Giáo án học kì 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trương thị hoa
Ngày gửi: 09h:45' 03-01-2025
Dung lượng: 559.2 KB
Số lượt tải: 152
Nguồn:
Người gửi: trương thị hoa
Ngày gửi: 09h:45' 03-01-2025
Dung lượng: 559.2 KB
Số lượt tải: 152
Số lượt thích:
0 người
Kế hoạch dạy học
KHẢ NĂNG LỚN LAO CỦA TIỂU THUYẾT
(Thời gian thực hiện: 10 từ tiết 1 đến tiết 10)
(Đọc: 06 tiết, Thực hành tiếng Việt: 01 tiết, Viết: 3 tiết; Nói và nghe: 01 tiết)
I. MỤC TIÊU CHUNG
1. Về kiến thức:
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của tiểu thuyết hiện đại như: ngôn ngữ, diễn biến
tâm lí, hành động của nhân vật,…
- Phân tích được đề tài, câu chuyện, sự kiện, nhân vật, các chi tiết tiêu biểu và mối quan hệ của
chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm tiểu thuyết; phân tích và đánh giá được sự phù hợp
của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.
2. Về năng lực:
- Nhận biết được những đặc điểm cơ bản của phong cách hiện thực trong tiểu thuyết và trong
sáng tác văn học nói chung.
- Nhận biết và phân tích được đặc điểm, tác dụng của biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ.
- Viết được văn bản nghị luận, so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.
- Biết trình bày (dưới hình thức nói) kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.
3. Về phẩm chất: Biết xây dựng các chuẩn mực giá trị trong cuộc sống; hiểu và đồng cảm với
những nỗi buồn thể hiện nhân tính và khát vọng hướng tới sự hoàn thiện của con người.
B. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
PHẦN 1: ĐỌC
Tiết 1, 2, 3 -VĂN BẢN 1: “XUÂN TÓC ĐỎ CỨU QUỐC”
( Trích “Số đỏ”) - Vũ Trọng Phụng
Thời gian thực hiện: 3 tiết
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức:
- HS nhận biết và phân tích được một số nét đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại trên các phương
diện: khả năng bao quát hiện thực đời sống; góc độ quan sát, thể hiện nhân vật và hệ thống sự
kiện, cách miêu tả nét đặc thù của ngôn ngữ nhân vật… thể hiện qua đoạn trích.
- Học sinh nhận biết và phân tích được tính chất trào phúng, giá trị hiện thực của tiểu thuyết
“Số đỏ” thể hiện qua đoạn trích
- Học sinh nhận biết và phân tích được hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp nói mỉa, nghịch
ngữ trong đoạn trích
2. Về năng lực:
- Vận dụng được những kĩ năng sau khi học xong văn bản “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” để đọc
hiểu những văn bản cùng thể loại và thực hiện nhiệm vụ thực tiễn
- Phát triển năng lực ngôn ngữ.
- Hình thành năng lực làm việc nhóm, năng lực gợi mở,…
- Phát triển khả năng tự chủ, tự học qua việc đọc và hoàn thiện phiếu học tập ở nhà.
3. Về phẩm chất: HS có thái độ phê phán tình trạng loạn chuẩn khi đánh giá các hiện tượng
đời sống và nhìn nhận con người, hướng tới việc xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1. Thiết bị dạy học: SGK, SGV Ngữ văn 12, tập một, bảng, máy tính, máy chiếu, một số tư
liệu ảnh, video clip liên quan đến tác giả Vũ Trọng Phụng, phiếu học tập.
2. Học liệu: SGK, SGV Ngữ văn 12, tập một, Tiểu thuyết “Số đỏ”, tài liệu, tranh ảnh liên
quan tác giả, tác phẩm…
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Tổ chức
Lớp
Tiết
Ngày dạy
Sĩ số
Vắng
2. Kiểm tra bài cũ:
3. Bài mới:
HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG
a. Mục tiêu: HS biết được các nội dung cơ bản của bài học cần đạt được, tạo tâm thế đọc hiểu
văn bản “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”.
b. Nội dung: HS dựa vào hiểu biết để trả lời câu hỏi: Hiểu biết của em về tiểu thuyết “Số đỏ”
của Vũ Trọng Phụng
c. Sản phẩm: Chia sẻ của HS về tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.
d. Tổ chức thực hiện: GV cho HS chia sẻ cảm nhận về tiểu thuyết “Số đỏ” và nhận xét về câu
trả lời của HS. Từ chia sẻ của HS, GV dẫn dắt vào bài học mới.
Hoạt động của GV và HS
Dự kiến sản phẩm
B1. Chuyển giao nhiệm vụ: GV cho HS xem video giới - ““Số đỏ”” là một tác
thiệu về tiểu thuyết “Số đỏ”:
phẩm để đời cho bao thế
https://www.youtube.com/watch?v=KiUaMDTiOXY
hệ - một tác phẩm sẽ
- GV đặt câu hỏi gợi mở: Em hãy nêu hiểu biết của mình về mãi là vật báu vô giá
tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.
trong nền văn học Việt
B2. Thực hiện nhiệm vụ: HS lắng nghe yêu cầu của GV
Nam. Vâng, đó là một
B3. Báo cáo thảo luận: GV mời một số HS trả lời câu hỏi
đóng góp hết sức to lớn
B4. Đánh giá kết quả thực hiện:
của nhà văn với “cái
GV nhận xét, kết luận:
nghèo gia truyền” - Vũ
- ““Số đỏ”” là một tác phẩm để đời cho bao thế hệ - một Trọng Phụng cho kho
tác phẩm sẽ mãi là vật báu vô giá trong nền văn học Việt tàng văn chương dân
Nam. Vâng, đó là một đóng góp hết sức to lớn của nhà văn tộc.
với “cái nghèo gia truyền” - Vũ Trọng Phụng cho kho tàng - Tiểu thuyết ““Số
văn chương dân tộc.
đỏ”” được đăng ở “Hà
- Tiểu thuyết ““Số đỏ”” được đăng ở “Hà Nội báo” từ số Nội báo” từ số 40 ngày
40 ngày 7/10/1936 và được in thành sách lần đầu năm 7/10/1936 và được in
1938. Tác phẩm nổi tiếng này đã được chuyển thể thành thành sách lần đầu năm
nhiều phim và kịch. Đây được xem là tác phẩm nổi tiếng 1938. Tác phẩm nổi
nhất trong sự nghiệp sáng tác của “ông vua phóng sự đất tiếng này đã được
Bắc”. ““Số đỏ”” xoay quanh nhân vật làm đảo điên Hà chuyển thể thành nhiều
Nội những năm 1930 - 1940, Xuân Tóc Đỏ - từ một thằng phim và kịch. Đây được
bé mồ côi, kiếm sống bằng đủ thứ nghề: trèo me, trèo sấu, xem là tác phẩm nổi
nhặt bóng ở sân quần vợt, quảng cáo thuốc lậu... nhờ thủ tiếng nhất trong sự
đoạn xảo trá, “nhờ thời” đã trở thành đốc tờ Xuân, nhà cải nghiệp sáng tác của
cách xã hội, giáo sư quần vợt, thậm chí là anh hùng cứu “ông vua phóng sự đất
quốc, là vĩ nhân... Sử dụng lối tương phản giữa cái đồi bại, Bắc”.
thối nát vô luân với cái hài, cái trào phúng đã giúp cuốn
tiểu thuyết thành công trong việc lột trần những “quái thai”
thời đại trong buổi giao thời. Từ đó, tác phẩm cũng đã đả
kích cay độc cái xã hội tư sản bịp bợm, đang chạy theo lối
sống văn minh rởm, hết sức lố lăng thối nát. Bên cạnh đó,
tác phẩm cũng đả kích những phong trào được thực dân
khuyến khích như: Phong trào Âu hoá, thể dục thể thao,
chấn hưng Phật giáo... Sự thành công của tác giả còn ở
việc đã xây dựng được những nhân vật trở thành điển hình
về mặt tâm lý xã hội mà cho đến tận hôm nay bóng dáng
những nhân vật ấy vẫn còn đâu đó quanh ta. Tiêu biểu đoạn
trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Nội dung 1: TÌM HIỂU TRI THỨC NGỮ VĂN
a. Mục tiêu: Học sinh nhận biết được thể loại tiểu thuyết hiện đại; Phong cách hiện thực trong
sáng tác văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng; Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch
ngữ.
b. Nội dung: HS đọc tìm hiểu phần tri thức ngữ văn trong SGK và trả lời các câu hỏi liên quan
đến nội dung của thể loại tiểu thuyết hiện đại; Phong cách hiện thực trong sáng tác văn học nói
chung và trong tiểu thuyết nói riêng; Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ.
c. Sản phầm: Câu trả lời của học sinh
d. Tổ chức thực hiện
Hoạt động của GV và HS
Dự kiến sản phẩm
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
1. Tiểu thuyết hiện đại
GV cho HS tự đọc phần tri thức ngữ văn - K/n: Tiểu thuyết thuộc loại hình tự sự, là một
trong SGK trong thời gian 3 phút
hình thức cụ thể của truyện hay truyện kể.
B2. Thực hiện nhiệm vụ:
- Tiểu thuyết có dung lượng lớn (phân biệt với
- HS đọc phần tri thức ngữ văn trong truyện ngắn, truyện vừa), có thể “phản ánh”
SGK. HS trả lời một số câu hỏi và yêu được hiện thực ở quy mô rộng, bao quát nhiều
cầu mang tính gợi mở của GV như:
cảnh đời, nhiều số phận, đề cập nhiều sự kiện
- Em đã từng học, đọc những tiểu thuyết xảy ra trong thời gian dài và ở các không gian
nào? Qua những tác phẩm ấy, em hiểu khác nhau.
được gì về thể loại tiểu thuyết?
- Tiểu thuyết tiếp cận hiện thực chủ yếu từ góc
- Nêu cách hiểu của em về mệnh đề sau độ đời tư, dành sự quan tâm đặc biệt đến số
đây: Tiểu thuyết dành sự chú ý đặc biệt phận con người cá nhân. Ở điểm này, tiểu
cho đời tư hay số phận của con người cá thuyết thường được đưa ra so sánh với sử thi,
nhân. Để hiểu rõ đặc điểm đó của tiểu một hình thức tự sự xuất hiện từ thời cổ đại, ưu
thuyết, em có thể so sánh tiểu thuyết với tiên thể hiện những vấn đề lớn của cộng đồng.
thể loại nào đã được học?
