Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI VIỆT NAM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 08h:05' 25-12-2024
Dung lượng: 37.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
NGUYÊN VÃN TUYÊN (Chú biên)

HỔ CHÍ MINH
VỚI s ự NGHIỆP

GIẢI PHÓNG cô n NGƯỜI
V I Ệ T

NAM

NGUYỀN VÃN TUYÊN

HỎ CHÍ MINH VỚI S ự NGHIỆP
GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI VIỆT NAM

NHÀ XUÁT BẢN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NĂM 2018

_

,

02-2C7

M Ả s ó : — — — — -------

ĐHTN-:018

MỤC LỤC

LỜI GIỚI T H IỆ U ...........................................................................6
Chương 1 VÁN ĐÊ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON
NGƯỜI V Ệ T NAM TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH....... 9
1.1. Vấn đề con người Việt Nam trong nhận thức của Hồ
Chí M inh.......................................................................................... 9
1.1.1. Con người và bản chất con n g ư ờ i..................................... 9
1.1.2. Con người là vốn quý nhất, yếu tố quyết định thành
công của sự nghiệp cách m ạn g .................................................. 23
1.1.3. Sự cùng khổ của người Việt Nam dưới chế độ thực
dân, phong k iến .............................................................................28
1.2.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải phóng con

người Việt N am .............................................................................36
1.2.1. Ve con người được giải phóng........................................ 36
1.2.2. Giải phóng con người thống nhất với giải phóng
dân tộc và giải phóng giai câp.................................................... 42
1.2.3. Điêu kiện chủ yếu bảo đảm thăng lợi sự nghiệp
giải phóng người Việt N a m ........................................................49
Chương 2 s ự NGHIỆP GIẢI PHÓNG NGƯÒI VIỆT
NAM

CỦA HỐ CHÍ MINH TRONG TH ựC TIỀN -

NHỮNG CÓNG HIẾN CHỦ Y É U ...........................................60
3

2.1. Giải phóng người Việt Nam khỏi ách áp bức nô dịch,
thực hiện quyền con ngư ời........................................................... 60
2.1.1. Giải phóng người Việt Nam trên phương diện chính trị......60
2.1.2. Giải phóng người Việt Nam trên phương diện kinh tế ....... 71
2.1.3. Xây dựng nền văn hóa mới vi mục tiêu phát triển
con n g ư ờ i..........................................................................................81
2.2. XÂY DỰNG CON N G Ư Ờ I MỚI XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI v ì
CON N G Ư Ờ I.................................................................................. 86
2.2.1. Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa....................86
2.2.2. Thực hiện chính sách xã hội vỉ con n g ư ờ i.....................90
Chương 3. TIÉP TỤC s ự NGHIỆP GIẢI PHÓNG CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ M IN H ............................................................................... 97
3.1. Đ ảng cộng sản Việt N am với mục tiêu giải phóng
con n g ư ờ i.........................................................................................97
3.1.1. Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước với mục tiêu giải phóng con n g ư ờ i............................97
3.1.2. Thành tựu và hạn chế chủ yếu của việc thực hiện
mục tiêu giải phóng con n g ư ờ i.................................................103
3.2. Một số giải pháp định hướng thúc đẩy quá trình giải
phóng con người Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hô
Chí M in h .........................................................................................118
3.2.1. Xây dựng nên dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm

quyền làm chủ thực sự thuộc vê nhân d â n .............................. 118
3.2.2. Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần, đa dạng hóa hình thức sở hữu, đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .... 125
3.2.3. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo; phát
triển văn hóa và con người Việt N a m ...................................... 129
3.2.4. Xây dựng, hoàn thiện chính sách xã hội vì con người .133
KÉT LU Ậ N ................................................................................... 140
TÀI LIỆU THAM K H Ả O ........................................................ 143

5

LỜI GIỚI THIỆU

Vấn đề con người và giải phóng con người là vấn đề
muôn thuở, một đề tài tưởng chừng đã cù nhưng luôn luôn
mới, bởi lẽ thế giới xung quanh con người, và bản thân con
người luôn vận động, biến đổi. Xã hội ngày càng phát triển,
nhận thức của con người ngày càng sâu rộng thì những vấn đề
con người đặt ra cũng ngày càng phức tạp, đa dạng hơn. Con
người và giải phóng con người đã trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học, đúng như C.Mác đã dự báo,
trong tương lai mọi khoa học đều gặp nhau ở một khoa học
cao nhất đó là khoa học về con người.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong
muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập,
dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành, thực chất đó là mong muốn đi
tới giải phóng triệt để con người Việt Nam. Giải phóng con
người là một trong nhừng nội dung quan trọng, là vấn đề cốt
lõi chi phối nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh, từ lúc
ra đi tìm đường cứu nước cho đen khi về nơi vĩnh hằng. Giải
phóng triệt để con người Việt Nam là ước mơ, khát vọng cháy
bỏng; là sự nghiệp cao cả và vĩ đại nhất của Chủ tịch Hô Chí
Minh, chứa đựng trong đó những giá trị nhân văn sâu sẳc.
Việc tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu

