 3 tỷ người, đến 1975 có 4 tỷ người, 1988 có 5,2 tỷ người và theo dự báo thì 2025 sẽ có 8 tỷ người. Năm 2050 có 10 tỷ người. Dân số tăng, con người phải mở rộng diện tích đất đai để làm nông nghiệp, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu từ lục địa đến biển khơi, xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp đã làm cho môi trường biến đổi ngày càng mạnh mẽ.
Theo Viện Kiểm soát kiểm lâm thống kê ,diện tích rừng Việt Nam giảm rất nhiều, cụ thể :
- Năm 1943 là 43%
- Năm 1990 là 28,4%
- Năm 2002 là 37.5%
Ở ĐB sông Cửu Long chỉ còn 5% rừng che phủ, mất 175000 mẫu rừng ngập mặn năm 2003.
Các tỉnh bị chặt phá rừng nhiều nhất là:
+ Bình Phước :671 ha, tăng 7 lần cùng kì năm ngoái .
+Kontum : 54 ha, tăng 7 lần.
+Ninh Thuận:35ha, tăng 4 lần……
Những con số nói trên cho thấy diện tích rừng giảm trầm trọng.
Đến thời kỳ công nghiệp và hiện nay, con người đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ các nguồn tài nguyên và các quá trình tự nhiên. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, công nghiệp đã có những bước tiến khổng lồ, do vậy lượng nhiên liệu tiêu thụ tăng vọt, lượng chất thải vào môi trường ngày càng lớn; mặt đất bị biến dạng, diện tích đất trồng trọt suy giảm đáng kể. Nhiều loại tài nguyên thiên nhiên được khai thác với số lượng ngày càng lớn do sức sản xuất phát triển. Nhiều nơi tình trạng suy kiệt tài nguyên đã ở mức báo động, đồng thời chất thải đưa vào môi trường ngày càng lớn và phức tạp hơn gây ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường đất và nước Ô nhiễm môi trường nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi – giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại. Khi sự thay đổi thành và tính chất của nước vượt qua một ngưỡng cho phép thì ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người khi sử dụng như dịch tả, kiết lị, viêm ruột, thương hàn, viêm gan, bại liệt… Nguy cơ ô nhiễm môi trường nước đang diễn ra trên quy mô toàn cầu… Ô nhiễm môi trường đất là những tác động làm biến đổi các yếu tố sinh thái của đất vượt ra ngoài phạm vi chống chịu của các sinh vật. Nguồn gốc gây ô nhiễm đất có thể là các nhân tố tự nhiên (núi lửa, ngập úng, ngập mặn, cát bay) hay các nhân tố nhân sinh (chất thải của sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông). Tài nguyên đất là có giới hạn. Hạn chế sử dụng các loại hóa chất, chống ô nhiễm đất và đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững là một trong những điều kiện đảm bảo cho nhân loại tồn tại và phát triển. Vấn đề hủy hoại môi trường tự nhiên Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu toàn cầu là sự gia tăng đáng kể khí nhà kính vào khí quyển do hoạt động của con người. Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng Trái đất nóng lên do tác động của các chất khí nhà kính, chủ yếu là CO2, NO2, CH4, N2O. Dự báo nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ Trái đất sẽ tăng lên 1,5 đến 4,5 độ C. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự sống của con người và các hệ sinh thái trên toàn cầu. Sự lắng đọng axít là một trong những vấn đề nhiễm bẩn môi trường, gồm hai hình thức: lắng đọng khô gồm các khí, bụi, các sol khí có tính axít; lắng đọng ướt (mưa tuyết, sương mù, hơi nước có tính axít). Lắng đọng axít xuất hiện khi có một lượng lớn SO2, NO2 được phát thải. Lắng đọng axít đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước. Theo thời gian, đất và nước mặt dần dần bị axít hóa làm cho lượng nhôm, mangan linh động tăng nhanh, gây độc cho cây trồng và nhiều sinh vật nước ngọt… Tầng ôzôn có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống sinh vật trên Trái đất nhưng tình trạng suy thoái tầng ôzôn đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới.