– Tiểu thuyết có thể được viết bằng văn xuôi
- Nêu một vài căn cứ theo hiểu biết của hoặc văn vần. Tuy nhiên, không phải tác phẩm
em để chứng minh rằng tiểu thuyết có rất truyện thơ nào cũng có thể được nhìn nhận là
nhiều dạng thức, thể hiện nhiều hướng tiểu thuyết, nếu trong đó, câu chuyện về con
phát triển, tìm tòi khác nhau.
người cá nhân và một số vấn đề cơ bản khác
- Theo em, người biên soạn SGK muốn thuộc về kết cấu, ngôn ngữ, sự phối hợp các
nhắm tới điều gì khi đặt tên cho bài học điểm nhìn,… không được thể hiện nổi bật. Trên
là “Khả năng lớn lao của tiểu thuyết”? vấn đề này, có cơ sở để xem Ép-ghê-nhi Ô-nhêNêu những điều mà tiểu thuyết có thể ghin (Yevgeny Onegin) của Pu-skin (Pushkin),
làm được trong khả năng của nó.
Truyện Kiều của Nguyễn Du,… là tiểu thuyết - Em hiểu thế nào về vấn đề: Tiểu thuyết thơ.
có khả năng tổng hợp cao mọi kinh - Khả năng lớn lao của tiểu thuyết:
nghiệm nghệ thuật của các thể loại văn + Tiểu thuyết có thể bao quát được bức tranh
học khác?
đời sống rộng lớn với đủ thành phần xã hội và
- Cắt nghĩa nguyên nhân khiến tiểu các sự kiện chằng chéo, phức tạp (điều này thể
thuyết thường đưa tới cho độc giả cảm hiện rõ trong đoạn trích Số đỏ).
giác “chân thật”.
+ Tiểu thuyết có thể đi sâu khám phá những bí
- Em đã biết gì về những cuộc bình chọn mật của tâm hồn con người, soi tỏ cả những
nhằm xác định “Những tiểu thuyết Việt điều có thể xem là dị thường, tưởng chừng
Nam hay nhất”, “Những tiểu thuyết nổi không thể giải thích (điều này có thể được
tiếng nhất mọi thời đại của văn học thế chứng thực qua đoạn trích Nỗi buồn chiến
giới”?
tranh).
+ Tiểu thuyết giúp người đọc hiểu rõ tính toàn
- Phong cách hiện thực là gì? So sánh vẹn của đời sống và khơi dậy ý thức tôn trọng
trong tương quan đối lập với các thể loại những cách diễn giải, đánh giá khác nhau đối
khác?
với những gì đã hoặc sẽ diễn ra trong đời sống
nhân loại.
2. Phong cách hiện thực trong sáng tác văn
học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng
- Phong cách hiện thực là khái niệm có phạm vi
- Thế nào là biện pháp tu tử nói mỉa và
nghịch ngữ?
- Nói mỉa và nghịch ngữ có mối quan hệ
như thế nào với nhau?
B3. Báo cáo thảo luận:
GV mời HS trả lời câu hỏi theo định
hướng các câu hỏi trên
B4. Đánh giá kết quả thực hiện:
HS nắm được kiến thức, hiểu và nhận
diện được một số đơn vị kiến thức cơ bản
sẽ sử dụng trong tìm hiểu văn bản và
thực hành tiếng việt, viết bài văn.
sử dụng khá rộng và nội hàm thường biến động
trong các ngữ cảnh khác nhau. Nó biểu thị nỗ
lực khái quát của các nhà lí luận, phê bình về
một kiểu tiếp cận và thể hiện nghệ thuật đối với
đời sống mang tính chất trực diện, khách quan;
gạt bỏ mọi ảo tưởng, ngộ nhận; từ chối sự tô vẽ,
“mĩ hoá”;… Theo đó, khái niệm này thường
được đặt trong thế đối lập với khái niệm phong
cách lãng mạn – một khái niệm biểu thị kiểu
tiếp cận và thể hiện nghệ thuật mang tính chất
ngược lại: coi trọng cái chủ quan; ít quan tâm
logic vận động khách quan của sự vật, sự việc;
ưa sử dụng bút pháp lí tưởng hoá;… Khái niệm
phong cách hiện thực không chỉ được dùng để
gọi tên phong cách sáng tác của các nghệ sĩ
theo chủ nghĩa hiện thực (một trào lưu văn học,
nghệ thuật phát triển mạnh mẽ ở phương Tây
trong khoảng thời gian từ những năm 30 của thế
kỉ XIX sang đến đầu thế kỉ XX) mà còn được
dùng để chỉ phong cách sáng tác của một số nhà
văn, nhà thơ thuộc các thời đại và khu vực văn
hoá, văn học khác, khi họ đề cao nguyên tắc
sáng tác bám sát những gì thực sự diễn ra trong
đời sống. Chính vì vậy, Đỗ Phủ (sống vào thời
Đường ở Trung Quốc) có thể được xem là nhà
thơ có phong cách hiện thực, phân biệt và đối
trọng với Lý Bạch (nhà thơ cùng thời) có phong
cách lãng mạn.
3. Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ
- Nói mỉa được hiểu là một phương thức ngôn
ngữ đặc biệt dùng để diễn đạt sự đánh giá
"chênh" đi, thậm chí có khi còn ngược lại so với
sự thật cần đánh giá. Chính vì thế ngôn ngữ ở
đây bao giờ cũng mang sắc thái biểu cảm rõ nét,
và thường là thái quá. Người ta thường nhận
được những câu quá khen, hoặc chê thậm tệ;
hoặc cũng có khi lẽ ra phải khen thì lại chê,
phải chê thì lại khen; và đặc biệt lại có cả những
câu tưởng chừng phi lý; Trong khẩu ngữ, nói
mỉa thường thể hiện bằng sự kéo dài hay nhấn
mạnh giọng nói. Đôi khi có kèm theo cả sự thay
đổi nét mặt, cử chỉ, dáng điệu... ở người nói.
Người nghe thường nhận ngay ra cái dáng vẻ
của ngôn ngữ mỉa mai, giễu cợt.
- Nghịch ngữ là biện pháp tu từ, theo đó, người
nói (người viết) sử dụng trong cùng một câu
hoặc một đoạn văn những từ ngữ hoặc câu có
nghĩa trái ngược nhau nhằm tạo ra cách
nói nghịch lí, bất ngờ để thể hiện được đúng
nhận xét về đối tượng được nói đến.
=> Giữa nói mỉa và nghịch ngữ có sự nhập
nhằng nhất định vì khi nói mỉa, người ta có thể
sử dụng nghịch ngữ. Trong khí quyển của nói
mỉa, một nghịch ngữ đôi khi bị đồng hoá, khiến
người ta không còn cho đó là nghịch ngữ nữa.
Sự thực, cần phân định rõ: nói mỉa không phải
là một đơn vị ngôn ngữ mà là một cơ chế tạo lời
nhằm tạo ra sự mâu thuẫn giữa phần hiển ngôn
và phần hàm ngôn
Nội dung 2: ĐỌC VĂN BẢN 1: XUÂN TÓC ĐỎ CỨU QUỐC
2.1. Tìm hiểu khái quát
a. Mục tiêu:
- Nắm bắt được những kiến thức chung về tác giả Vũ Trọng Phụng, hoàn cảnh xã hội đương
thời, tiểu thuyết Số đỏ và đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”.
- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đọc hiểu văn bản, hướng dẫn đọc và rèn luyện các chiến
thuật đọc.
b. Nội dung: HS sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời câu hỏi liên quan đến
nội dung bài học
c. Sản phẩm: HS tiếp thu kiến thức và câu trả lời của GV.
d. Tổ chức thực hiện:
Hoạt động của Gv và Hs
Dự kiến sản phẩm
Hoạt động: Đọc
I. Tìm hiểu chung
B1. Chuyển giao nhiệm 1. Tác giả
vụ
a. Cuộc đời
Sử dụng phương pháp dự - Vũ Trọng Phụng (1912 - 1939) quê ở tỉnh Hưng Yên nhưng
án:
sinh ra và sống chủ yếu ở Hà Nội.
- GV giao HS đọc, tìm - Ông bước vào làng báo, làng văn từ rất sớm (bắt đầu có truyện
hiểu trước ở nhà những đăng báo từ năm 1930), dùng ngòi bút để kiếm sống và chống
thông tin chính về tác giả, chọi một cách khó khăn với tình cảnh nghèo túng, bệnh tật triền
tác phẩm, đoạn trích
miên.
(Hs thảo luận nhóm 2 b. Sự nghiệp sáng tác
nhóm theo PHT số 1, 2)
* Tác phẩm tiêu biểu
B2. Thực hiện nhiệm vụ - Cạm bẫy người (phóng sự, 1933), Kĩ nghệ lấy Tây (phóng sự,
- Hs tìm hiểu thông tin về 1934), Cơm thầy cơm cô (phóng sự, 1936), Giông tố (tiểu
tác giả và tác phẩm, đoạn thuyết, 1936), “Số đỏ” (tiểu thuyết, 1936), Vỡ đê (tiểu thuyết,
trích - chuẩn bị phiếu học 1936), Lấy nhau vì tình (tiểu thuyết, 1937), Trúng số độc đắc
tập ở nhà
(tiểu thuyết, 1938),...
B3. Báo cáo thảo luận
* Đặc điểm sáng tác
- HS cử đại diện lên trình - Các tác phẩm đều toát lên sự khinh bỉ sâu sắc cái xã hội đương
bày nội dung đã chuẩn bị với cảm hứng vạch trần sự thật; xây dựng những hình tượng
ở nhà
nhân vật sắc nét, vừa mang tính đặc thù của một thời đại cụ thể,
B4. Đánh giá kết quả vừa thể hiện rõ bản chất một số trạng huống tồn tại phổ quát của
thực hiện:
cuộc sống.
- GV nhận xét và đánh giá 2. Văn bản
bằng diểm
a.Tiểu thuyết “Số đỏ”
- Tiểu thuyết “Số đỏ” ra mắt lần đầu tiên vào năm 1936. Đến
năm 1938, tác phẩm được in thành sách.
