bai tieu luan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: LƯƠNG THỊ DIỄM MY
Ngày gửi: 23h:27' 27-10-2015
Dung lượng: 424.0 KB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: LƯƠNG THỊ DIỄM MY
Ngày gửi: 23h:27' 27-10-2015
Dung lượng: 424.0 KB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
PHẦN I MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đảng và Nhà nước ta đã và đang coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân, bởi nông nghiệp không chỉ giữ vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm cho đất nước mà vì nước ta hiện nay và những năm sắp tới cơ bản vẫn là nước nông nghiệp, với 11 triệu hộ nông dân chiếm 78,7% dân số sống ở nông thôn và nông nghiệp đóng góp 25,75% GDP (1998).
Trước kia trong thời kỳ bao cấp với chính sách kinh tế hoá chưa khuyến khích người lao động, nên người lao động chưa phát huy hết tiềm năng của mình, nhận rõ ra khiếm khuyết đó, tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) Đảng tiến hành đổi mới tổ chức quản lí nền kinh tế quốc dân, trong đó có nông nghiệp. Nội dung cơ bản của chính sách đổi mới chính là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN.
Vận dụng đường lối đó trong đổi mới kinh tế nông nghiệp nét nổi bật là coi “gia đình xã viên là một đơn vị kinh tế tự chủ”. Trong sản xuất nông nghiệp, từ đó Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp như nghị quyết trung Ương V đại hội khoá VII và hàng loạt các chính sách kinh tế mới trong thời kỳ đổi mới. Đó là những tiên đề hết sức quan trọng để thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển nói chung và chăn nuôi nói riêng.
Trước hoàn cảnh đó, trong những năm gần đây tình hình chăn nuôi trong cả nước đã và đang phát triển rất mạnh mẽ. Đặc biệt là chăn nuôi ở các nông hộ thuộc các tỉnh trong cả nước .Trong đó huyên Thuận Thành là một huyện khá điển hình trong chăn nuôi phát triển cũng rất mạnh. Chăn nuôi đã góp phần không nhỏ vào cung cấp nguồn thực phẩm trong cả nước nói chung và cải thiện đời sống cho người dân chăn nuôi nói riêng. Nhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều nguyên nhân làm chăn nuôi kém phát triển, làm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Trong đó nguyên nhân chính là do dịch bệnh gây ra, nó không chỉ gây thiệt hại trong chăn nuôi mà nó còn ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người. Đặc biệt đầu năm 2004 dịch cúm gia cầm xảy ra đã làm thiệt hại lớn trong chăn nuôi, kìm hãm sự phát triển của chăn nuôi gây thiệt hại về nền kinh tế của cả nước nói chung và của người chăn nuôi nói riệng.
Để hiểu rõ được những khó khăn, những thiệt hại trong chăn nuôi do dịch bệnh gây ra và từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ thích hợp, chúng tôi tiến hành đề tài: “Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm và biện pháp phòng trị bệnh ở các nông hộ xã Ninh Xá - huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh”.
2. Mục đích
2.1. Mục đích
Nắm được thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi ở xã Ninh Xá.
Hiểu được tình hình dịch bệnh xảy ra ở gia súc, gia cầm tại xã và nhận thức của người chăn nuôi trong phòng trừ dịch bệnh cho chăn nuôi cho đàn gia súc và gia cầm.
Đề ra được các biện pháp phòng trừ dịch bệnh cho đàn gia súc và gia cầm tại xã nhằm phát triển chăn nuôi tại xã nhằm phát triển chăn nuôi tại xã.
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Vài nét cơ bản về hệ thống nông nghiệp
1.1. Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là một phương thức hoạt động của con người được tiến hành trên cơ sở các điều kiện tự nhiên và xã hội sản xuất được tiến hành trêb cơ sở các điều kiện tự nhiên và xã hội sản xuất ra lương thực – thực phẩm như: len, sợi, vải, củi đốt và các vật liệu khác bằng sự lựa chọn sử dụng có định hướng cây trồng và vật nuôi ( Cao Liêm, 1990).
1.2. Khái niệm hệ thống nông nghiệp
Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện về không gian và sự phối kết hợp giữa các ngành sản xuất với kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn nhu cầu. Nó thể hiện một sự tác động qua lại giữa hệ thống sinh thái, sinh học và môi trường tự nhiên và một đại diện về hệ thống xã hội văn hoá, thông qua hoạt động sản xuất, xuất phát từ thành quả kỹ thuật ( Phạm Chí Thành, 1996).
2. Mô hình nông nghiệp.
Hệ thống nông nghiệp của Đào Thế Tuấn, 1989.