I.3.4.3. Quản lí môi trường và đánh giá tác động môi trường:
a. Quản lí môi trường:
Là môi trường hoạt động trong lĩnh vực quản lí xã hội có tác động điều chỉnh các loại hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cân có hệ thống và kỹ thuật điều phối thông tin đối với vấn đề môi trường có liên quan đến môi trường ; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển và bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên .
-Biện pháp quản lý môi trường:dùng luật pháp, chính sách kinh tế, chính trị, xã hội…
-Quy mô q
I.3. Những cơ sở khoa học môi trường:
I.3.1. Sinh thái học, hệ sinh thái, cân bằng sinh thái:
I.3.1.1. Sinh thái học:
Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về sự phân bố và sinh sống của những sinh vật sống và các tác động qua lại giữa các sinh vật và môi trường sống của chúng.
Nghiên cứu sinh thái học giúp chúng ta biết:
Cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên
I.3.1.1. Hệ sinh thái:
Hệ sinh thái:
Hệ sinh thái (HST) là tổ hợp một quần xã sinh vật và môi trường xung quanh, trong đó sinh vật và môi trường tương tác với nhautạo nên các chuỗi thức ăn, lưới thức ăn và chu trình sinh đại hóa.
Hệ sinh thái (HST) có thể có những hệ lớn nhỏ khác nhau vd: hồ, ao, đại dương, trái đất.
Tính chất của hệ sinh thái:
Tính hệ thống:
Được thể hiện chủ yếu là mối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật và môi trường. Có 2 loại hệ thống cơ bản:
+ Hệ thống kín: Là hệ thống trong đó vật chất năng lượng, thông tin, chỉ trao đổi trong ranh giới của hệ thống.
+ Hệ thống hở: Là hệ thống trong đó vật chất, năng lượng, thong tin trao đổi qua ranh giới hệ thống.
Tính phản hồi:
Trong quá trình tồn tại và phát triển, HST thường xuyên tiếp nhận các loại vật chất và năng lượng … từ môi trường bên ngoài, làm cho HST có hai tính chất đặc thù là:
- Tính chất tự cân bằng: Là khả năng HST phản kháng lại các thay đổi của môi trường và giữ được trạng thái cân bằng.
- Năng lực chịu tải: Là khả năng chịu đựng những sức ép, những cú sốc trong những điều kiện khó khăn nhất.
Tuy nhiên tính phản hồi của HSTcũng có giới hạn, xác định. Khi tác động của môi trường vào HST nằm trong giới hạn, thì HST sẽ phản ứng lại một cách thích nghi phù hợp với môi trường, đối với những tác động lớn vượt khỏi mức giới hạn thì HST không tự điều chỉnh được và cuối cùng bị suy thoái và huỷ diệt.
Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái:
+ Cấu trúc của HST: HST điển hình được cấu tạo bởi 5 thành phần:
- Sinh vật sản xuất
- Sinh vật tiêu thụ
- Sinh vật phân huỷ
- Các chất hữu cơ ( gluxit, lipit, protein…)
- Các yếu tố khí hậu.
I.3.1.3. Cân bằng sinh thái:
Cân bằng sinh thái là trạng thái ổn định tự nhiên của hệ sinh thái hướng tới sự thích nghi cao nhất của điều kiện sống. Cân bằng sinh thái chỉ tồn tại khi các điều kiện tồn tại và phát triển của từng thành phần trong hệ thống được đảm bảo và ổn định.
Cân bằng sinh thái không phải là một trạng thái tĩnh của hệ sinh thái, khi có một nhân tố nào đó của môi trường bên ngoài tác động tới bất kỳ một thành phần nào đó của hệ thì cân bằng sẽ bị phá vỡ và một cân bằng mới được thiết lập (khả năng tự điều chỉnh).