- Đây là tác phẩm đỉnh cao trong văn nghiệp của Vũ Trọng
Phụng và có vị trí quan trọng trong nền tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại.
* Thể loại chính: Tiểu thuyết
* Phương thức biểu đạt: Tự sự
* Tóm tắt
- Nhân vật chính của tác phẩm là Xuân, biệt danh là Xuân Tóc
Đỏ. Từ một đứa trẻ mồ côi, lêu lổng, lang thang, đã trải qua đủ
“nghề” thường được xem là "mạt hạng”, Xuân Tóc Đỏ dần bước
chân vào xã hội “thượng lưu” nhờ sự nâng đỡ đầy toan tính của
bà Phó Đoan – một me Tây dâm đãng.
- Đầu tiên, Xuân Tóc Đỏ đến làm việc ở tiệm may Âu hoá. Hắn
được vợ chồng Văn Minh và những người trong gia đình này
hoặc vô tình hoặc cố ý tôn lên làm "nhà cải cách xã hội”, “đốc
tờ Xuân", "giáo sư quần vợt.
- Với đủ danh hiệu “vẻ vang” ấy và với sự láu lỉnh, cơ hội cố
hữu, Xuân Tóc Đỏ khiến cô Tuyết say mê và được nhiều nhân
vật khác sợ hãi, nể trọng, nhờ cậy, ghi ơn.
- Xuân Tóc Đỏ đạt đến vinh quang tột đỉnh vào thời điểm vua
nước Xiêm sang thăm Việt Nam nhằm thắt chặt quan hệ hữu
nghị giữa hai quốc gia, giữa bối cảnh nền chính trị thế giới đang
có những biến động khó lường.
- Với “thành tích” để thua quán quân quần vợt người Xiêm
trong trận thi đấu thể thao mang tính ngoại giao, Xuân Tóc Đỏ
được tung hô là “vĩ nhân”, "anh hùng cứu quốc” và tiếp tục
được một số tổ chức danh giá chào đón, mời làm thành viên
danh dự.
b. Đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
- Xuất xứ và vị trí: “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” là đoạn trích nửa
đầu của chương XX - chương cuối cùng của tác phẩm “Số đỏ”.
- Bố cục
+ Phần 1 từ đầu đến "nhà quán quân quần vợt Xiêm La ra thử
tài với Xuân Tóc Đỏ.": Tình hình chuẩn bị cho cuộc thi đấu thể
thao đặc biệt.
+ Phần 2: tiếp theo đến "các đức vua và quý quan của ba chính
phủ về Sở Toàn quyền.": Diễn biến kịch tính của "ván quần"
giữa Xuân Tóc Đỏ và quán quân quần vợt Xiêm La.
+ Phần 3: phần còn lại: Màn hùng biện của Xuân Tóc Đỏ và sự
tung hô của dân chúng.
2.2. Khám phá văn bản
a. Mục tiêu: Chỉ ra và phân tích được một số nét đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại trên các
phương diện: khả năng bao quát hiện thực đời sống; góc độ quan sát, nhân vật và hệ thống sự
kiện; cách miêu tả nét đặc thù của ngôn ngữ nhân vật;... thể hiện qua đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ
cứu quốc”.
b. Nội dung:
- Tập trung làm rõ các vấn đề Câu chuyện và sự kiện - Tình huống và nhân vật trào phúng Người kể chuyện và điểm nhìn - Ngôn ngữ - Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng qua
các nhiệm vụ cụ thể.
c. Sản phẩm: Kết quả thực hiện của HS được ghi vào vở.
d. Tổ chức thực hiện:
Hoạt động của Gv và Hs
Dự kiến sản phẩm
Hoạt động: Khám phá VB
II. Khám phá văn bản
Nhiệm vụ 1:
1. Tìm hiểu về câu chuyện và sự kiện
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
- Câu chuyện: “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
GV hướng dẫn HS đọc một số - Sự kiện chính:
đoạn tiêu biểu với giọng đọc + Tình hình chuẩn bị cho cuộc thi đấu thể thao đặc
hóm hỉnh, châm biếm
biệt: Sân quần Rollandes Varreau của Hà thành đã ghi
- Trả lời câu hỏi: Văn bản kể được một chỗ rẽ cho lịch sử thể thao khi giá vào cửa là
câu chuyện gì? Tóm tắt các sự ba đồng hạng bét nhưng người xem cũng trên ba
kiện chính được kể trong đoạn nghìn.
trích “Xuân Tóc Đỏ cứu / Tất cả mọi người đều đã thua và họ đều hi vọng vào
quốc”. (Hs thảo luận nhóm Xuân Tóc Đỏ. Tất cả các quan chức cấp cao của hai
đôi theo PHT số 3)
nước đã an toạ nhưng Tổng cục thể thao Bắc Kì đang
B2. Thực hiện nhiệm vụ
lo sốt vó khi không thấy hai nhà đương kim Hải và
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
Nhiệm vụ 2:
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt câu hỏi:
- Xác định tình huống của
đoạn trích. Tình huống nào là
chính? Vì sao? (Hs thảo luận
nhóm đôi theo PHT số 4)
- Theo lời tác giả: “Số đỏ tập
trung cao độ thể hiện sự dị
dạng của con người trong một
xã hội đang tư sản hoá cuối
mùa”. Sự “dị dạng của con
người” thể hiện như thế nào
qua các nhân vật trong đoạn
trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc?
(Hs thảo luận nhóm 4-6 em
theo PHT số 4).
Thụ.
/ Cuối cùng, để chữa cháy họ mời quán quân Xiêm La
đấu với Xuân Tóc Đỏ.
+ Diễn biến kịch tính của “ván quần” giữa Xuân Tóc
Đỏ và quán quân quần vợt Xiêm La:
/ Trong trận đấu, Xuân đã chiếm được ưu thế hơn so
với quán quân Xiêm.
/ Điều đó khiến vua Xiêm tức giận và doạ dẫm chiến
tranh sẽ nổ ra nếu Xuân thắng, ông Giám đốc chính trị
Đông Dương đã phải tìm ông Văn Minh để bảo Xuân
Tóc Đỏ nhường quán quân Xiêm La.
+ Màn hùng biện của Xuân Tóc Đỏ và sự tung hô của
dân chúng: Xuân nghe vậy thì nhường bàn cuối khiến
công chúng, khán giả sững sờ.
/ Ban đầu họ có vẻ đả đảo Xuân nhưng với với sự lẻo
mép, khôn lỏi của mình, Xuân đã thuyết phục quần
chúng bằng tài diễn thuyết.
/ Hắn tỏ vẻ trịch thượng và tự cho rằng mình đã bỏ qua
lòng tự trọng mà cứu đất nước. Lúc này, quần chúng
lại coi hắn như người hùng cứu quốc thực thụ và tán
tụng, ngợi ca.
2. Tình huống và nhân vật trào phúng
a. Tình huống
- Tình huống 1: Hai nhà quán quân cũ là Hải và Thụ
mất tích, dẫn đến nguy cơ trận chung kết quần vợt phải
hoãn, đồng thời cũng tạo cơ hội cho Xuân Tóc Đỏ
được ra sân tỉ thí với quán quân Xiêm La.
- Tình huống 2: Xuân Tóc Đỏ thắng điểm quán quân
Xiêm La, vô tình đẩy hai nước Việt, Xiêm đến miệng
hố chiến tranh – một tình trạng nguy cấp phải giải
quyết kịp thời.
- Tình huống 3: Đông đảo khán giả đả đảo Xuân, đòi
được giải thích, buộc Xuân và ông bầu Văn Minh phải
biện xảo để xoay ngược thế cờ.
=> Trong ba tình huống nêu trên, tình huống chính là
tình huống 2. Bởi vì, tình huống này đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo nên kịch tính và bước ngoặt của
toàn bộ sự kiện được kể, nó liên quan chặt chẽ đến cao
trào của sự kiện, nói lên “Số đỏ” của nhân vật Xuân,
phơi bày toàn bộ sự bịp bợm của màn kịch đang diễn
ra.
b. Nhân vật trào phúng
- Tên gọi: ông TYPN, Văn Minh, Xuân Tóc Đỏ, cô
Tuyết, nhân vật đám đông,…: tên nhân vật độc đáo,
mang ngụ ý, gây ấn tượng mạnh, gắn với ngoại hình,
đặc điểm, tính cách đặc biệt,… kích thích sự tò mò,
hứng thú của người đọc.
– Hành động:
+ Nhân vật Xuân: “kêu rằng cái phần danh dự của gia
đình cũng còn có cơ cứu chữa được, vì mọi người còn
hi vọng vào Xuân” và không được tác giả giới thiệu
một cách trực tiếp mà chỉ xuất hiện gián tiếp qua lời kể
của nhân vật khác nhưng ta có thể thấy mọi người đều
đang rất mong chờ, hi vọng và trao trọn niềm tin cho
nhân vật này. Điều đó cho thấy đây là một nhân vật có
quyền lực, tài giỏi vô cùng nên mới được trao niềm tin
để cứu vớt lại danh dự của một gia đình.
+ Ông Văn Minh: sung sướng vì người của mình được
đại diện cho Hà Thành để giữ cái danh dự cho Tổ
quốc, trước nhà vô địch Xiêm La vì như vậy sẽ làm
tăng danh dự cho bản thân.
+ Vua Xiêm: “lộ ra mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị
thiên tử thế thiên hành đạo”; “Vua Xiêm tức thì lôi
trong túi áo ra cái bản đồ Ấn Ðộ Chi Na do chính phủ
Xiêm vẽ lại” và thể hiện rõ nét cơn thịnh nộ của vua
Xiêm khi đứng trước bàn thắng của Xuân Tóc Đỏ, lối
miêu tả cường điệu càng nhấn mạnh mức độ nghiêm
trọng của sự kiện.
+ Ông Giám đốc chính trị Đông Dương “sau khi tai
nghe một hiệu lệnh của quan Toàn quyền, tức thì bỏ
khán đài, chạy xuống sân đi tìm ông bầu của Xuân
Tóc Đỏ” và Hành động của quan chức đã tạo ra một
bức tranh hài hước và mỉa mai về tình hình cứu quốc,
cứu quốc bằng phương án nhường đối thủ, đây là một
lối suy nghĩ hèn nhát, thiển cận.
