SKKN SINH HỌC 6

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 10h:25' 11-03-2026
Dung lượng: 7.6 MB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 10h:25' 11-03-2026
Dung lượng: 7.6 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
0
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………………………
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 6
VẬN DỤNG KIẾN THỨC THỰC TẾ CHỦ ĐỀ ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG MÔN KHOA
HỌC TỰ NHIÊN 6 CÁNH DIỀU NHẰM NĂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC, PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀO CUỘC
SỐNG CHO HỌC SINH
TÁC GIẢ:………………………………………..
TRƯỜNG …………………………………….
, tháng….. năm…..
2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………………………
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 6
VẬN DỤNG KIẾN THỨC THỰC TẾ CHỦ ĐỀ ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG MÔN KHOA
HỌC TỰ NHIÊN 6 CÁNH DIỀU NHẰM NĂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC, PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀO CUỘC
SỐNG CHO HỌC SINH
TÁC GIẢ:………………………………………..
TRƯỜNG THCS………………………………….
1
I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng đa dạng, với xu thế toàn
cầu hóa lôi cuốn sự hội nhập của mọi quốc gia trên thế giới. Những thay đổi và
phát triển liên tục ở mọi khía cạnh của cuộc sống đã đặt ra những thách thức cho
ngành giáo dục trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu mới của thời đại.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ
học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học”.
Vì thế, để thực hiện tốt về mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục
và Đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, chúng ta cần có nhận thức đúng về bản
chất của sự đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
người học. Trong đó, năng lực vận dụng kiến thức là 1 trong 10 năng lực chung
của học sinh được đề cập đến trong Chương trình giáo dục phổ thông mới. Mục
tiêu chính của đổi mới giáo dục là tạo ra những con người đáp ứng được yêu cầu
của xã hội. Vì vậy cần luyện tập cho học sinh biết phát hiện và giải quyết vấn đề
trong học tập, trong cuộc sống và cả trong cộng đồng.
Từ những năm 1960, giáo viên Việt Nam đã làm quen với thuật ngữ “dạy
học nêu vấn đề”, nhưng cho đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo. Trước hết,
cần tập cho học sinh khả năng phát hiện vấn đề từ một tình huống trong học tập
hoặc thực tế. Đây là một khả năng có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi người và
không dễ dàng gì có được. Sự thành đạt của mỗi người không chỉ tùy thuộc vào
năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tế mà còn phải biết
giải quyết nó một cách hợp lí. Vì vậy, ngay từ khi còn ở ngồi trên ghế nhà trường,
học sinh cần phải được luyện tập năng lực vận dụng kiến thức trong thực tế.
Khoa học tự nhiên là môn học mới trong nội dung đào tạo lớp 6. Đây là
môn học đặc biệt vì xây dựng dựa trên quan điểm dạy học tích hợp nền tảng kiến
2
thức của nhiều môn gồm: Vật lý, Hoá học, Sinh học và Khoa học Trái đất. Bên cạnh
đó, môn này còn lồng ghép một số nội dung giáo dục như giáo dục kỹ thuật, sức
khoẻ, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững...
Đối tượng nghiên cứu của môn Khoa học tự nhiên gần gũi với đời sống
hằng ngày của học sinh. Thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành, thí
nghiệm môn Khoa học tự nhiên giúp học sinh khám phá thế giới tự nhiên, phát
triển nhận thức, tư duy logic và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế.
Môn Khoa học tự nhiên hình thành, phát triển ở học sinh năng lực khoa học
tự nhiên, bao gồm các năng lực thành phần: Năng lực nhận thức khoa học tự
nhiên; Năng lực tìm hiểu tự nhiên; Năng lực vận dụng kiến thức khoa học vào
thực tế
Trong chương trình, chủ đề dạy học gắn với thực tế được thiết kế dựa trên
vấn đề thực tế kết hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học. Trong quá trình dạy
học, giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề thông qua các nhiệm vụ học
tập tại lớp kết hợp với nhiệm vụ học tập tại nhà, kết hợp lý thuyết và thực hành,
thực tế và gần gũi học sinh. Kết quả học tập là hình thành năng lực vận dụng kiến
thức vào thực tế cho học sinh.
Qua nhiều năm dạy học, tôi luôn mong muốn làm thế nào để học sinh của
mình năng động sáng tạo hơn, hứng thú trong học tập, giờ học bớt căng thẳng,
bớt áp lực, làm sao để các em có cảm giác “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”,
để rồi thông qua mỗi giờ học các em sẽ nhận được kĩ năng giải quyết một số vấn
đề thực tế chứ không chỉ là những kiến thức khô khan.
Việc giải quyết những vấn đề thực tế giúp người học thấy được các biểu
hiện của kiến thức trong thực tế, đồng thời tích lũy được kinh nghiệm về cách
thức xây dựng kiến thức và vận dụng chúng phục vụ cho đời sống con người. Từ
đó học sinh tiếp cận với thực tế, thực hành, huy động tổng hợp kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm sẵn có và cảm xúc của cá nhân để tương tác trực tiếp với đối
tượng học tập, giải quyết nhiệm vụ nhận thức, từ đó tích lũy những kinh nghiệm
mới. Những kinh nghiệm mới này được chuyển hóa thành tri thức và kĩ năng mới,
kinh nghiệm mới, hiểu biết mới, năng lực mới, thái độ và giá trị mới của người
học.
3
Với sự quan trọng của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực
tế cho học sinh, đồng thời để đảm đảm mục tiêu môn học và để mỗi giờ dạy môn
Khoa học tự nhiên sôi nổi, học sinh không còn cảm thấy căng thẳng mà rất háo
hức mong đợi, học sinh trong lớp hoạt động tích cực và đồng đều, các em mạnh
dạn trình bày ý kiến, nêu thắc mắc,… từ đó các em tự chiếm lĩnh kiến thức, ghi
nhớ một cách bền vững, áp dụng kiến thức tốt hơn do đó mà kết quả học tập
cũng được nâng cao, tôi mạnh dạn xây dựng biện pháp “Vận dụng kiến thức
thực tế chủ đề đa dạng thế giới sống môn khoa học tự nhiên 6 cánh diều nhằm
năng cao chất lượng dạy học, phát triển năng lực vận dụng kiến thức khoa học
tự nhiên vào cuộc sống cho học sinh”.