VỚI

mong

muốn làm rõ những cong hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh

6

trong sự nghiệp giải phóng người Việt Nam (trên cả hai
phương diện lý luận và thực tiễn).
Hiện nay, nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi
mới, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, phấn đấu sớm đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Đẻ sự nghiệp đó nhanh chóng đi đến thành công, điều có
ý nghĩa quyết định là phải tiếp tục coi con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của mọi cuộc cách mạng. Giải phóng
triệt để con người là mục tiêu của sự phát triển, tạo ra động
lực của sự phát triển, thể hiện bản chất cùa chế độ xã hội chù
nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành biên soạn
cuốn sách Hồ Chỉ Minh với sự nghiệp giải phóng con người

Việt Nam nhằm mục đích: Hệ thống hoá những cống hiến to
lớn của Hồ Chí Minh (cả về lý luận lẫn thực tiễn) trong sự
nghiệp giải phóng người Việt Nam; Nghiên cứu quá trinh
Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục sự nghiệp giải phóng con
người của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới.
Qua đó góp phần làm rõ những cống hiến to lớn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng con người.
Cuôn sách được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: vấn đề con người và giài phóng con người
Việt Nam trong tư tường Hồ Chí Minh
Chương 2: Sự nghiệp giài phỏng người Việt Nam cùa
7

Hồ Chí Minh trong thực tiễn - những cổng hiến chù yếu
Chương 3: Tiếp tục sự nghiệp giải phóng con người
Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Với những co gang đó tác giả mong muốn cuốn sách trở
thành tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy
môn Tư tường Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao
đẳng.
Song, do thời gian và trình độ biên soạn còn có những
hạn chế nhất định, cuốn sách Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải

phóng con người Việt Nam khó tránh khỏi những thiếu sót,
tác giả mong muốn nhận được những góp ý xây dựng để tiếp
tục bổ sung, hoàn thiện trong lần tái bản sau.
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ

8

Chương 1
VÁN ĐÈ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PH Ó NG CON NGƯỜI
VIỆT NAM TRONG T ư TƯ Ở N G HỒ CHÍ MINH

1.1. Vấn đề con ngưòi Việt Nam trong nhận thức của
Hồ Chí Minh
1.1.1. Con người và bản chất con người

1.1.1.1. Quan niệm vê “con người ”
Trong lịch sử tư tường nhân loại, khái niệm về “con
người” đã được bàn đến nhiều ở phương Đông và phương
Tây. Tuỳ thuộc vào thế giới quan, lập trường giai cấp, phương
pháp luận cùa các nhà nghiên cứu mà có những quan điểm,
quan niệm khác nhau về con người. Chỉ đến khi học thuyết
C.Mác ra đời, vấn đề con người mới được lý giải một cách
khoa học trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử.
Khi đưa ra quan niệm về con người,

c

Mác cho rằng,

con người được hiểu là phương thức tồn tại đặc thù của con
người, phương thức sinh hoạt tộc loại đặc thù của con người.
Băng việc “sáng tạo ra một cách thực tiễn thế giới đối tượng”;
băng “việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ”, con người trở thành
một thực thể mang tính tộc loại, có ý thức, một thực thể đối
xử với tộc loại như với bản chât của chính mình, hoặc đôi xử

với bản thân mình như với một thực thể có tính chất tộc loại.
Phân tích sự khác nhau giữa hoạt động của con người với
hoạt động của con vật, C.Mác kêt luận: Hoạt động sinh sống
của con người là hoạt động sinh sống có ý thức, hoạt động
theo phương thức “xây dựng” vật chất theo quy luật của cái
đẹp. Do con người là một thực thể tộc loại, là một sinh vật có
tính loài có ý thức, “đời sống cùa bản thân con người là một
đối tượng đối với con người”, nên “hoạt động của con người
là hoạt động tự do” [40, tr.36].
Trong quan niệm của C.Mác, con người - đó là những
con người riêng biệt - là những cá nhân hiện thực với hoạt
động lao động của họ. ô n g viết: “Con người là một cá nhân