+ Nhân vật đám đông: “Tuy giá vé vào cửa là ba đồng
hạng bét, số công chúng sáng hôm sau ấy, cũng trên
ba nghìn”; “rất nhiều người hâm mộ vì đến chậm,
không mua được vé, bèn hoá ra phẫn uất và chết một
cách rất thể thao, nghĩa là tự tử dần bằng thuốc phiện
không có giấm thanh, hút vào phổi”; “công chúng còn
đứng lại, đông nghìn nghịt, tốp này định chia buồn với
Xuân, tốp kia định trách cứ Xuân” và Gợi khung cảnh
hỗn loạn, đầy nghịch lí qua ngôn ngữ châm biếm, mỉa
mai xen lẫn cường điệu để mô tả trạng thái “thôi miên,
lên đồng”, ở đây là cả một cộng đồng xã hội bị một cá
nhân, tổ chức lôi kéo “dắt mũi”.
Lời nói: “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế!”;
“Hỡi công chúng! Mi chưa hiểu rõ những lẽ cực kì to
tát nó khiến ta phải đành nhường giải cho nhà vô địch
Xiêm La!”; “Xuân thua không phải bởi vô tài! Chắc
thiên hạ đã mục kích rất rõ. Vậy xin thiên hạ hãy bình
tĩnh nghe tại sao người của tôi lại phải thua”; “A bas
Xuân! A bas Xuân! Des explications” mang màu sắc
châm biếm, mỉa mai xen lẫn cường điệu, phê phán
=> Bằng ngòi bút trào phúng, lối viết “ngấu nghiến”,
nhịp điệu dồn dập, giọng văn phảng phất thái độ khinh
miệt, nhà văn đã tạo ra những nhân vật dị biệt, khác lạ
từ tên gọi đến tính cách. Họ đại diện cho một xã hội lố
lăng, kệch cỡm, “chó đểu” thời bấy giờ
Nhiệm vụ 3
c. Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện trước công chúng
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
+ Nội dung: đề cập đến những hậu quả của một xung
GV đặt câu hỏi:
đột Việt – Xiêm và nhấn mạnh rằng cuộc chiến sẽ kéo
- Phân tích nét đặc sắc của theo nạn đói và thảm hoạ cho nhân loại.
cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện + Ngôn từ: “Hỡi công chúng! Mi chưa hiểu rõ những
trước công chúng. (HS thảo lẽ cực kì to tát nó khiến ta đành phải nhường giải cho
luận theo PHT số 5).
nhà vô địch Xiêm La”; “Mi đã biết đâu cái lòng hi
B2. Thực hiện nhiệm vụ
sinh cao thượng vô cùng”, “điểm cốt yếu của người
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
Nhiệm vụ 4
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt câu hỏi:
- Xác định ngôi kể, điểm nhìn
đã được nhà văn lựa chọn và ý
nghĩa của ngôi kể, điểm nhìn
ấy trong việc làm sáng tỏ bản
chất hiện thực theo khám phá
và quan niệm của nhà văn?
B2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
Nhiệm vụ 5
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt câu hỏi:
- Nêu nhận xét khái quát về sự
tương đồng và khác biệt giữa
ngôn ngữ của người kể
chuyện và ngôn ngữ nhân vật
ở đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu
quốc?
B2. Thực hiện nhiệm vụ
xả thân cứu nước không phải là chỉ nghĩ đến mình…”
chứa đầy các yếu tố đối nghịch, hội tụ các mối tương
quan xã hội phức tạp. Chúng xung đột và hoà hợp với
nhau một cách kì dị, phản ánh đúng bản chất kì dị của
xã hội đương thời.
+ Giọng điệu: kiêu ngạo, hùng biện, bề trên,… bản
chất khôn lỏi, cơ hội của Xuân.
+ Hành động: nó vỗ vào ngực (tự cao, tự mãn, đề cao
bản thân); nó đấm tay xuống không khí (sự kiên định);
nó giơ cao tay lên (sự quyết tâm);…
=> Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện có dáng dấp của
một màn hài kịch, thể hiện rõ cảm quan của Vũ Trọng
Phụng về hiện thực. Xã hội đảo điên đã tạo cơ hội cho
Xuân - một kẻ “hạ lưu” vô học nhưng láu cá - đã chui
sâu, leo cao và đạt được cơ hội “thăng tiến” khó ngờ.
Theo ông, tất cả những gì đang diễn ra trong xã hội
đều là một tấn trò não nuột, xen lẫn bi và hài.
3. Ngôi kể và điểm nhìn
- Ngôi kể và điểm nhìn: Đoạn trích được kể ở ngôi thứ
ba với điểm nhìn bên ngoài.
- Ý nghĩa:
+ Tạo điều kiện bao quát toàn cảnh sự việc, đẩy nhanh
nhịp độ kể và làm nổi bật tính chất “hề” của toàn bộ
những gì được kể.
+ Tuy chọn điểm nhìn bên ngoài để miêu tả, tái hiện
sự việc nhưng vị trí đặt điểm nhìn lại luôn được dịch
chuyển, soi chiếu ở nhiều góc khác nhau (bao quát, cụ
thể, xa, gần,…) để người đọc thấy được bức tranh tổng
thể về những gì đang diễn ra: từ cảnh náo nhiệt trên
sân vận động đến cảnh rỉ tai ám muội giữa các “đấng”
tai to mặt lớn trong ban tổ chức sự kiện; từ cảnh rừng
người hò reo đến cảnh đặc tả từng động tác tay, chân
đầy “biểu cảm” của nhân vật chính - Xuân Tóc Đỏ.
+ Mô tả và đánh giá hiện thực từ nhiều góc độ, phê
phán và chỉ ra những vấn đề xuất hiện trong thời buổi
“cũ - mới tranh nhau”, “Á - Âu xáo trộn”, mớ hỗn độn
tạp nham mà tác giả cho rằng đó là “cái xã hội đen tối,
thối nát”. Điểm nhìn toàn tri giúp nhà văn vạch trần
những mảng tối trong hiện thực đồng thời thể hiện sự
khinh bỉ đối với xã hội lúc bấy giờ.
=> Như vậy, việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn tuỳ
thuộc đặc điểm của đối tượng được miêu tả, thể hiện.
Đây là sự lựa chọn phù hợp, có ý đồ nghệ thuật rõ
ràng.
4. Ngôn ngữ
- Sự tương đồng: Thể hiện rõ sắc thái mỉa mai, trào
phúng, mặc dù ở lời nhân vật, sự mỉa mai không mang
tính chủ động. Do được đặt trong bối cảnh “hề” nên
ngay cả khi lời nhân vật thể hiện tâm trạng hoảng hốt
(lời nhân vật Văn Minh) hay lâm li, phấn khích (lời
nhân vật Xuân Tóc Đỏ), thì tính chất mỉa mai vẫn
được bộc lộ rất rõ, hoà điệu với tính chất mỉa mai
trong lời người kể chuyện.
– Sự khác biệt:
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
Ngôn ngữ của người
Ngôn ngữ của
kể chuyện
nhân vật
– Là lời người kể chuyện. – Là lời nhân vật.
Nhiệm vụ 6
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt câu hỏi
Phong cách hiện thực của Vũ
Trọng Phụng thể hiện như thế
nào qua đoạn trích?
B2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
5. Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng
- Ý thức phơi bày những mặt trái, mặt nhố nhăng của
hiện thực luôn thường trực. Trong con mắt của ông, xã
hội đương thời đầy rẫy những biểu hiện tha hoá, suy
đồi, dường như vô phương cứu chữa.
- Sắc sảo trong việc xây dựng những chân dung biếm
hoạ, luôn tìm thấy những chi tiết độc đáo có thể lột
trần chân tướng của sự vật, hiện tượng và con người
thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau.
- Thể hiện một khả năng tưởng tượng, hư cấu đặc biệt
khi liên tiếp dựng lên những tình huống phi lí, những
mẫu nhân vật quái dị với hành động và ngôn ngữ khác
thường. Tuy nhiên, mọi sự tưởng tượng, hư cấu của
ông đều dựa trên nền tảng hiện thực.
- Để tăng cường khả năng bao quát hiện thực cho trang
viết, nhà văn dụng công trong việc hư cấu nên các tình
huống - sự kiện có sự góp mặt của đủ hạng người
trong xã hội; sử dụng bối cảnh lịch sử và xã hội thực
tế; ngôn từ sắc bén, mô tả tinh tế để thể hiện sự nhạy
bén trong việc quan sát và phê phán xã hội thông qua
các biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ, ẩn dụ,…;
giọng văn đanh thép, mỉa mai để tố cáo sự thối nát của
xã hội đương thời; sử dụng kiểu liên hệ so sánh đầy
tính bất ngờ nhắm tới nhiều đối tượng cùng một lúc
– Thực hiện chức năng
thuật kể, miêu tả, giới
thiệu nhân vật, sự việc.
– Thể hiện góc nhìn và
quan điểm đánh giá riêng.
– Phát ra trong những
hoàn cảnh, tình huống
giao tiếp cụ thể.
– Bộc lộ cảm xúc, suy
nghĩ của nhân vật.
2.3. Tổng kết
a. Mục tiêu: Nhận biết và phân tích được tính chất trào phúng, giá trị hiện thực của tiểu thuyết
“Số đỏ”, một kiệt tác hoạt kê của tiểu thuyết Việt Nam trong thế kỉ XX, thể hiện qua đoạn
trích.
b. Nội dung:
Câu 1. Nêu chủ đề và giá trị hiện thực của đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”.
Câu 2. Hãy tìm những dấu hiệu của tiểu thuyết hoạt kê được thể hiện qua đoạn trích.
Câu 3. Hãy nêu cách đọc hiểu một văn bản thuộc thể loại tiểu thuyết hoạt kê.
c. Sản phẩm: Câu trả lời của học sinh.
d. Tổ chức thực hiện:
Hoạt động của Gv và Hs
Dự kiến sản phẩm
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
III. Tổng kết
GV đặt câu hỏi
1. Chủ đề và giá trị hiện thực
- Nêu chủ đề và giá trị hiện a. Chủ đề
thực của đoạn trích Xuân Tóc - Sự tha hoá về nhân cách của những kẻ đại diện cho
Đỏ cứu quốc?
xã hội “chó đểu”; sự xuống cấp của cả hệ thống, một
- Hãy tìm những dấu hiệu c...