1.2. Mục tiêu
Hình thành phát triển ở học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế
thông qua môn Khoa học tự nhiên 8 phân môn Sinh học, giúp học sinh nhận thức
rõ vai trò của môn học trong thực tế để học sinh hứng thú trong mỗi giờ học.
Đồng thời góp phần cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát
triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung. Phát triển được năng
lực tư duy, năng lực tự học cũng như năng lực làm việc với tập thể của học sinh.
Không những giúp cho kết quả học tập của học sinh được nâng cao trong quá
trình học tập mà còn tạo ra các kĩ năng làm việc cho học sinh sau khi ra trường đi
làm, phát triển bản thân.
1.3. Đối tượng và Phương pháp thực hiện
a. Phạm vi nghiên cứu
Trường ..........................................................., khối 10, môn Khoa học tự
nhiên, chủ đề Năng lượng khoa học tự nhiên.
b. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh các lớp 10A1 và 10A2.
c. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lí thuyết: sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích,
tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá, trong tổng quan cơ sở lí luận của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tế: quan sát, điều tra, trao đổi kinh nghiệm
với giáo viên về thực trạng dạy học tích hợp của giáo viên nhằm phát triển năng
lực vận dụng kiến thức vào thực tế cho học sinh trong dạy học môn Khoa học tự
4
nhiên lớp 6 chủ đề Đa dạng thế giới sống. Dùng thực nghiệm sư phạm để đánh giá
kết quả điều tra.
- Phương pháp xử lí thông tin: dùng phương pháp thống kê toán học xử lí
kết quả thực nghiệm sư phạm.
II. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
a. Cơ sở lý luận về dạy học vận dụng kiến thức thực tế
Dạy học Khoa học tự nhiên gắn liền với thực tế là mong muốn của rất nhiều
giáo viên bởi Khoa học tự nhiên là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với cuộc
sống con người. Nếu học sinh thấy được sự gần gũi giữa kiến thức bộ môn với
thực tế các em sẽ yêu thích môn Khoa học tự nhiên hơn, hứng thú tìm hiểu khoa
học, có thêm kĩ năng sống, ý thức bảo vệ môi trường tốt hơn và có năng vận dụng
kiến thức tốt hơn. Theo tôi, việc đưa các kiến thức Khoa học tự nhiên gắn liền với
thực tế trong quá trình dạy học đem lại nhiều lợi ích:
- Học sinh tiếp nhận kiến thức đó một cách tự nhiên, nhớ kiến thức được lâu
hơn, hiểu được tầm quan trọng của kiến thức trong thực tế, từ đó tăng hứng thú học
tập và tìm hiểu kiến thức.
- Kích thích học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng thực tế đời sống, đặt
các giả thuyết và nghiên cứu.
- Có kiến thức thực tế sẽ thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành
trong nhà trường với thực tế đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phương
châm “ học đi đôi với hành”.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc gắn bài học với các nội dung có
liên quan tới thực tế còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Nhiều bài tập Khoa học tự
nhiên còn rất xa vời thực tế cuộc sống và sản xuất, quá chú trọng đến các tính toán
phức tạp, các giả thuyết xa vời. Để phần nào đáp ứng được nhu cầu đổi mới
phương pháp giảng dạy và học tập môn Khoa học tự nhiên Trung học cơ sở theo
hướng gắn với thực tế nên trong đề tài tôi tuyển chọn và xây dựng thêm một số
kiến thức lý thuyết và bài tập Khoa học tự nhiên dạng này, đồng thời đưa chúng
vào trong dạy học với phương pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao hứng thú
học tập cho học sinh Trung học cơ sở.
b. Cơ sở lý luận về năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế
- Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế
5
+ Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế là khả năng của cá nhân có thể
thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động dựa trên kiến thức, kinh
nghiệm đã có của bản thân hoặc tìm tòi, khám phá kiến thức mới để giải quyết
được các vấn đề thực tế một cách có hiệu quả
+ Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế là khả năng của bản thân người
học huy động, sửdụng những kiến thức, kĩ năng đã học trên lớp hoặc học qua trải
nghiệm thực tế của cuộc sốngđể giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình
huống đa dạng và phức tạp của đời sốngmột cách hiệu quả và có khả năng biến đổi
nó [6].
- Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức
vào thực tế cho người học
- Sự hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế giúp
học sinh hiểu và nắm chắc nội dung cơ bản của bài học. Từ đó học sinh có thể mở
rộng và nâng cao những kiến thức xã hội của mình.
- Sự hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế giúp
học sinh hình thành kỹ năng giao tiếp, tổ chức, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác,
hoà nhập cộng đồng.
- Sự hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế giúp
giáo viên có thể đánh giá một cách khá chính xác khả năng tiếp thu của học sinh và
trình độ tư duy của học sinh, tạo điều kiện cho việc phân loại học sinh một cách
chính xác. Giáo viên có thể trực tiếp uốn nắn những kiến thức sai lệch, không
chuẩn xác, định hướng kiến thức cần thiết cho học sinh.
Một trong những biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực
tế hiệu quả nhất cho học sinh là vận dụng kiến thức từ môn học để giải quyết
những vấn đề thực tế có liên quan qua các ví dụ, câu hỏi, bài tập có nội dung thực
tế, đôi khi từ những vấn đề thực tế sau khi học sinh giải quyết, học sinh tự tìm hiểu
được những kiến thức mới của môn học. Đó là lí do tôi đưa ra biện pháp này.
2.2. Thực trạng
Trong quá trình dạy học ở trường Trung học cơ sở ………………, tôi nhận
thấy rằng: Kiến thức của học sinh còn hời hợt, thiếu vững chắc, chưa liên hệ với
thực tế sinh động của sản xuất và đời sống. Nhiều học sinh chưa nắm chắc các khái
niệm Khoa học tự nhiên cơ bản, chưa hiểu được các hiện tượng Khoa học tự nhiên
thông thường xảy ra trong đời sống và sản xuất, học sinh chưa biết liên hệ với kiến
thức đã học để giải thích. học sinh tiếp thu kiến thức ở lớp còn thụ động, ít suy
6
nghĩ về bài học, thuộc bài một cách máy móc, nên còn lúng túng khi phải độc lập
vận dụng kiến thức của mình. Về nhà học sinh học bài còn nặng về học thuộc lòng.