Trong mô hình của Đào Thế Tuấn cho thấy các mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố bên trong hệ thống nông nghiệp.
Mô hình
1. Đặt vấn đề
Đảng và Nhà nước ta đã và đang coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân, bởi nông nghiệp không chỉ giữ vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm cho đất nước mà vì nước ta hiện nay và những năm sắp tới cơ bản vẫn là nước nông nghiệp, với 11 triệu hộ nông dân chiếm 78,7% dân số sống ở nông thôn và nông nghiệp đóng góp 25,75% GDP (1998).
Trước kia trong thời kỳ bao cấp với chính sách kinh tế hoá chưa khuyến khích người lao động, nên người lao động chưa phát huy hết tiềm năng của mình, nhận rõ ra khiếm khuyết đó, tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) Đảng tiến hành đổi mới tổ chức quản lí nền kinh tế quốc dân, trong đó có nông nghiệp. Nội dung cơ bản của chính sách đổi mới chính là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN.
Vận dụng đường lối đó trong đổi mới kinh tế nông nghiệp nét nổi bật là coi “gia đình xã viên là một đơn vị kinh tế tự chủ”. Trong sản xuất nông nghiệp, từ đó Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp như nghị quyết trung Ương V đại hội khoá VII và hàng loạt các chính sách kinh tế mới trong thời kỳ đổi mới. Đó là những tiên đề hết sức quan trọng để thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển nói chung và chăn nuôi nói riêng.
Trước hoàn cảnh đó, trong những năm gần đây tình hình chăn nuôi trong cả nước đã và đang phát triển rất mạnh mẽ. Đặc biệt là chăn nuôi ở các nông hộ thuộc các tỉnh trong cả nước .Trong đó huyên Thuận Thành là một huyện khá điển hình trong chăn nuôi phát triển cũng rất mạnh. Chăn nuôi đã góp phần không nhỏ vào cung cấp nguồn thực phẩm trong cả nước nói chung và cải thiện đời sống cho người dân chăn nuôi nói riêng. Nhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều nguyên nhân làm chăn nuôi kém phát triển, làm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Trong đó nguyên nhân chính là do dịch bệnh gây ra, nó không chỉ gây thiệt hại trong chăn nuôi mà nó còn ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người. Đặc biệt đầu năm 2004 dịch cúm gia cầm xảy ra đã làm thiệt hại lớn trong chăn nuôi, kìm hãm sự phát triển của chăn nuôi gây thiệt hại về nền kinh tế của cả nước nói chung và của người chăn nuôi nói riệng.
Để hiểu rõ được những khó khăn, những thiệt hại trong chăn nuôi do dịch bệnh gây ra và từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ thích hợp, chúng tôi tiến hành đề tài: “Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm và biện pháp phòng trị bệnh ở các nông hộ xã Ninh Xá - huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh”.
2. Mục đích
2.1. Mục đích
Nắm được thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi ở xã Ninh Xá.
Hiểu được tình hình dịch bệnh xảy ra ở gia súc, gia cầm tại xã và nhận thức của người chăn nuôi trong phòng trừ dịch bệnh cho chăn nuôi cho đàn gia súc và gia cầm.
Đề ra được các biện pháp phòng trừ dịch bệnh cho đàn gia súc và gia cầm tại xã nhằm phát triển chăn nuôi tại xã nhằm phát triển chăn nuôi tại xã.
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Vài nét cơ bản về hệ thống nông nghiệp
1.1. Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là một phương thức hoạt động của con người được tiến hành trên cơ sở các điều kiện tự nhiên và xã hội sản xuất được tiến hành trêb cơ sở các điều kiện tự nhiên và xã hội sản xuất ra lương thực – thực phẩm như: len, sợi, vải, củi đốt và các vật liệu khác bằng sự lựa chọn sử dụng có định hướng cây trồng và vật nuôi ( Cao Liêm, 1990).
1.2. Khái niệm hệ thống nông nghiệp
Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện về không gian và sự phối kết hợp giữa các ngành sản xuất với kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn nhu cầu. Nó thể hiện một sự tác động qua lại giữa hệ thống sinh thái, sinh học và môi trường tự nhiên và một đại diện về hệ thống xã hội văn hoá, thông qua hoạt động sản xuất, xuất phát từ thành quả kỹ thuật ( Phạm Chí Thành, 1996).
2. Mô hình nông nghiệp.
Hệ thống nông nghiệp của Đào Thế Tuấn, 1989.
Trong mô hình của Đào Thế Tuấn cho thấy các mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố bên trong hệ thống nông nghiệp.
Mô hình
 








Các ý kiến mới nhất