KHẢ NĂNG LỚN LAO CỦA TIỂU THUYẾT
(Thời gian thực hiện: 10 từ tiết 1 đến tiết 10)
(Đọc: 06 tiết, Thực hành tiếng Việt: 01 tiết, Viết: 3 tiết; Nói và nghe: 01 tiết)
I. MỤC TIÊU CHUNG
1. Về kiến thức:
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của tiểu thuyết hiện đại như: ngôn ngữ, diễn biến
tâm lí, hành động của nhân vật,…
- Phân tích được đề tài, câu chuyện, sự kiện, nhân vật, các chi tiết tiêu biểu và mối quan hệ của
chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm tiểu thuyết; phân tích và đánh giá được sự phù hợp
của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.
2. Về năng lực:
- Nhận biết được những đặc điểm cơ bản của phong cách hiện thực trong tiểu thuyết và trong
sáng tác văn học nói chung.
- Nhận biết và phân tích được đặc điểm, tác dụng của biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ.
- Viết được văn bản nghị luận, so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.
- Biết trình bày (dưới hình thức nói) kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.
3. Về phẩm chất: Biết xây dựng các chuẩn mực giá trị trong cuộc sống; hiểu và đồng cảm với
những nỗi buồn thể hiện nhân tính và khát vọng hướng tới sự hoàn thiện của con người.
B. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
PHẦN 1: ĐỌC
Tiết 1, 2, 3 -VĂN BẢN 1: “XUÂN TÓC ĐỎ CỨU QUỐC”
( Trích “Số đỏ”) - Vũ Trọng Phụng
Thời gian thực hiện: 3 tiết
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức:
- HS nhận biết và phân tích được một số nét đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại trên các phương
diện: khả năng bao quát hiện thực đời sống; góc độ quan sát, thể hiện nhân vật và hệ thống sự
kiện, cách miêu tả nét đặc thù của ngôn ngữ nhân vật… thể hiện qua đoạn trích.
- Học sinh nhận biết và phân tích được tính chất trào phúng, giá trị hiện thực của tiểu thuyết
“Số đỏ” thể hiện qua đoạn trích
- Học sinh nhận biết và phân tích được hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp nói mỉa, nghịch
ngữ trong đoạn trích
2. Về năng lực:
- Vận dụng được những kĩ năng sau khi học xong văn bản “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” để đọc
hiểu những văn bản cùng thể loại và thực hiện nhiệm vụ thực tiễn
- Phát triển năng lực ngôn ngữ.
- Hình thành năng lực làm việc nhóm, năng lực gợi mở,…
- Phát triển khả năng tự chủ, tự học qua việc đọc và hoàn thiện phiếu học tập ở nhà.
3. Về phẩm chất: HS có thái độ phê phán tình trạng loạn chuẩn khi đánh giá các hiện tượng
đời sống và nhìn nhận con người, hướng tới việc xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1. Thiết bị dạy học: SGK, SGV Ngữ văn 12, tập một, bảng, máy tính, máy chiếu, một số tư
liệu ảnh, video clip liên quan đến tác giả Vũ Trọng Phụng, phiếu học tập.
2. Học liệu: SGK, SGV Ngữ văn 12, tập một, Tiểu thuyết “Số đỏ”, tài liệu, tranh ảnh liên
quan tác giả, tác phẩm…
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Tổ chức
Lớp
Tiết
Ngày dạy
Sĩ số
Vắng
2. Kiểm tra bài cũ:
3. Bài mới:
HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG
a. Mục tiêu: HS biết được các nội dung cơ bản của bài học cần đạt được, tạo tâm thế đọc hiểu
văn bản “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”.
b. Nội dung: HS dựa vào hiểu biết để trả lời câu hỏi: Hiểu biết của em về tiểu thuyết “Số đỏ”
của Vũ Trọng Phụng
c. Sản phẩm: Chia sẻ của HS về tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.
d. Tổ chức thực hiện: GV cho HS chia sẻ cảm nhận về tiểu thuyết “Số đỏ” và nhận xét về câu
trả lời của HS. Từ chia sẻ của HS, GV dẫn dắt vào bài học mới.
Hoạt động của GV và HS
Dự kiến sản phẩm
B1. Chuyển giao nhiệm vụ: GV cho HS xem video giới - ““Số đỏ”” là một tác
thiệu về tiểu thuyết “Số đỏ”:
phẩm để đời cho bao thế
https://www.youtube.com/watch?v=KiUaMDTiOXY
hệ - một tác phẩm sẽ
- GV đặt câu hỏi gợi mở: Em hãy nêu hiểu biết của mình về mãi là vật báu vô giá
tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.
trong nền văn học Việt
B2. Thực hiện nhiệm vụ: HS lắng nghe yêu cầu của GV
Nam. Vâng, đó là một
B3. Báo cáo thảo luận: GV mời một số HS trả lời câu hỏi
đóng góp hết sức to lớn
B4. Đánh giá kết quả thực hiện:
của nhà văn với “cái
GV nhận xét, kết luận:
nghèo gia truyền” - Vũ
- ““Số đỏ”” là một tác phẩm để đời cho bao thế hệ - một Trọng Phụng cho kho
tác phẩm sẽ mãi là vật báu vô giá trong nền văn học Việt tàng văn chương dân
Nam. Vâng, đó là một đóng góp hết sức to lớn của nhà văn tộc.
với “cái nghèo gia truyền” - Vũ Trọng Phụng cho kho tàng - Tiểu thuyết ““Số
văn chương dân tộc.
đỏ”” được đăng ở “Hà
- Tiểu thuyết ““Số đỏ”” được đăng ở “Hà Nội báo” từ số Nội báo” từ số 40 ngày
40 ngày 7/10/1936 và được in thành sách lần đầu năm 7/10/1936 và được in
1938. Tác phẩm nổi tiếng này đã được chuyển thể thành thành sách lần đầu năm
nhiều phim và kịch. Đây được xem là tác phẩm nổi tiếng 1938. Tác phẩm nổi
nhất trong sự nghiệp sáng tác của “ông vua phóng sự đất tiếng này đã được
Bắc”. ““Số đỏ”” xoay quanh nhân vật làm đảo điên Hà chuyển thể thành nhiều
Nội những năm 1930 - 1940, Xuân Tóc Đỏ - từ một thằng phim và kịch. Đây được
bé mồ côi, kiếm sống bằng đủ thứ nghề: trèo me, trèo sấu, xem là tác phẩm nổi
nhặt bóng ở sân quần vợt, quảng cáo thuốc lậu... nhờ thủ tiếng nhất trong sự
đoạn xảo trá, “nhờ thời” đã trở thành đốc tờ Xuân, nhà cải nghiệp sáng tác của
cách xã hội, giáo sư quần vợt, thậm chí là anh hùng cứu “ông vua phóng sự đất
quốc, là vĩ nhân... Sử dụng lối tương phản giữa cái đồi bại, Bắc”.
thối nát vô luân với cái hài, cái trào phúng đã giúp cuốn
tiểu thuyết thành công trong việc lột trần những “quái thai”
thời đại trong buổi giao thời. Từ đó, tác phẩm cũng đã đả
kích cay độc cái xã hội tư sản bịp bợm, đang chạy theo lối
sống văn minh rởm, hết sức lố lăng thối nát. Bên cạnh đó,
tác phẩm cũng đả kích những phong trào được thực dân
khuyến khích như: Phong trào Âu hoá, thể dục thể thao,
chấn hưng Phật giáo... Sự thành công của tác giả còn ở
việc đã xây dựng được những nhân vật trở thành điển hình
về mặt tâm lý xã hội mà cho đến tận hôm nay bóng dáng
những nhân vật ấy vẫn còn đâu đó quanh ta. Tiêu biểu đoạn
trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Nội dung 1: TÌM HIỂU TRI THỨC NGỮ VĂN
a. Mục tiêu: Học sinh nhận biết được thể loại tiểu thuyết hiện đại; Phong cách hiện thực trong
sáng tác văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng; Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch
ngữ.
b. Nội dung: HS đọc tìm hiểu phần tri thức ngữ văn trong SGK và trả lời các câu hỏi liên quan
đến nội dung của thể loại tiểu thuyết hiện đại; Phong cách hiện thực trong sáng tác văn học nói
chung và trong tiểu thuyết nói riêng; Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ.
c. Sản phầm: Câu trả lời của học sinh
d. Tổ chức thực hiện
Hoạt động của GV và HS
Dự kiến sản phẩm
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
1. Tiểu thuyết hiện đại
GV cho HS tự đọc phần tri thức ngữ văn - K/n: Tiểu thuyết thuộc loại hình tự sự, là một
trong SGK trong thời gian 3 phút
hình thức cụ thể của truyện hay truyện kể.
B2. Thực hiện nhiệm vụ:
- Tiểu thuyết có dung lượng lớn (phân biệt với
- HS đọc phần tri thức ngữ văn trong truyện ngắn, truyện vừa), có thể “phản ánh”
SGK. HS trả lời một số câu hỏi và yêu được hiện thực ở quy mô rộng, bao quát nhiều
cầu mang tính gợi mở của GV như:
cảnh đời, nhiều số phận, đề cập nhiều sự kiện
- Em đã từng học, đọc những tiểu thuyết xảy ra trong thời gian dài và ở các không gian
nào? Qua những tác phẩm ấy, em hiểu khác nhau.
được gì về thể loại tiểu thuyết?
- Tiểu thuyết tiếp cận hiện thực chủ yếu từ góc
- Nêu cách hiểu của em về mệnh đề sau độ đời tư, dành sự quan tâm đặc biệt đến số
đây: Tiểu thuyết dành sự chú ý đặc biệt phận con người cá nhân. Ở điểm này, tiểu
cho đời tư hay số phận của con người cá thuyết thường được đưa ra so sánh với sử thi,
nhân. Để hiểu rõ đặc điểm đó của tiểu một hình thức tự sự xuất hiện từ thời cổ đại, ưu
thuyết, em có thể so sánh tiểu thuyết với tiên thể hiện những vấn đề lớn của cộng đồng.
thể loại nào đã được học?