Giáo viên ít liên hệ kiến thức Khoa học tự nhiên với thực tế. Do cách thi cử
có ảnh hưởng quan trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu
có nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tế. Do vậy, đa số giáo viên chỉ đưa
những kiến thức Khoa học tự nhiên thực tế vào các hoạt động ngoại khóa, còn
những tiết học tuyền thụ kiến thức mới thì ít đưa vào hoặc tiết luyện tập, ôn tập,
tổng kết chuẩn bị cho các kì kiểm tra thì giáo viên chỉ tập trung các kĩ năng khác
có nội dung thuần túy Khoa học tự nhiên để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài
kiểm tra.
Chính vì thế vốn hiểu biết thực tế của học sinh về các hiện tượng có liên
quan đến Khoa học tự nhiên trong đời sống hàng ngày còn ít.
Giải pháp của chúng tôi đưa ra là thiết kế và sử dụng bài tập thực tế trong
các bài học nhiều hơn, có thể dùng trong nhiều trường hợp như nghiên cứu tài liệu
mới, củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kiểm tra, đánh giá kiến
thức.
2.3. Các biện pháp thực hiện
Một trong những biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào
thực tế hiệu quả nhất cho học sinh là cho học vận dụng kiến thức từ môn học để
giải quyết những vấn đề thực tế có liên quan trong các ví dụ, câu hỏi, bài tập có
nội dung thục tế hay thực hiện dự án thực tế, đôi khi từ những vấn đề thực tế sau
khi học sinh giải quyết, học sinh tự tìm hiểu được những kiến thức mới của môn
học. Đó là lí do tôi đưa ra một số biện pháp sau:
Biện pháp 1. Xây dựng các câu hỏi, bài tập, ví dụ có nội dung thực tế vào trong
bài học
a. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi, bài tập, ví dụ thực tế
- Phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại:
+ Trong một câu hỏi, bài tập, ví dụ Khoa học tự nhiên thực tế, bên cạnh nội
dung kiến thức, còn có những dữ liệu thực tế. Những dữ liệu đó cần phải được đưa
vào một cách chính xác, không tuỳ tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán.
+ Nên đưa những thông tin đã được cập nhật mới nhất, hiện đại nhất, không
sử dụng những kiến thức cũ, lạc hậu.
7
- Phải gần gũi với kinh nghiệm của học sinh: Những vấn đề thực tế có liên
quan đến Khoa học tự nhiên thì rất nhiều và rộng. Nếu câu hỏi, bài tập, ví dụ thực
tế có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm đời sống và môi trường
xung quanh học sinh thì sẽ tạo động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi tiếp nhận và giải
quyết vấn đề.
- Phải sát với nội dung học tập: Các câu hỏi, bài tập, ví dụ thực tế cần có nội
dung sát với chương trình mà học sinh được học. Nếu câu hỏi, bài tập, ví dụ thực tế
có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức thì sẽ không tạo được động lực cho học
sinh để giải câu hỏi, bài tập, ví dụ đó.
b. Quy trình các bước thực hiện lồng ghép câu hỏi, bài tập, ví dụ liên quan đến
vấn đề thực tế
+ Bước 1: Xác định mục tiêu bài học.
+ Bước 2: Lựa chọn nội dung lồng ghép từ ngân hàng các câu hỏi có liên hệ
thực tế, tham khảo thông tin thực tế có liên quan đến bài học để đưa vào bài học.
+ Bước 3: Lựa chọn hoạt động để lồng ghép phù hợp.
+ Bước 4: Thiết kế hoạt động dạy học.
c. Tiến trình dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh
+ Bước 1: Đặt vấn đề. Giáo viên hoặc học sinh phát hiện vấn đề, nhận dạng
vấn đề, nêu vấn đề cần giải quyết.
+ Bước 2: Tạo tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề thường xuất hiện
khi: nảy sinh mâu thuẫn giữa điều học sinh đã biết và điều đang gặp phải, gặp tình
huống bế tắc trước nội dung mới hay gặp tình huống, xuất phát từ nhu cầu nhận
thức tại sao.
+ Bước 3: Giải quyết vấn đề. Giáo viên hoặc học sinh đề xuất cách giải
quyết vấn đề khác nhau (nêu giả thuyết khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã đề
ra (kiến thức giả thuyết).
+ Bước 4: Kết luận vấn đề. Phân tích để chọn cách giải quyết đúng (lựa chọn
giả thuyết đúng và loại bỏ giả thuyết sai). Nêu kiến thức hoặc kĩ năng, thái độ thu
nhận được từ giải quyết vấn đề trên.
d. Một số biện pháp lồng ghép trong quá trình dạy học
- Lồng ghép vào hoạt động khởi động: Lồng ghép vấn đề liên quan đến thực
tiễn vào hoạt động khởi động nhằm tăng hứng thú học tập, kết nối kiến thức bài cũ
và bài mới từ đó để kích thích học sinh chiếm lĩnh kiến thức.
8
- Lồng ghép vào hoạt động hình thành kiến thức: Lồng ghép vấn đề liên
quan đến thực tiễn vào hoạt động hình thành kiến thức nhằm tăng hứng thú học
tập bài mới, từ đó để kích thích học sinh chủ động, sáng tạo trong lĩnh hội kiến
thức .
- Lồng ghép vào hoạt động củng cố: Lồng ghép vấn đề thực tiễn sau khi kết
thúc bài học để học sinh củng cố kiến thức và vận dụng kiến thức đã học giải quyết
các vấn đề trong thực tiễn. Sau khi học xong bài nhóm halogen ta lồng ghép một số
câu hỏi theo các mức độ nhận thức để củng cố mở rộng kiến thức.
Biện pháp 2. Xây dựng các tình huống có nội dung thực tế vào trong bài học
- Sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp học sinh nắm
vững kiến thức, hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập khoa học.
- Giáo viên cũng cần sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học mà ở đó
học sinh được đặt vào tình huống thực tế.
- Học sinh thông qua các bài tập, tình huống được tự mình trải nghiệm, lĩnh
hội kiến thức và giải quyết vấn đề thực tế thông qua kiến thức đã học, qua đó vừa
chiếm lĩnh được kiến thức khoa học, vừa có thể giải thích được các vấn đề thực tế
địa phương liên quan hoặc đánh giá các vấn đề thực tế, đề xuất các biện pháp khả
thi để giải quyết vấn đề.