đặc thù nào đó và chính tính đặc thù của nó làm cho nó thành
ra một cá nhân và một thực thể xã hội cá thể hiện thực” [40,
tr. 171 ]. Theo C.Mác, con người là một mẫu hình lý tưởng về
sự tồn tại và phát triển của chính nó, một mẫu hình mà khi đối
chiếu với những hoạt động sinh hoạt hiện thực cùa con người
sẽ cho thấy những hoạt động ấy có mang tính người hay
không mang tính người. C.Mác nhận xét, trong xã hội tư bản
chủ nghĩa, người lao động chỉ nhận được nhận đủ cái cân thiêt
để họ duy trì sự sống, song không phải sống như một con
người mà như một người lao động làm thuê và để tạo ra
không phải loại người, mà ra giai câp những người nô lệ,
những người lao động làm thuê.
C.Mác xem xét vấn đề con người với tư cách là con
10

người tự nó - con người được trừu tượng hoá bời các mối
quan hệ, các điều kiện, các hình thức và phương tiện hoạt
động hiện thực của nó - là “sự tôn tại trừu tượng của con
người với tính cách chỉ là con người lao động” và do vậy,
hàng ngày nó có thể “bị đẩy từ cái hư không đầy đủ của mình
vào cái hư không tuyệt đối”, vào lĩnh vực “không tồn tại có
tính chất xã hội” của nó” [41, tr. 150],
Như vậy, thuật ngữ “con người” đã được C.Mác sử
dụng với một nội dung phong phú: con người là phương thức
tồn tại của con người trong thế giới, là một cá nhân riêng biệt,
là mẫu hình sinh hoạt của con người, con người VỚI tư cách
con người tự nó, là đại biểu điển hình cho nhân loại.
Cách tiếp cận vấn đề con người cùa Hồ Chí Minh có sự
thống nhất với cách tiếp cận của C.Mác. Theo Hồ Chí Minh,
không có con người trừu tượng mà chỉ có con người cụ thể.
Tuỳ từng thời kỳ lịch sử gắn với từng thời điểm cách mạng,
Hồ Chí Minh dùng những thuật ngừ khác nhau để chi con
người. Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh có sự
thống nhất giữa con người giai cấp, dân tộc và nhân loại.
Những năm đầu thế kỷ XX, khi đề cập đến con người, Hồ Chí
Minh thường sử dụng các thuật ngừ như: “người phương
Đông”, “người châu Á”, “người châu Âu”, “người bản xứ”,
“người da vàng”, “người da đen”, “người vô sản thuộc địa”,
“người vô sản ở chính quốc”, “người cùng khổ”... Sau Cách
mạng tháng Tám 1945 thành công, Việt Nam đã giành được

tự do, độc lập, Hồ Chí Minh thường sử dụng các thuật ngừ
như: “đồng bào”, “quốc dân”, “nhân dân”... qua đó đặt con
người trong sự gan bó mật thiết với cộng đồng quốc gia dân
tộc. Theo Hồ Chí Minh, con người bao giờ cùng thuộc về một
chủng tộc, một quốc gia nhất định, nhưng dù khác nhau như
thế nào chăng nữa thi vẫn có điểm chung là con người khi
sinh ra phải được tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc.
Ngoài việc nói đến con người dân tộc, Hồ Chí Minh đặc
biệt chú ý đến con người - giai cấp trong quan niệm về con
người. Những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh thường dùng
các thuật ngữ “người bị áp bức”, “người bị bóc lột”, “tên tư
sản”, “nhà độc tài”... để chi con người. Trong thời kỷ xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hồ Chí Minh dùng các
thuật ngừ “người làm chủ”, “người làm chủ tập thể”, “lao
động trí óc”, “lao động chân tay”... cho phù họp với các quan
hệ xã hội mới. Hồ Chí Minh chỉ dùng khái niệm “con người”

ở hai thời điểm: Một là, trong Tuyên ngôn cùa Hội liên hiệp
thuộc địa (1921), Người viết: nhân dân thuộc địa bị tước đoạt
mất các quyền lợi gắn liền với “phẩm giá con người”. Trong

Lời kêu gọi đăng trên trang nhất, số đầu tiên báo Người cùng
khổ, Hồ Chí Minh nói: sứ mệnh cùa tờ báo là “giải phóng con
người”; hai là, trong bản bổ sung cho Di chúc, năm 1968,
Người viêt tiếp tục khẳng định: “Đâu tiên là công việc đôi với
con người”.
Năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu một định nghĩa khá độc