– Tiểu thuyết có thể được viết bằng văn xuôi
- Nêu một vài căn cứ theo hiểu biết của hoặc văn vần. Tuy nhiên, không phải tác phẩm
em để chứng minh rằng tiểu thuyết có rất truyện thơ nào cũng có thể được nhìn nhận là
nhiều dạng thức, thể hiện nhiều hướng tiểu thuyết, nếu trong đó, câu chuyện về con
phát triển, tìm tòi khác nhau.
người cá nhân và một số vấn đề cơ bản khác
- Theo em, người biên soạn SGK muốn thuộc về kết cấu, ngôn ngữ, sự phối hợp các
nhắm tới điều gì khi đặt tên cho bài học điểm nhìn,… không được thể hiện nổi bật. Trên
là “Khả năng lớn lao của tiểu thuyết”? vấn đề này, có cơ sở để xem Ép-ghê-nhi Ô-nhêNêu những điều mà tiểu thuyết có thể ghin (Yevgeny Onegin) của Pu-skin (Pushkin),
làm được trong khả năng của nó.
Truyện Kiều của Nguyễn Du,… là tiểu thuyết - Em hiểu thế nào về vấn đề: Tiểu thuyết thơ.
có khả năng tổng hợp cao mọi kinh - Khả năng lớn lao của tiểu thuyết:
nghiệm nghệ thuật của các thể loại văn + Tiểu thuyết có thể bao quát được bức tranh
học khác?
đời sống rộng lớn với đủ thành phần xã hội và
- Cắt nghĩa nguyên nhân khiến tiểu các sự kiện chằng chéo, phức tạp (điều này thể
thuyết thường đưa tới cho độc giả cảm hiện rõ trong đoạn trích Số đỏ).
giác “chân thật”.
+ Tiểu thuyết có thể đi sâu khám phá những bí
- Em đã biết gì về những cuộc bình chọn mật của tâm hồn con người, soi tỏ cả những
nhằm xác định “Những tiểu thuyết Việt điều có thể xem là dị thường, tưởng chừng
Nam hay nhất”, “Những tiểu thuyết nổi không thể giải thích (điều này có thể được
tiếng nhất mọi thời đại của văn học thế chứng thực qua đoạn trích Nỗi buồn chiến
giới”?
tranh).
+ Tiểu thuyết giúp người đọc hiểu rõ tính toàn
- Phong cách hiện thực là gì? So sánh vẹn của đời sống và khơi dậy ý thức tôn trọng
trong tương quan đối lập với các thể loại những cách diễn giải, đánh giá khác nhau đối
khác?
với những gì đã hoặc sẽ diễn ra trong đời sống
nhân loại.
2. Phong cách hiện thực trong sáng tác văn
học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng
- Phong cách hiện thực là khái niệm có phạm vi
- Thế nào là biện pháp tu tử nói mỉa và
nghịch ngữ?
- Nói mỉa và nghịch ngữ có mối quan hệ
như thế nào với nhau?
B3. Báo cáo thảo luận:
GV mời HS trả lời câu hỏi theo định
hướng các câu hỏi trên
B4. Đánh giá kết quả thực hiện:
HS nắm được kiến thức, hiểu và nhận
diện được một số đơn vị kiến thức cơ bản
sẽ sử dụng trong tìm hiểu văn bản và
thực hành tiếng việt, viết bài văn.
sử dụng khá rộng và nội hàm thường biến động
trong các ngữ cảnh khác nhau. Nó biểu thị nỗ
lực khái quát của các nhà lí luận, phê bình về
một kiểu tiếp cận và thể hiện nghệ thuật đối với
đời sống mang tính chất trực diện, khách quan;
gạt bỏ mọi ảo tưởng, ngộ nhận; từ chối sự tô vẽ,
“mĩ hoá”;… Theo đó, khái niệm này thường
được đặt trong thế đối lập với khái niệm phong
cách lãng mạn – một khái niệm biểu thị kiểu
tiếp cận và thể hiện nghệ thuật mang tính chất
ngược lại: coi trọng cái chủ quan; ít quan tâm
logic vận động khách quan của sự vật, sự việc;
ưa sử dụng bút pháp lí tưởng hoá;… Khái niệm
phong cách hiện thực không chỉ được dùng để
gọi tên phong cách sáng tác của các nghệ sĩ
theo chủ nghĩa hiện thực (một trào lưu văn học,
nghệ thuật phát triển mạnh mẽ ở phương Tây
trong khoảng thời gian từ những năm 30 của thế
kỉ XIX sang đến đầu thế kỉ XX) mà còn được
dùng để chỉ phong cách sáng tác của một số nhà
văn, nhà thơ thuộc các thời đại và khu vực văn
hoá, văn học khác, khi họ đề cao nguyên tắc
sáng tác bám sát những gì thực sự diễn ra trong
đời sống. Chính vì vậy, Đỗ Phủ (sống vào thời
Đường ở Trung Quốc) có thể được xem là nhà
thơ có phong cách hiện thực, phân biệt và đối
trọng với Lý Bạch (nhà thơ cùng thời) có phong
cách lãng mạn.
3. Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ
- Nói mỉa được hiểu là một phương thức ngôn
ngữ đặc biệt dùng để diễn đạt sự đánh giá
"chênh" đi, thậm chí có khi còn ngược lại so với
sự thật cần đánh giá. Chính vì thế ngôn ngữ ở
đây bao giờ cũng mang sắc thái biểu cảm rõ nét,
và thường là thái quá. Người ta thường nhận
được những câu quá khen, hoặc chê thậm tệ;
hoặc cũng có khi lẽ ra phải khen thì lại chê,
phải chê thì lại khen; và đặc biệt lại có cả những
câu tưởng chừng phi lý; Trong khẩu ngữ, nói
mỉa thường thể hiện bằng sự kéo dài hay nhấn
mạnh giọng nói. Đôi khi có kèm theo cả sự thay
đổi nét mặt, cử chỉ, dáng điệu... ở người nói.
Người nghe thường nhận ngay ra cái dáng vẻ
của ngôn ngữ mỉa mai, giễu cợt.
- Nghịch ngữ là biện pháp tu từ, theo đó, người
nói (người viết) sử dụng trong cùng một câu
hoặc một đoạn văn những từ ngữ hoặc câu có
nghĩa trái ngược nhau nhằm tạo ra cách
nói nghịch lí, bất ngờ để thể hiện được đúng
nhận xét về đối tượng được nói đến.
=> Giữa nói mỉa và nghịch ngữ có sự nhập
nhằng nhất định vì khi nói mỉa, người ta có thể
sử dụng nghịch ngữ. Trong khí quyển của nói
mỉa, một nghịch ngữ đôi khi bị đồng hoá, khiến
người ta không còn cho đó là nghịch ngữ nữa.
Sự thực, cần phân định rõ: nói mỉa không phải
là một đơn vị ngôn ngữ mà là một cơ chế tạo lời
nhằm tạo ra sự mâu thuẫn giữa phần hiển ngôn
và phần hàm ngôn
Nội dung 2: ĐỌC VĂN BẢN 1: XUÂN TÓC ĐỎ CỨU QUỐC
2.1. Tìm hiểu khái quát
a. Mục tiêu:
- Nắm bắt được những kiến thức chung về tác giả Vũ Trọng Phụng, hoàn cảnh xã hội đương
thời, tiểu thuyết Số đỏ và đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”.
- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đọc hiểu văn bản, hướng dẫn đọc và rèn luyện các chiến
thuật đọc.
b. Nội dung: HS sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời câu hỏi liên quan đến
nội dung bài học
c. Sản phẩm: HS tiếp thu kiến thức và câu trả lời của GV.
d. Tổ chức thực hiện:
Hoạt động của Gv và Hs
Dự kiến sản phẩm
Hoạt động: Đọc
I. Tìm hiểu chung
B1. Chuyển giao nhiệm 1. Tác giả
vụ
a. Cuộc đời
Sử dụng phương pháp dự - Vũ Trọng Phụng (1912 - 1939) quê ở tỉnh Hưng Yên nhưng
án:
sinh ra và sống chủ yếu ở Hà Nội.
- GV giao HS đọc, tìm - Ông bước vào làng báo, làng văn từ rất sớm (bắt đầu có truyện
hiểu trước ở nhà những đăng báo từ năm 1930), dùng ngòi bút để kiếm sống và chống
thông tin chính về tác giả, chọi một cách khó khăn với tình cảnh nghèo túng, bệnh tật triền
tác phẩm, đoạn trích
miên.
(Hs thảo luận nhóm 2 b. Sự nghiệp sáng tác
nhóm theo PHT số 1, 2)
* Tác phẩm tiêu biểu
B2. Thực hiện nhiệm vụ - Cạm bẫy người (phóng sự, 1933), Kĩ nghệ lấy Tây (phóng sự,
- Hs tìm hiểu thông tin về 1934), Cơm thầy cơm cô (phóng sự, 1936), Giông tố (tiểu
tác giả và tác phẩm, đoạn thuyết, 1936), “Số đỏ” (tiểu thuyết, 1936), Vỡ đê (tiểu thuyết,
trích - chuẩn bị phiếu học 1936), Lấy nhau vì tình (tiểu thuyết, 1937), Trúng số độc đắc
tập ở nhà
(tiểu thuyết, 1938),...
B3. Báo cáo thảo luận
* Đặc điểm sáng tác
- HS cử đại diện lên trình - Các tác phẩm đều toát lên sự khinh bỉ sâu sắc cái xã hội đương
bày nội dung đã chuẩn bị với cảm hứng vạch trần sự thật; xây dựng những hình tượng
ở nhà
nhân vật sắc nét, vừa mang tính đặc thù của một thời đại cụ thể,
B4. Đánh giá kết quả vừa thể hiện rõ bản chất một số trạng huống tồn tại phổ quát của
thực hiện:
cuộc sống.
- GV nhận xét và đánh giá 2. Văn bản
bằng diểm
a.Tiểu thuyết “Số đỏ”
- Tiểu thuyết “Số đỏ” ra mắt lần đầu tiên vào năm 1936. Đến
năm 1938, tác phẩm được in thành sách.
- Đây là tác phẩm đỉnh cao trong văn nghiệp của Vũ Trọng
Phụng và có vị trí quan trọng trong nền tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại.