Ưu điểm của các phương pháp dạy học này là trong giờ học giáo viên đã tạo
được hứng thú cho người học, kích thích sự ham muốn được khám phá cho người
học, giáo viên chủ động trong việc tổ chức dạy học và không mất nhiều thời gian.
Hạn chế của biện pháp dạy học này là người học cần phải có khả năng liên
tưởng, quan sát, tư duy trừu tượng và khái quát hóa tốt; một số vấn đề thực tế
tích hợp nhiều kiến thức liên quan nên mất nhiều thời gian để giải thích, chứng
minh.
Biện pháp 3. Xây dựng mô hình Giáo dục STEM – STEM Education
Giáo dục liên môn kết hợp linh hoạt giữa việc giảng dạy kiến thức và rèn
luyện kỹ năng thực hành. Với mô hình giáo dục STEM, học sinh sẽ được áp dụng
những lý thuyết đã học về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, toán học vào thực tế
thông qua việc giải quyết những vấn đề cụ thể. Điều này khiến những kiến thức
đã học được ghi nhớ và vận dụng một cách linh hoạt trong thực tế đời
sống. Ngoài việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, thông qua mô hình giáo dục
9
STEM sẽ góp phần vào việc giáo dục, phát triển các kỹ năng cho học sinh như: kỹ
năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy – phản biện, kỹ năng làm
việc cá nhân và làm việc nhóm,… Những kỹ năng quan trọng này không chỉ giúp
học sinh hoàn thành môn học mà còn là trang bị cho cho các học sinh nền tảng
vững chắc cho công việc và cuộc sống sau này.
2.4. Thực nghiệm sư phạm
Biện pháp nêu trên đã được áp dụng tại ................................................. Kết
quả cho thấy đã giúp học sinh xác định đúng đắn mục tiêu học tập; lập kế hoạch và
thực hiện cách học; và đánh giá, điều chỉnh cách học nhằm tự học và tự nghiên cứu
một cách hiệu quả và có chất lượng.
Học sinh phát hiện và làm rõ được vấn đề; đề xuất, lựa chọn, thực hiện và
đánh giá được các giải pháp giải quyết vấn đề; nhận ra, hình thành và triển khai
được các ý tưởng mới; và có tư duy độc lập.
Học sinh có khả năng sử dụng và quản lí các phương tiện, công cụ của công
nghệ thông tin phù hợp chuẩn mực đạo đức để phát hiện và giải quyết vấn đề trong
môi trường công nghệ tri thức; học tập, tự học và hợp tác.
Học sinh phân tích phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập
môn Khoa học tự nhiên. Xác định được và đề xuất được giải pháp giải quyết vấn
đề đã phát hiện.
Học sinh yêu thích môn Khoa học tự nhiên, hiểu được ứng dụng các kiến
thức đã học trong thực tế cuộc sống.
Học sinh được định hướng nghiên cứu khoa học và tham gia vào nghiên cứu
khoa học để nâng cao kiến thức, nuôi dưỡng đam mê, năng lực nghiên cứu khoa
học từ khi còn học phổ thông.
Tạo mối liên kết trách nhiệm trong đào nghiên cứu khoa học của toàn xã hội,
tạo ra một hệ sinh thái giáo dục toàn diện từ thầy cô, gia đình, nhà trường, các nhà
quản lý giáo dục, các cơ sở đào tạo,...
Sau một thời gian áp dụng biện pháp ở các lớp 6A1 và 6A2 trong năm học
2023 – 2024, thu được kết quả như sau:
Bảng. Kết quả khảo sát, đánh giá mức độ yêu thích môn Khoa học tự nhiên
STT
Lớp
Tổng số
học sinh
1
6A1
45
Trước khi áp dụng
biện pháp
9
20%
Sau khi áp dung
biện pháp
27
60%
10
2
6A2
45
90
80
70
60
50
40
30
20
10
0
12
26.67%
37
82.22%
82.22
60
26.67
20
Lớp 6A1
Trước
Sau
Lớp 6A2
Hình. Kết quả khảo sát, đánh giá mức độ yêu thích môn Khoa học tự nhiên
Kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện giải pháp ở lớp 6A1 và 6A2 cho
thấy, số lượng học sinh yêu thích môn Khoa học tự nhiên, có thái độ học tập tích
cực và khả năng giải quyết tình huống thông qua các bài học có xu hướng tăng lên
rõ rệt
Bảng. Khảo sát mức độ tiến bộ của học sinh qua kết quả bài kiểm tra chủ đề
STT
Lớp
Tỷ lệ học sinh các mức học lực
Tổng số
học sinh
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
Trước khi áp dụng sáng kiến
1
6A1
45
28.26%
36.96%
21.74%
13.04%
0%
2
6A2
45
38.3%
36.17%
10.64%
10.64%
4.26%
Sau khi áp dụng sáng kiến
1
6A1
45
30.43%
45.65%
23.91%
0%
0%
2
6A2
45
40.43%
31.91%
27.66%
0%
0%
11
Hình. Khảo sát mức độ tiến bộ trong học tập của học sinh lớp 6A1
Hình. Khảo sát mức độ tiến bộ trong học tập của học sinh lớp 6A2
Trên đây, là một số kết quả đạt được thông qua một vài nội dung khảo sát áp
dụng đối với 02 lớp 8. Trên cơ sở kết quả khảo sát, chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng,
phát triển biện pháp và đưa ra các giải pháp cải tiến bổ sung nhằm phục vụ tốt nhất
cho hoạt động dạy, học và hướng nghiệp cho học sinh, giúp học sinh phát huy tối
12
đa kiến thức, năng lực, kỹ năng cũng như phát triển, hình thành thái độ tích cực và
cảm xúc tốt đẹp.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Ưu điểm và hạn chế của biện pháp
Qua việc áp dụng bài tập thực tế cho học sinh trong một số tiết học Khoa
học tự nhiên tôi thấy đã đạt được một số kết qua sau:
* Đối với giáo viên:
- Không mất quá nhiều thời gian chuẩn bị, thời gian của tiết dạy mà giáo
viên và học sinh vẫn đảm bảo được nội dung kiến thức bài học hoàn thành được
bài tập sách giáo khoa
- Tạo được tình huống có vấn đề rất sinh động và hấp dẫn để học sinh khắc
sâu kiến thức. Từ đó làm cho không khí lớp học thoải mái, kích thích được tinh
thần học tập của học sinh, đặc biệt với những em sức học yếu, chậm, nhút nhát.