Tuy nhiên, nếu thành phần nào đó của hệ bị tác động quá mạnh và không khôi phục lại được sẽ làm suy thoái toàn hệ thống (gọi là mất cân bằng sinh thái).
I.3.2. Tính đa dạng sinh học:
Định nghĩa: Đa dạng sinh học là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần,...và bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái .
Ý nghĩa: Sự đa dạng nguồn gen ở Việt Nam như gen cây trồng có 734 loài thuộc 79 họ; hệ động vật được nhận biết có 275 phân loài thú, 1.026 phân loài chim, 500 loài cá nước ngọt và khoảng trên 2.000 loài cá biển và hàng chục nghìn loài động vật không xương sống.
Các biểu hiện của kiểu gen ở Việt Nam cũng rất phong phú, riêng cây lúa đã có gần 400 giống lúa khác nhau.
Sự đa dạng sinh học càng lớn thì sẽ làm phong phú nguồn thức ăn cho con người và động vật hoang dã sống trong tự nhiên và đa dạng sinh học tạo nên vẻ đẹp cho cảnh quan tự nhiên.
Bảo vệ tính đa dạng sinh học:
- Thành lập các khu bảo vệ
- Thành lập các trung tâm nghiên cứu nuôi nhân giống
- Tăng cường công tác giáo dục về BVMT trong nhà trường và xã hội.
I.3.3. Môi trường phát triển và phát triển bền vững:
I.3.3.1. Môi trường và phát triển:
Phát triển là một xu thế tất yếu của xã hội, trong quá trình phát triển, để cải tạo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người, con người không ngừng tác động vào môi trường và làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng. Nhưng chúng ta không kìm hãm được sự phát triển của xã hội loài người. Vì vậy chúng ta cần tìm ra con đường phát triển phù hợp để giảm bớt sự ô nhiễm môi trường.
Môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển là quá trình sử dụng và cải thiện môi trường.
Môi trường là đối tượng của phát triển, phát triển là nguyên nhân làm biến đổi môi trường. Giữa môi trường và phát triển luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
I.3.3.2. Phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là sự phát triển thoã mãm những nhu cầu trong hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng làm thoã mãn những nhu cầu của thế hệ tương lai.
Phát triển bền vững là tiến trình đòi hỏi sự phát triển đồng thời tất cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội…Một xã hội bền vững thì phải có nền kinh tế phát triển bền vững.
I.3.4. Con người và môi trường:
I.3.4.1. Bản chất và các yếu tố về sinh thái xã hội ảnh hưởng đến con người:
I.3.4.2. Tác động của con người vào môi trường:
Nhân loại đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau với nhiều tác động đặc thù đến môi trường. Sự gia tăng dân số thế giới ngày càng nhanh thì tác động của con người đến môi trường càng mãnh liệt. Từ đầu công nguyên đến thời kỳ cận đại, dân số thế giới tăng khoảng từ 2-3 lần. Ðầu thế kỷ 17, có khoảng 500- 550 triệu người và đầu thế kỷ 19 có khoảng 1 tỉ người. Ðầu thế kỷ 20, có khoảng 2 tỷ người. Tốc độ tăng dân số cũng tăng theo thời gian. Năm 1960, thế giới có khoảng 3 tỷ người, đến 1975 có 4 tỷ người, 1988 có 5,2 tỷ người và theo dự báo thì 2025 sẽ có 8 tỷ người. Năm 2050 có 10 tỷ người. Dân số tăng, con người phải mở rộng diện tích đất đai để làm nông nghiệp, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu từ lục địa đến biển khơi, xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp đã làm cho môi trường biến đổi ngày càng mạnh mẽ.
Theo Viện Kiểm soát kiểm lâm thống kê ,diện tích rừng Việt Nam giảm rất nhiều, cụ thể :
- Năm 1943 là 43%
- Năm 1990 là 28,4%
- Năm 2002 là 37.5%
Ở ĐB sông Cửu Long chỉ còn 5% rừng che phủ, mất 175000 mẫu rừng ngập mặn năm 2003.