* Thể loại chính: Tiểu thuyết
* Phương thức biểu đạt: Tự sự
* Tóm tắt
- Nhân vật chính của tác phẩm là Xuân, biệt danh là Xuân Tóc
Đỏ. Từ một đứa trẻ mồ côi, lêu lổng, lang thang, đã trải qua đủ
“nghề” thường được xem là "mạt hạng”, Xuân Tóc Đỏ dần bước
chân vào xã hội “thượng lưu” nhờ sự nâng đỡ đầy toan tính của
bà Phó Đoan – một me Tây dâm đãng.
- Đầu tiên, Xuân Tóc Đỏ đến làm việc ở tiệm may Âu hoá. Hắn
được vợ chồng Văn Minh và những người trong gia đình này
hoặc vô tình hoặc cố ý tôn lên làm "nhà cải cách xã hội”, “đốc
tờ Xuân", "giáo sư quần vợt.
- Với đủ danh hiệu “vẻ vang” ấy và với sự láu lỉnh, cơ hội cố
hữu, Xuân Tóc Đỏ khiến cô Tuyết say mê và được nhiều nhân
vật khác sợ hãi, nể trọng, nhờ cậy, ghi ơn.
- Xuân Tóc Đỏ đạt đến vinh quang tột đỉnh vào thời điểm vua
nước Xiêm sang thăm Việt Nam nhằm thắt chặt quan hệ hữu
nghị giữa hai quốc gia, giữa bối cảnh nền chính trị thế giới đang
có những biến động khó lường.
- Với “thành tích” để thua quán quân quần vợt người Xiêm
trong trận thi đấu thể thao mang tính ngoại giao, Xuân Tóc Đỏ
được tung hô là “vĩ nhân”, "anh hùng cứu quốc” và tiếp tục
được một số tổ chức danh giá chào đón, mời làm thành viên
danh dự.
b. Đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
- Xuất xứ và vị trí: “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” là đoạn trích nửa
đầu của chương XX - chương cuối cùng của tác phẩm “Số đỏ”.
- Bố cục
+ Phần 1 từ đầu đến "nhà quán quân quần vợt Xiêm La ra thử
tài với Xuân Tóc Đỏ.": Tình hình chuẩn bị cho cuộc thi đấu thể
thao đặc biệt.
+ Phần 2: tiếp theo đến "các đức vua và quý quan của ba chính
phủ về Sở Toàn quyền.": Diễn biến kịch tính của "ván quần"
giữa Xuân Tóc Đỏ và quán quân quần vợt Xiêm La.
+ Phần 3: phần còn lại: Màn hùng biện của Xuân Tóc Đỏ và sự
tung hô của dân chúng.
2.2. Khám phá văn bản
a. Mục tiêu: Chỉ ra và phân tích được một số nét đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại trên các
phương diện: khả năng bao quát hiện thực đời sống; góc độ quan sát, nhân vật và hệ thống sự
kiện; cách miêu tả nét đặc thù của ngôn ngữ nhân vật;... thể hiện qua đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ
cứu quốc”.
b. Nội dung:
- Tập trung làm rõ các vấn đề Câu chuyện và sự kiện - Tình huống và nhân vật trào phúng Người kể chuyện và điểm nhìn - Ngôn ngữ - Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng qua
các nhiệm vụ cụ thể.
c. Sản phẩm: Kết quả thực hiện của HS được ghi vào vở.
d. Tổ chức thực hiện:
Hoạt động của Gv và Hs
Dự kiến sản phẩm
Hoạt động: Khám phá VB
II. Khám phá văn bản
Nhiệm vụ 1:
1. Tìm hiểu về câu chuyện và sự kiện
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
- Câu chuyện: “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
GV hướng dẫn HS đọc một số - Sự kiện chính:
đoạn tiêu biểu với giọng đọc + Tình hình chuẩn bị cho cuộc thi đấu thể thao đặc
hóm hỉnh, châm biếm
biệt: Sân quần Rollandes Varreau của Hà thành đã ghi
- Trả lời câu hỏi: Văn bản kể được một chỗ rẽ cho lịch sử thể thao khi giá vào cửa là
câu chuyện gì? Tóm tắt các sự ba đồng hạng bét nhưng người xem cũng trên ba
kiện chính được kể trong đoạn nghìn.
trích “Xuân Tóc Đỏ cứu / Tất cả mọi người đều đã thua và họ đều hi vọng vào
quốc”. (Hs thảo luận nhóm Xuân Tóc Đỏ. Tất cả các quan chức cấp cao của hai
đôi theo PHT số 3)
nước đã an toạ nhưng Tổng cục thể thao Bắc Kì đang
B2. Thực hiện nhiệm vụ
lo sốt vó khi không thấy hai nhà đương kim Hải và
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
Nhiệm vụ 2:
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt câu hỏi:
- Xác định tình huống của
đoạn trích. Tình huống nào là
chính? Vì sao? (Hs thảo luận
nhóm đôi theo PHT số 4)
- Theo lời tác giả: “Số đỏ tập
trung cao độ thể hiện sự dị
dạng của con người trong một
xã hội đang tư sản hoá cuối
mùa”. Sự “dị dạng của con
người” thể hiện như thế nào
qua các nhân vật trong đoạn
trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc?
(Hs thảo luận nhóm 4-6 em
theo PHT số 4).
Thụ.
/ Cuối cùng, để chữa cháy họ mời quán quân Xiêm La
đấu với Xuân Tóc Đỏ.
+ Diễn biến kịch tính của “ván quần” giữa Xuân Tóc
Đỏ và quán quân quần vợt Xiêm La:
/ Trong trận đấu, Xuân đã chiếm được ưu thế hơn so
với quán quân Xiêm.
/ Điều đó khiến vua Xiêm tức giận và doạ dẫm chiến
tranh sẽ nổ ra nếu Xuân thắng, ông Giám đốc chính trị
Đông Dương đã phải tìm ông Văn Minh để bảo Xuân
Tóc Đỏ nhường quán quân Xiêm La.
+ Màn hùng biện của Xuân Tóc Đỏ và sự tung hô của
dân chúng: Xuân nghe vậy thì nhường bàn cuối khiến
công chúng, khán giả sững sờ.
/ Ban đầu họ có vẻ đả đảo Xuân nhưng với với sự lẻo
mép, khôn lỏi của mình, Xuân đã thuyết phục quần
chúng bằng tài diễn thuyết.
/ Hắn tỏ vẻ trịch thượng và tự cho rằng mình đã bỏ qua
lòng tự trọng mà cứu đất nước. Lúc này, quần chúng
lại coi hắn như người hùng cứu quốc thực thụ và tán
tụng, ngợi ca.
2. Tình huống và nhân vật trào phúng
a. Tình huống
- Tình huống 1: Hai nhà quán quân cũ là Hải và Thụ
mất tích, dẫn đến nguy cơ trận chung kết quần vợt phải
hoãn, đồng thời cũng tạo cơ hội cho Xuân Tóc Đỏ
được ra sân tỉ thí với quán quân Xiêm La.
- Tình huống 2: Xuân Tóc Đỏ thắng điểm quán quân
Xiêm La, vô tình đẩy hai nước Việt, Xiêm đến miệng
hố chiến tranh – một tình trạng nguy cấp phải giải
quyết kịp thời.
- Tình huống 3: Đông đảo khán giả đả đảo Xuân, đòi
được giải thích, buộc Xuân và ông bầu Văn Minh phải
biện xảo để xoay ngược thế cờ.
=> Trong ba tình huống nêu trên, tình huống chính là
tình huống 2. Bởi vì, tình huống này đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo nên kịch tính và bước ngoặt của
toàn bộ sự kiện được kể, nó liên quan chặt chẽ đến cao
trào của sự kiện, nói lên “Số đỏ” của nhân vật Xuân,
phơi bày toàn bộ sự bịp bợm của màn kịch đang diễn
ra.
b. Nhân vật trào phúng
- Tên gọi: ông TYPN, Văn Minh, Xuân Tóc Đỏ, cô
Tuyết, nhân vật đám đông,…: tên nhân vật độc đáo,
mang ngụ ý, gây ấn tượng mạnh, gắn với ngoại hình,
đặc điểm, tính cách đặc biệt,… kích thích sự tò mò,
hứng thú của người đọc.
– Hành động:
+ Nhân vật Xuân: “kêu rằng cái phần danh dự của gia
đình cũng còn có cơ cứu chữa được, vì mọi người còn
hi vọng vào Xuân” và không được tác giả giới thiệu
một cách trực tiếp mà chỉ xuất hiện gián tiếp qua lời kể
của nhân vật khác nhưng ta có thể thấy mọi người đều
đang rất mong chờ, hi vọng và trao trọn niềm tin cho
nhân vật này. Điều đó cho thấy đây là một nhân vật có
quyền lực, tài giỏi vô cùng nên mới được trao niềm tin
để cứu vớt lại danh dự của một gia đình.
+ Ông Văn Minh: sung sướng vì người của mình được
đại diện cho Hà Thành để giữ cái danh dự cho Tổ
quốc, trước nhà vô địch Xiêm La vì như vậy sẽ làm
tăng danh dự cho bản thân.
+ Vua Xiêm: “lộ ra mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị
thiên tử thế thiên hành đạo”; “Vua Xiêm tức thì lôi
trong túi áo ra cái bản đồ Ấn Ðộ Chi Na do chính phủ
Xiêm vẽ lại” và thể hiện rõ nét cơn thịnh nộ của vua
Xiêm khi đứng trước bàn thắng của Xuân Tóc Đỏ, lối
miêu tả cường điệu càng nhấn mạnh mức độ nghiêm
trọng của sự kiện.
+ Ông Giám đốc chính trị Đông Dương “sau khi tai
nghe một hiệu lệnh của quan Toàn quyền, tức thì bỏ
khán đài, chạy xuống sân đi tìm ông bầu của Xuân
Tóc Đỏ” và Hành động của quan chức đã tạo ra một
bức tranh hài hước và mỉa mai về tình hình cứu quốc,
cứu quốc bằng phương án nhường đối thủ, đây là một
lối suy nghĩ hèn nhát, thiển cận.