- Thực hiện đổi m
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………………………
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 6
VẬN DỤNG KIẾN THỨC THỰC TẾ CHỦ ĐỀ ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG MÔN KHOA
HỌC TỰ NHIÊN 6 CÁNH DIỀU NHẰM NĂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC, PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀO CUỘC
SỐNG CHO HỌC SINH
TÁC GIẢ:………………………………………..
TRƯỜNG …………………………………….
, tháng….. năm…..
2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………………………
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 6
VẬN DỤNG KIẾN THỨC THỰC TẾ CHỦ ĐỀ ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG MÔN KHOA
HỌC TỰ NHIÊN 6 CÁNH DIỀU NHẰM NĂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC, PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀO CUỘC
SỐNG CHO HỌC SINH
TÁC GIẢ:………………………………………..
TRƯỜNG THCS………………………………….
1
I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng đa dạng, với xu thế toàn
cầu hóa lôi cuốn sự hội nhập của mọi quốc gia trên thế giới. Những thay đổi và
phát triển liên tục ở mọi khía cạnh của cuộc sống đã đặt ra những thách thức cho
ngành giáo dục trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu mới của thời đại.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ
học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học”.
Vì thế, để thực hiện tốt về mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục
và Đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, chúng ta cần có nhận thức đúng về bản
chất của sự đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
người học. Trong đó, năng lực vận dụng kiến thức là 1 trong 10 năng lực chung
của học sinh được đề cập đến trong Chương trình giáo dục phổ thông mới. Mục
tiêu chính của đổi mới giáo dục là tạo ra những con người đáp ứng được yêu cầu
của xã hội. Vì vậy cần luyện tập cho học sinh biết phát hiện và giải quyết vấn đề
trong học tập, trong cuộc sống và cả trong cộng đồng.
Từ những năm 1960, giáo viên Việt Nam đã làm quen với thuật ngữ “dạy
học nêu vấn đề”, nhưng cho đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo. Trước hết,
cần tập cho học sinh khả năng phát hiện vấn đề từ một tình huống trong học tập
hoặc thực tế. Đây là một khả năng có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi người và
không dễ dàng gì có được. Sự thành đạt của mỗi người không chỉ tùy thuộc vào
năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tế mà còn phải biết
giải quyết nó một cách hợp lí. Vì vậy, ngay từ khi còn ở ngồi trên ghế nhà trường,
học sinh cần phải được luyện tập năng lực vận dụng kiến thức trong thực tế.
Khoa học tự nhiên là môn học mới trong nội dung đào tạo lớp 6. Đây là
môn học đặc biệt vì xây dựng dựa trên quan điểm dạy học tích hợp nền tảng kiến
2
thức của nhiều môn gồm: Vật lý, Hoá học, Sinh học và Khoa học Trái đất. Bên cạnh
đó, môn này còn lồng ghép một số nội dung giáo dục như giáo dục kỹ thuật, sức
khoẻ, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững...
Đối tượng nghiên cứu của môn Khoa học tự nhiên gần gũi với đời sống
hằng ngày của học sinh. Thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành, thí
nghiệm môn Khoa học tự nhiên giúp học sinh khám phá thế giới tự nhiên, phát
triển nhận thức, tư duy logic và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế.
Môn Khoa học tự nhiên hình thành, phát triển ở học sinh năng lực khoa học
tự nhiên, bao gồm các năng lực thành phần: Năng lực nhận thức khoa học tự
nhiên; Năng lực tìm hiểu tự nhiên; Năng lực vận dụng kiến thức khoa học vào
thực tế
Trong chương trình, chủ đề dạy học gắn với thực tế được thiết kế dựa trên
vấn đề thực tế kết hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học. Trong quá trình dạy
học, giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề thông qua các nhiệm vụ học
tập tại lớp kết hợp với nhiệm vụ học tập tại nhà, kết hợp lý thuyết và thực hành,
thực tế và gần gũi học sinh. Kết quả học tập là hình thành năng lực vận dụng kiến
thức vào thực tế cho học sinh.
Qua nhiều năm dạy học, tôi luôn mong muốn làm thế nào để học sinh của
mình năng động sáng tạo hơn, hứng thú trong học tập, giờ học bớt căng thẳng,
bớt áp lực, làm sao để các em có cảm giác “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”,
để rồi thông qua mỗi giờ học các em sẽ nhận được kĩ năng giải quyết một số vấn
đề thực tế chứ không chỉ là những kiến thức khô khan.
Việc giải quyết những vấn đề thực tế giúp người học thấy được các biểu
hiện của kiến thức trong thực tế, đồng thời tích lũy được kinh nghiệm về cách
thức xây dựng kiến thức và vận dụng chúng phục vụ cho đời sống con người. Từ
đó học sinh tiếp cận với thực tế, thực hành, huy động tổng hợp kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm sẵn có và cảm xúc của cá nhân để tương tác trực tiếp với đối
tượng học tập, giải quyết nhiệm vụ nhận thức, từ đó tích lũy những kinh nghiệm
mới. Những kinh nghiệm mới này được chuyển hóa thành tri thức và kĩ năng mới,
kinh nghiệm mới, hiểu biết mới, năng lực mới, thái độ và giá trị mới của người
học.
3
Với sự quan trọng của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực
tế cho học sinh, đồng thời để đảm đảm mục tiêu môn học và để mỗi giờ dạy môn
Khoa học tự nhiên sôi nổi, học sinh không còn cảm thấy căng thẳng mà rất háo
hức mong đợi, học sinh trong lớp hoạt động tích cực và đồng đều, các em mạnh
dạn trình bày ý kiến, nêu thắc mắc,… từ đó các em tự chiếm lĩnh kiến thức, ghi
nhớ một cách bền vững, áp dụng kiến thức tốt hơn do đó mà kết quả học tập
cũng được nâng cao, tôi mạnh dạn xây dựng biện pháp “Vận dụng kiến thức
thực tế chủ đề đa dạng thế giới sống môn khoa học tự nhiên 6 cánh diều nhằm
năng cao chất lượng dạy học, phát triển năng lực vận dụng kiến thức khoa học
tự nhiên vào cuộc sống cho học sinh”.
1.2. Mục tiêu
Hình thành phát triển ở học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế
thông qua môn Khoa học tự nhiên 8 phân môn Sinh học, giúp học sinh nhận thức
rõ vai trò của môn học trong thực tế để học sinh hứng thú trong mỗi giờ học.