Các tỉnh bị chặt phá rừng nhiều nhất là:
+ Bình Phước :671 ha, tăng 7 lần cùng kì năm ngoái .
+Kontum : 54 ha, tăng 7 lần.
+Ninh Thuận:35ha, tăng 4 lần……
Những con số nói trên cho thấy diện tích rừng giảm trầm trọng.
Đến thời kỳ công nghiệp và hiện nay, con người đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ các nguồn tài nguyên và các quá trình tự nhiên. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, công nghiệp đã có những bước tiến khổng lồ, do vậy lượng nhiên liệu tiêu thụ tăng vọt, lượng chất thải vào môi trường ngày càng lớn; mặt đất bị biến dạng, diện tích đất trồng trọt suy giảm đáng kể. Nhiều loại tài nguyên thiên nhiên được khai thác với số lượng ngày càng lớn do sức sản xuất phát triển. Nhiều nơi tình trạng suy kiệt tài nguyên đã ở mức báo động, đồng thời chất thải đưa vào môi trường ngày càng lớn và phức tạp hơn gây ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường đất và nước Ô nhiễm môi trường nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi – giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại. Khi sự thay đổi thành và tính chất của nước vượt qua một ngưỡng cho phép thì ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người khi sử dụng như dịch tả, kiết lị, viêm ruột, thương hàn, viêm gan, bại liệt… Nguy cơ ô nhiễm môi trường nước đang diễn ra trên quy mô toàn cầu… Ô nhiễm môi trường đất là những tác động làm biến đổi các yếu tố sinh thái của đất vượt ra ngoài phạm vi chống chịu của các sinh vật. Nguồn gốc gây ô nhiễm đất có thể là các nhân tố tự nhiên (núi lửa, ngập úng, ngập mặn, cát bay) hay các nhân tố nhân sinh (chất thải của sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông). Tài nguyên đất là có giới hạn. Hạn chế sử dụng các loại hóa chất, chống ô nhiễm đất và đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững là một trong những điều kiện đảm bảo cho nhân loại tồn tại và phát triển. Vấn đề hủy hoại môi trường tự nhiên Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu toàn cầu là sự gia tăng đáng kể khí nhà kính vào khí quyển do hoạt động của con người. Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng Trái đất nóng lên do tác động của các chất khí nhà kính, chủ yếu là CO2, NO2, CH4, N2O. Dự báo nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ Trái đất sẽ tăng lên 1,5 đến 4,5 độ C. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự sống của con người và các hệ sinh thái trên toàn cầu. Sự lắng đọng axít là một trong những vấn đề nhiễm bẩn môi trường, gồm hai hình thức: lắng đọng khô gồm các khí, bụi, các sol khí có tính axít; lắng đọng ướt (mưa tuyết, sương mù, hơi nước có tính axít). Lắng đọng axít xuất hiện khi có một lượng lớn SO2, NO2 được phát thải. Lắng đọng axít đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước. Theo thời gian, đất và nước mặt dần dần bị axít hóa làm cho lượng nhôm, mangan linh động tăng nhanh, gây độc cho cây trồng và nhiều sinh vật nước ngọt… Tầng ôzôn có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống sinh vật trên Trái đất nhưng tình trạng suy thoái tầng ôzôn đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới.
I.3.4.3. Quản lí môi trường và đánh giá tác động môi trường:
a. Quản lí môi trường:
Là môi trường hoạt động trong lĩnh vực quản lí xã hội có tác động điều chỉnh các loại hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cân có hệ thống và kỹ thuật điều phối thông tin đối với vấn đề môi trường có liên quan đến môi trường ; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển và bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên .
-Biện pháp quản lý môi trường:dùng luật pháp, chính sách kinh tế, chính trị, xã hội…
-Quy mô q
 








Các ý kiến mới nhất