+ Nhân vật đám đông: “Tuy giá vé vào cửa là ba đồng
hạng bét, số công chúng sáng hôm sau ấy, cũng trên
ba nghìn”; “rất nhiều người hâm mộ vì đến chậm,
không mua được vé, bèn hoá ra phẫn uất và chết một
cách rất thể thao, nghĩa là tự tử dần bằng thuốc phiện
không có giấm thanh, hút vào phổi”; “công chúng còn
đứng lại, đông nghìn nghịt, tốp này định chia buồn với
Xuân, tốp kia định trách cứ Xuân” và Gợi khung cảnh
hỗn loạn, đầy nghịch lí qua ngôn ngữ châm biếm, mỉa
mai xen lẫn cường điệu để mô tả trạng thái “thôi miên,
lên đồng”, ở đây là cả một cộng đồng xã hội bị một cá
nhân, tổ chức lôi kéo “dắt mũi”.
Lời nói: “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế!”;
“Hỡi công chúng! Mi chưa hiểu rõ những lẽ cực kì to
tát nó khiến ta phải đành nhường giải cho nhà vô địch
Xiêm La!”; “Xuân thua không phải bởi vô tài! Chắc
thiên hạ đã mục kích rất rõ. Vậy xin thiên hạ hãy bình
tĩnh nghe tại sao người của tôi lại phải thua”; “A bas
Xuân! A bas Xuân! Des explications” mang màu sắc
châm biếm, mỉa mai xen lẫn cường điệu, phê phán
=> Bằng ngòi bút trào phúng, lối viết “ngấu nghiến”,
nhịp điệu dồn dập, giọng văn phảng phất thái độ khinh
miệt, nhà văn đã tạo ra những nhân vật dị biệt, khác lạ
từ tên gọi đến tính cách. Họ đại diện cho một xã hội lố
lăng, kệch cỡm, “chó đểu” thời bấy giờ
Nhiệm vụ 3
c. Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện trước công chúng
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
+ Nội dung: đề cập đến những hậu quả của một xung
GV đặt câu hỏi:
đột Việt – Xiêm và nhấn mạnh rằng cuộc chiến sẽ kéo
- Phân tích nét đặc sắc của theo nạn đói và thảm hoạ cho nhân loại.
cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện + Ngôn từ: “Hỡi công chúng! Mi chưa hiểu rõ những
trước công chúng. (HS thảo lẽ cực kì to tát nó khiến ta đành phải nhường giải cho
luận theo PHT số 5).
nhà vô địch Xiêm La”; “Mi đã biết đâu cái lòng hi
B2. Thực hiện nhiệm vụ
sinh cao thượng vô cùng”, “điểm cốt yếu của người
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
Nhiệm vụ 4
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt câu hỏi:
- Xác định ngôi kể, điểm nhìn
đã được nhà văn lựa chọn và ý
nghĩa của ngôi kể, điểm nhìn
ấy trong việc làm sáng tỏ bản
chất hiện thực theo khám phá
và quan niệm của nhà văn?
B2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
Nhiệm vụ 5
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt câu hỏi:
- Nêu nhận xét khái quát về sự
tương đồng và khác biệt giữa
ngôn ngữ của người kể
chuyện và ngôn ngữ nhân vật
ở đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu
quốc?
B2. Thực hiện nhiệm vụ
xả thân cứu nước không phải là chỉ nghĩ đến mình…”
chứa đầy các yếu tố đối nghịch, hội tụ các mối tương
quan xã hội phức tạp. Chúng xung đột và hoà hợp với
nhau một cách kì dị, phản ánh đúng bản chất kì dị của
xã hội đương thời.
+ Giọng điệu: kiêu ngạo, hùng biện, bề trên,… bản
chất khôn lỏi, cơ hội của Xuân.
+ Hành động: nó vỗ vào ngực (tự cao, tự mãn, đề cao
bản thân); nó đấm tay xuống không khí (sự kiên định);
nó giơ cao tay lên (sự quyết tâm);…
=> Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện có dáng dấp của
một màn hài kịch, thể hiện rõ cảm quan của Vũ Trọng
Phụng về hiện thực. Xã hội đảo điên đã tạo cơ hội cho
Xuân - một kẻ “hạ lưu” vô học nhưng láu cá - đã chui
sâu, leo cao và đạt được cơ hội “thăng tiến” khó ngờ.
Theo ông, tất cả những gì đang diễn ra trong xã hội
đều là một tấn trò não nuột, xen lẫn bi và hài.
3. Ngôi kể và điểm nhìn
- Ngôi kể và điểm nhìn: Đoạn trích được kể ở ngôi thứ
ba với điểm nhìn bên ngoài.
- Ý nghĩa:
+ Tạo điều kiện bao quát toàn cảnh sự việc, đẩy nhanh
nhịp độ kể và làm nổi bật tính chất “hề” của toàn bộ
những gì được kể.
+ Tuy chọn điểm nhìn bên ngoài để miêu tả, tái hiện
sự việc nhưng vị trí đặt điểm nhìn lại luôn được dịch
chuyển, soi chiếu ở nhiều góc khác nhau (bao quát, cụ
thể, xa, gần,…) để người đọc thấy được bức tranh tổng
thể về những gì đang diễn ra: từ cảnh náo nhiệt trên
sân vận động đến cảnh rỉ tai ám muội giữa các “đấng”
tai to mặt lớn trong ban tổ chức sự kiện; từ cảnh rừng
người hò reo đến cảnh đặc tả từng động tác tay, chân
đầy “biểu cảm” của nhân vật chính - Xuân Tóc Đỏ.
+ Mô tả và đánh giá hiện thực từ nhiều góc độ, phê
phán và chỉ ra những vấn đề xuất hiện trong thời buổi
“cũ - mới tranh nhau”, “Á - Âu xáo trộn”, mớ hỗn độn
tạp nham mà tác giả cho rằng đó là “cái xã hội đen tối,
thối nát”. Điểm nhìn toàn tri giúp nhà văn vạch trần
những mảng tối trong hiện thực đồng thời thể hiện sự
khinh bỉ đối với xã hội lúc bấy giờ.
=> Như vậy, việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn tuỳ
thuộc đặc điểm của đối tượng được miêu tả, thể hiện.
Đây là sự lựa chọn phù hợp, có ý đồ nghệ thuật rõ
ràng.
4. Ngôn ngữ
- Sự tương đồng: Thể hiện rõ sắc thái mỉa mai, trào
phúng, mặc dù ở lời nhân vật, sự mỉa mai không mang
tính chủ động. Do được đặt trong bối cảnh “hề” nên
ngay cả khi lời nhân vật thể hiện tâm trạng hoảng hốt
(lời nhân vật Văn Minh) hay lâm li, phấn khích (lời
nhân vật Xuân Tóc Đỏ), thì tính chất mỉa mai vẫn
được bộc lộ rất rõ, hoà điệu với tính chất mỉa mai
trong lời người kể chuyện.
– Sự khác biệt:
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
Ngôn ngữ của người
Ngôn ngữ của
kể chuyện
nhân vật
– Là lời người kể chuyện. – Là lời nhân vật.
Nhiệm vụ 6
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt câu hỏi
Phong cách hiện thực của Vũ
Trọng Phụng thể hiện như thế
nào qua đoạn trích?
B2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh suy nghĩ, trao đổi
thảo luận và thực hiện
B3. Báo cáo thảo luận
Học sinh cử đại diện chia sẻ
B4. Đánh giá kết quả thực
hiện: Giáo viên nhận xét và
chốt những kiến thức cơ bản
5. Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng
- Ý thức phơi bày những mặt trái, mặt nhố nhăng của
hiện thực luôn thường trực. Trong con mắt của ông, xã
hội đương thời đầy rẫy những biểu hiện tha hoá, suy
đồi, dường như vô phương cứu chữa.
- Sắc sảo trong việc xây dựng những chân dung biếm
hoạ, luôn tìm thấy những chi tiết độc đáo có thể lột
trần chân tướng của sự vật, hiện tượng và con người
thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau.
- Thể hiện một khả năng tưởng tượng, hư cấu đặc biệt
khi liên tiếp dựng lên những tình huống phi lí, những
mẫu nhân vật quái dị với hành động và ngôn ngữ khác
thường. Tuy nhiên, mọi sự tưởng tượng, hư cấu của
ông đều dựa trên nền tảng hiện thực.
- Để tăng cường khả năng bao quát hiện thực cho trang
viết, nhà văn dụng công trong việc hư cấu nên các tình
huống - sự kiện có sự góp mặt của đủ hạng người
trong xã hội; sử dụng bối cảnh lịch sử và xã hội thực
tế; ngôn từ sắc bén, mô tả tinh tế để thể hiện sự nhạy
bén trong việc quan sát và phê phán xã hội thông qua
các biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ, ẩn dụ,…;
giọng văn đanh thép, mỉa mai để tố cáo sự thối nát của
xã hội đương thời; sử dụng kiểu liên hệ so sánh đầy
tính bất ngờ nhắm tới nhiều đối tượng cùng một lúc
– Thực hiện chức năng
thuật kể, miêu tả, giới
thiệu nhân vật, sự việc.
– Thể hiện góc nhìn và
quan điểm đánh giá riêng.
– Phát ra trong những
hoàn cảnh, tình huống
giao tiếp cụ thể.
– Bộc lộ cảm xúc, suy
nghĩ của nhân vật.
2.3. Tổng kết
a. Mục tiêu: Nhận biết và phân tích được tính chất trào phúng, giá trị hiện thực của tiểu thuyết
“Số đỏ”, một kiệt tác hoạt kê của tiểu thuyết Việt Nam trong thế kỉ XX, thể hiện qua đoạn
trích.
b. Nội dung:
Câu 1. Nêu chủ đề và giá trị hiện thực của đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”.
Câu 2. Hãy tìm những dấu hiệu của tiểu thuyết hoạt kê được thể hiện qua đoạn trích.
Câu 3. Hãy nêu cách đọc hiểu một văn bản thuộc thể loại tiểu thuyết hoạt kê.
c. Sản phẩm: Câu trả lời của học sinh.
d. Tổ chức thực hiện:
Hoạt động của Gv và Hs
Dự kiến sản phẩm
B1. Chuyển giao nhiệm vụ
III. Tổng kết
GV đặt câu hỏi
1. Chủ đề và giá trị hiện thực
- Nêu chủ đề và giá trị hiện a. Chủ đề
thực của đoạn trích Xuân Tóc - Sự tha hoá về nhân cách của những kẻ đại diện cho
Đỏ cứu quốc?
xã hội “chó đểu”; sự xuống cấp của cả hệ thống, một
- Hãy tìm những dấu hiệu c...
 








Các ý kiến mới nhất