Đồng thời góp phần cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát
triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung. Phát triển được năng
lực tư duy, năng lực tự học cũng như năng lực làm việc với tập thể của học sinh.
Không những giúp cho kết quả học tập của học sinh được nâng cao trong quá
trình học tập mà còn tạo ra các kĩ năng làm việc cho học sinh sau khi ra trường đi
làm, phát triển bản thân.
1.3. Đối tượng và Phương pháp thực hiện
a. Phạm vi nghiên cứu
Trường ..........................................................., khối 10, môn Khoa học tự
nhiên, chủ đề Năng lượng khoa học tự nhiên.
b. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh các lớp 10A1 và 10A2.
c. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lí thuyết: sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích,
tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá, trong tổng quan cơ sở lí luận của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tế: quan sát, điều tra, trao đổi kinh nghiệm
với giáo viên về thực trạng dạy học tích hợp của giáo viên nhằm phát triển năng
lực vận dụng kiến thức vào thực tế cho học sinh trong dạy học môn Khoa học tự
4
nhiên lớp 6 chủ đề Đa dạng thế giới sống. Dùng thực nghiệm sư phạm để đánh giá
kết quả điều tra.
- Phương pháp xử lí thông tin: dùng phương pháp thống kê toán học xử lí
kết quả thực nghiệm sư phạm.
II. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
a. Cơ sở lý luận về dạy học vận dụng kiến thức thực tế
Dạy học Khoa học tự nhiên gắn liền với thực tế là mong muốn của rất nhiều
giáo viên bởi Khoa học tự nhiên là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với cuộc
sống con người. Nếu học sinh thấy được sự gần gũi giữa kiến thức bộ môn với
thực tế các em sẽ yêu thích môn Khoa học tự nhiên hơn, hứng thú tìm hiểu khoa
học, có thêm kĩ năng sống, ý thức bảo vệ môi trường tốt hơn và có năng vận dụng
kiến thức tốt hơn. Theo tôi, việc đưa các kiến thức Khoa học tự nhiên gắn liền với
thực tế trong quá trình dạy học đem lại nhiều lợi ích:
- Học sinh tiếp nhận kiến thức đó một cách tự nhiên, nhớ kiến thức được lâu
hơn, hiểu được tầm quan trọng của kiến thức trong thực tế, từ đó tăng hứng thú học
tập và tìm hiểu kiến thức.
- Kích thích học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng thực tế đời sống, đặt
các giả thuyết và nghiên cứu.
- Có kiến thức thực tế sẽ thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành
trong nhà trường với thực tế đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phương
châm “ học đi đôi với hành”.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc gắn bài học với các nội dung có
liên quan tới thực tế còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Nhiều bài tập Khoa học tự
nhiên còn rất xa vời thực tế cuộc sống và sản xuất, quá chú trọng đến các tính toán
phức tạp, các giả thuyết xa vời. Để phần nào đáp ứng được nhu cầu đổi mới
phương pháp giảng dạy và học tập môn Khoa học tự nhiên Trung học cơ sở theo
hướng gắn với thực tế nên trong đề tài tôi tuyển chọn và xây dựng thêm một số
kiến thức lý thuyết và bài tập Khoa học tự nhiên dạng này, đồng thời đưa chúng
vào trong dạy học với phương pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao hứng thú
học tập cho học sinh Trung học cơ sở.
b. Cơ sở lý luận về năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế
- Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế
5
+ Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế là khả năng của cá nhân có thể
thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động dựa trên kiến thức, kinh
nghiệm đã có của bản thân hoặc tìm tòi, khám phá kiến thức mới để giải quyết
được các vấn đề thực tế một cách có hiệu quả
+ Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế là khả năng của bản thân người
học huy động, sửdụng những kiến thức, kĩ năng đã học trên lớp hoặc học qua trải
nghiệm thực tế của cuộc sốngđể giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình
huống đa dạng và phức tạp của đời sốngmột cách hiệu quả và có khả năng biến đổi
nó [6].
- Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức
vào thực tế cho người học
- Sự hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế giúp
học sinh hiểu và nắm chắc nội dung cơ bản của bài học. Từ đó học sinh có thể mở
rộng và nâng cao những kiến thức xã hội của mình.
- Sự hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế giúp
học sinh hình thành kỹ năng giao tiếp, tổ chức, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác,
hoà nhập cộng đồng.
- Sự hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế giúp
giáo viên có thể đánh giá một cách khá chính xác khả năng tiếp thu của học sinh và
trình độ tư duy của học sinh, tạo điều kiện cho việc phân loại học sinh một cách
chính xác. Giáo viên có thể trực tiếp uốn nắn những kiến thức sai lệch, không
chuẩn xác, định hướng kiến thức cần thiết cho học sinh.
Một trong những biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực
tế hiệu quả nhất cho học sinh là vận dụng kiến thức từ môn học để giải quyết
những vấn đề thực tế có liên quan qua các ví dụ, câu hỏi, bài tập có nội dung thực
tế, đôi khi từ những vấn đề thực tế sau khi học sinh giải quyết, học sinh tự tìm hiểu
được những kiến thức mới của môn học. Đó là lí do tôi đưa ra biện pháp này.
2.2. Thực trạng
Trong quá trình dạy học ở trường Trung học cơ sở ………………, tôi nhận
thấy rằng: Kiến thức của học sinh còn hời hợt, thiếu vững chắc, chưa liên hệ với
thực tế sinh động của sản xuất và đời sống. Nhiều học sinh chưa nắm chắc các khái
niệm Khoa học tự nhiên cơ bản, chưa hiểu được các hiện tượng Khoa học tự nhiên
thông thường xảy ra trong đời sống và sản xuất, học sinh chưa biết liên hệ với kiến
thức đã học để giải thích. học sinh tiếp thu kiến thức ở lớp còn thụ động, ít suy
6
nghĩ về bài học, thuộc bài một cách máy móc, nên còn lúng túng khi phải độc lập
vận dụng kiến thức của mình. Về nhà học sinh học bài còn nặng về học thuộc lòng.
Giáo viên ít liên hệ kiến thức Khoa học tự nhiên với thực tế. Do cách thi cử
có ảnh hưởng quan trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu
có nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tế. Do vậy, đa số giáo viên chỉ đưa
những kiến thức Khoa học tự nhiên thực tế vào các hoạt động ngoại khóa, còn
những tiết học tuyền thụ kiến thức mới thì ít đưa vào hoặc tiết luyện tập, ôn tập,
tổng kết chuẩn bị cho các kì kiểm tra thì giáo viên chỉ tập trung các kĩ năng khác
có nội dung thuần túy Khoa học tự nhiên để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài
kiểm tra.
Chính vì thế vốn hiểu biết thực tế của học sinh về các hiện tượng có liên
quan đến Khoa học tự nhiên trong đời sống hàng ngày còn ít.
Giải pháp của chúng tôi đưa ra là thiết kế và sử dụng bài tập thực tế trong
các bài học nhiều hơn, có thể dùng trong nhiều trường hợp như nghiên cứu tài liệu
mới, củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kiểm tra, đánh giá kiến
thức.
2.3. Các biện pháp thực hiện
Một trong những biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào
thực tế hiệu quả nhất cho học sinh là cho học vận dụng kiến thức từ môn học để
giải quyết những vấn đề thực tế có liên quan trong các ví dụ, câu hỏi, bài tập có
nội dung thục tế hay thực hiện dự án thực tế, đôi khi từ những vấn đề thực tế sau
khi học sinh giải quyết, học sinh tự tìm hiểu được những kiến thức mới của môn
học. Đó là lí do tôi đưa ra một số biện pháp sau:
Biện pháp 1. Xây dựng các câu hỏi, bài tập, ví dụ có nội dung thực tế vào trong
bài học
a. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi, bài tập, ví dụ thực tế
- Phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại:
+ Trong một câu hỏi, bài tập, ví dụ Khoa học tự nhiên thực tế, bên cạnh nội
dung kiến thức, còn có những dữ liệu thực tế. Những dữ liệu đó cần phải được đưa
vào một cách chính xác, không tuỳ tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán.
+ Nên đưa những thông tin đã được cập nhật mới nhất, hiện đại nhất, không
sử dụng những kiến thức cũ, lạc hậu.
7
- Phải gần gũi với kinh nghiệm của học sinh: Những vấn đề thực tế có liên
quan đến Khoa học tự nhiên thì rất nhiều và rộng. Nếu câu hỏi, bài tập, ví dụ thực
tế có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm đời sống và môi trường
xung quanh học sinh thì sẽ tạo động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi tiếp nhận và giải
quyết vấn đề.
- Phải sát với nội dung học tập: Các câu hỏi, bài tập, ví dụ thực tế cần có nội
dung sát với chương trình mà học sinh được học. Nếu câu hỏi, bài tập, ví dụ thực tế
có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức thì sẽ không tạo được động lực cho học
sinh để giải câu hỏi, bài tập, ví dụ đó.
b. Quy trình các bước thực hiện lồng ghép câu hỏi, bài tập, ví dụ liên quan đến
vấn đề thực tế
+ Bước 1: Xác định mục tiêu bài học.
+ Bước 2: Lựa chọn nội dung lồng ghép từ ngân hàng các câu hỏi có liên hệ
thực tế, tham khảo thông tin thực tế có liên quan đến bài học để đưa vào bài học.
+ Bước 3: Lựa chọn hoạt động để lồng ghép phù hợp.
+ Bước 4: Thiết kế hoạt động dạy học.
c. Tiến trình dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh
+ Bước 1: Đặt vấn đề. Giáo viên hoặc học sinh phát hiện vấn đề, nhận dạng
vấn đề, nêu vấn đề cần giải quyết.
+ Bước 2: Tạo tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề thường xuất hiện
khi: nảy sinh mâu thuẫn giữa điều học sinh đã biết và điều đang gặp phải, gặp tình
huống bế tắc trước nội dung mới hay gặp tình huống, xuất phát từ nhu cầu nhận
thức tại sao.
+ Bước 3: Giải quyết vấn đề. Giáo viên hoặc học sinh đề xuất cách giải
quyết vấn đề khác nhau (nêu giả thuyết khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã đề
ra (kiến thức giả thuyết).
+ Bước 4: Kết luận vấn đề. Phân tích để chọn cách giải quyết đúng (lựa chọn
giả thuyết đúng và loại bỏ giả thuyết sai). Nêu kiến thức hoặc kĩ năng, thái độ thu
nhận được từ giải quyết vấn đề trên.
d. Một số biện pháp lồng ghép trong quá trình dạy học
- Lồng ghép vào hoạt động khởi động: Lồng ghép vấn đề liên quan đến thực
tiễn vào hoạt động khởi động nhằm tăng hứng thú học tập, kết nối kiến thức bài cũ
và bài mới từ đó để kích thích học sinh chiếm lĩnh kiến thức.
8
- Lồng ghép vào hoạt động hình thành kiến thức: Lồng ghép vấn đề liên
quan đến thực tiễn vào hoạt động hình thành kiến thức nhằm tăng hứng thú học
tập bài mới, từ đó để kích thích học sinh chủ động, sáng tạo trong lĩnh hội kiến
thức .
- Lồng ghép vào hoạt động củng cố: Lồng ghép vấn đề thực tiễn sau khi kết
thúc bài học để học sinh củng cố kiến thức và vận dụng kiến thức đã học giải quyết
các vấn đề trong thực tiễn. Sau khi học xong bài nhóm halogen ta lồng ghép một số
câu hỏi theo các mức độ nhận thức để củng cố mở rộng kiến thức.
Biện pháp 2. Xây dựng các tình huống có nội dung thực tế vào trong bài học
- Sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp học sinh nắm
vững kiến thức, hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập khoa học.
- Giáo viên cũng cần sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học mà ở đó
học sinh được đặt vào tình huống thực tế.
- Học sinh thông qua các bài tập, tình huống được tự mình trải nghiệm, lĩnh
hội kiến thức và giải quyết vấn đề thực tế thông qua kiến thức đã học, qua đó vừa
chiếm lĩnh được kiến thức khoa học, vừa có thể giải thích được các vấn đề thực tế
địa phương liên quan hoặc đánh giá các vấn đề thực tế, đề xuất các biện pháp khả
thi để giải quyết vấn đề.
Ưu điểm của các phương pháp dạy học này là trong giờ học giáo viên đã tạo
được hứng thú cho người học, kích thích sự ham muốn được khám phá cho người
học, giáo viên chủ động trong việc tổ chức dạy học và không mất nhiều thời gian.
Hạn chế của biện pháp dạy học này là người học cần phải có khả năng liên
tưởng, quan sát, tư duy trừu tượng và khái quát hóa tốt; một số vấn đề thực tế
tích hợp nhiều kiến thức liên quan nên mất nhiều thời gian để giải thích, chứng
minh.
Biện pháp 3. Xây dựng mô hình Giáo dục STEM – STEM Education
Giáo dục liên môn kết hợp linh hoạt giữa việc giảng dạy kiến thức và rèn
luyện kỹ năng thực hành. Với mô hình giáo dục STEM, học sinh sẽ được áp dụng
những lý thuyết đã học về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, toán học vào thực tế
thông qua việc giải quyết những vấn đề cụ thể. Điều này khiến những kiến thức
đã học được ghi nhớ và vận dụng một cách linh hoạt trong thực tế đời
sống. Ngoài việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, thông qua mô hình giáo dục
9
STEM sẽ góp phần vào việc giáo dục, phát triển các kỹ năng cho học sinh như: kỹ
năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy – phản biện, kỹ năng làm
việc cá nhân và làm việc nhóm,… Những kỹ năng quan trọng này không chỉ giúp
học sinh hoàn thành môn học mà còn là trang bị cho cho các học sinh nền tảng
vững chắc cho công việc và cuộc sống sau này.
2.4. Thực nghiệm sư phạm
Biện pháp nêu trên đã được áp dụng tại ................................................. Kết
quả cho thấy đã giúp học sinh xác định đúng đắn mục tiêu học tập; lập kế hoạch và
thực hiện cách học; và đánh giá, điều chỉnh cách học nhằm tự học và tự nghiên cứu
một cách hiệu quả và có chất lượng.
Học sinh phát hiện và làm rõ được vấn đề; đề xuất, lựa chọn, thực hiện và
đánh giá được các giải pháp giải quyết vấn đề; nhận ra, hình thành và triển khai
được các ý tưởng mới; và có tư duy độc lập.
Học sinh có khả năng sử dụng và quản lí các phương tiện, công cụ của công
nghệ thông tin phù hợp chuẩn mực đạo đức để phát hiện và giải quyết vấn đề trong
môi trường công nghệ tri thức; học tập, tự học và hợp tác.
Học sinh phân tích phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập
môn Khoa học tự nhiên. Xác định được và đề xuất được giải pháp giải quyết vấn
đề đã phát hiện.
Học sinh yêu thích môn Khoa học tự nhiên, hiểu được ứng dụng các kiến
thức đã học trong thực tế cuộc sống.
Học sinh được định hướng nghiên cứu khoa học và tham gia vào nghiên cứu
khoa học để nâng cao kiến thức, nuôi dưỡng đam mê, năng lực nghiên cứu khoa
học từ khi còn học phổ thông.
Tạo mối liên kết trách nhiệm trong đào nghiên cứu khoa học của toàn xã hội,
tạo ra một hệ sinh thái giáo dục toàn diện từ thầy cô, gia đình, nhà trường, các nhà
quản lý giáo dục, các cơ sở đào tạo,...
Sau một thời gian áp dụng biện pháp ở các lớp 6A1 và 6A2 trong năm học
2023 – 2024, thu được kết quả như sau:
Bảng. Kết quả khảo sát, đánh giá mức độ yêu thích môn Khoa học tự nhiên
STT
Lớp
Tổng số
học sinh
1
6A1
45
Trước khi áp dụng
biện pháp
9
20%
Sau khi áp dung
biện pháp
27
60%
10
2
6A2
45
90
80
70
60
50
40
30
20
10
0
12
26.67%
37
82.22%
82.22
60
26.67
20
Lớp 6A1
Trước
Sau
Lớp 6A2
Hình. Kết quả khảo sát, đánh giá mức độ yêu thích môn Khoa học tự nhiên
Kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện giải pháp ở lớp 6A1 và 6A2 cho
thấy, số lượng học sinh yêu thích môn Khoa học tự nhiên, có thái độ học tập tích
cực và khả năng giải quyết tình huống thông qua các bài học có xu hướng tăng lên
rõ rệt
Bảng. Khảo sát mức độ tiến bộ của học sinh qua kết quả bài kiểm tra chủ đề
STT
Lớp
Tỷ lệ học sinh các mức học lực
Tổng số
học sinh
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
Trước khi áp dụng sáng kiến
1
6A1
45
28.26%
36.96%
21.74%
13.04%
0%
2
6A2
45
38.3%
36.17%
10.64%
10.64%
4.26%
Sau khi áp dụng sáng kiến
1
6A1
45
30.43%
45.65%
23.91%
0%
0%
2
6A2
45
40.43%
31.91%
27.66%
0%
0%
11
Hình. Khảo sát mức độ tiến bộ trong học tập của học sinh lớp 6A1
Hình. Khảo sát mức độ tiến bộ trong học tập của học sinh lớp 6A2
Trên đây, là một số kết quả đạt được thông qua một vài nội dung khảo sát áp
dụng đối với 02 lớp 8. Trên cơ sở kết quả khảo sát, chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng,
phát triển biện pháp và đưa ra các giải pháp cải tiến bổ sung nhằm phục vụ tốt nhất
cho hoạt động dạy, học và hướng nghiệp cho học sinh, giúp học sinh phát huy tối
12
đa kiến thức, năng lực, kỹ năng cũng như phát triển, hình thành thái độ tích cực và
cảm xúc tốt đẹp.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Ưu điểm và hạn chế của biện pháp
Qua việc áp dụng bài tập thực tế cho học sinh trong một số tiết học Khoa
học tự nhiên tôi thấy đã đạt được một số kết qua sau:
* Đối với giáo viên:
- Không mất quá nhiều thời gian chuẩn bị, thời gian của tiết dạy mà giáo
viên và học sinh vẫn đảm bảo được nội dung kiến thức bài học hoàn thành được
bài tập sách giáo khoa
- Tạo được tình huống có vấn đề rất sinh động và hấp dẫn để học sinh khắc
sâu kiến thức. Từ đó làm cho không khí lớp học thoải mái, kích thích được tinh
thần học tập của học sinh, đặc biệt với những em sức học yếu, chậm, nhút nhát.
- Thực hiện đổi m
 









Các ý kiến mới nhất