đáo về con người, “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em,
họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn
là cả loài người” [49, tr.644]. Con người trong quan niệm của
Hồ Chí Minh vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là những cộng
đồng người trong xã hội. Con người vừa là một chỉnh thể duy
nhất, mang phẩm chất riêng, vừa là một thực thể xã hội, mang
phẩm chất của một hệ thống các quan hệ xã hội, trong sự
thống nhất giữa cái chung với cái đặc thù. Trong cộng đồng
con người Việt Nam, rõ ràng, quan hệ gia đình, anh em, họ
hàng là rất quan trọng; hơn nữa, nét độc đáo trong cộng đồng
người Việt Nam là quan hệ “đồng bào”, cộng đồng đó có
cùng nguồn gốc “ con Lạc, cháu Hồng”, “ con Rồng, cháu
Tiên”.
Qua cách định nghĩa về chữ “người” và cách hiểu về

“con ngirời” trên đây cho thấy, Hồ Chí Minh luôn dựa trên cơ
sở thế giới quan khoa học, không duy tâm, thần bí khi xem xét
nguồn gốc, bản chất con người. Con người không phải là sản
phẩm của thần thánh hay bất cứ lực lượng siêu nhiên nào, mà
là sản phẩm cùa quá trinh tiến hoá lâu dài. Không có con người
chung chung, trừu tượng, mà chỉ có những con người cụ thể,
sông và hoạt động trong một xã hội nhất định ở một thời đại
nhât định, trong những điều kiện lịch sử nhất định, nghĩa là
những con người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên,
sinh hoạt xã hội và phát triển ý thức. VỚI cách hiểu này, cho
phép gạt bỏ mọi khác biệt giữa cá nhân con người và mỗi con

nguời cụ thể; luôn có điểm tương đồng với con người thuộc
mọi thời đại, mọi quốc gia dân tộc.

1.1.1.2. Quan điểm của Hồ Chỉ Minh về bản chất con
người
Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh con người mang bản chất
xã hội - lịch sử.
Con người là một sinh vật có tính loài, là một bộ phận
của giới tự nhiên, hoạt động sinh sống có ý thức, nhờ đó mà
phân biệt giữa con người với hoạt động sinh sống của con vật.
Bằng việc sản xuất ra thế giới vật chất và có khả năng cải tạo
giới tự nhiên, xã hội, con người tỏ ra là một sinh vật có tính
loài có ý thức. Vì vậy, chỉ có ở con người mới có tính đồng
loại, mới có tình cảm và biết yêu thương đồng loại. Đây là
một đặc tính bản chất của con người, xuất hiện từ khi hình
thành con người.
Khi bàn về con người, C.Mác chỉ ra rằng, “Con người
không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài
thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước,
là xã hội” [38, tr.569]. Bàn về bản chất con người, C.Mác
khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người
là tổng hoà những quan hệ xã hội” [39, tr. 11], ô n g phê phán
L.Phoiơbắc đã coi con người như những cá nhân trừu tượng,
cô lập, “bản chất con người chỉ có thể được hiểu là “loài”, là
tính phổ biến nội tại, câm, gắn bó một cách thuần tuý tự nhiên
đông đảo cá nhân lại với nhau” [39, tr. 11], Đối với con người
14

đứng đẩu nhà nước mà Hêghen gọi là “con người đặc thù”,
thì bản chất của nó, như C.Mác đã phân tích, cũng “không
phải là râu của nó, không phải là máu cùa nó, không phải là
bản chất thể xác trừu tượng cùa nó, mà là phẩm chất xã hội
của nó” [38, tr.337]. Như vậy, bản chất con người không phải
là trừu tượng mà là cụ thể, không phải là tự nhiên mà là lịch
sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá nhân riêng biệt, cô
lập, mà là sự tổng hoà các quan hệ xã hội.
Trong thực tế, con người là con người xã hội, là những
cá thể nằm trong các quan hệ xã hội nhất định. Nếu tách con
người khỏi các quan hệ xã hội thì con người chỉ còn là một
loài sinh vật giống như mọi loài sinh vật khác; và lúc đó sự
gắn bó giữa những cá nhân chỉ mang tính chất bầy đàn sinh
vật chứ không có xã hội của con người.
Khi nói bản chất con người là tổng hoà những quan hệ
xã hội cũng có nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều tham gia
vào việc hình thành bản chất con người. Các quan hệ xã hội
vô cùng phong phú, đa dạng, luôn đan xen, tác động lẫn nhau,
trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối, quyết định
các quan hệ xã hội khác. Nếu quan hệ sản xuất thể hiện bản
chất tầng một của con người, thì các quan hệ xã hội khác thể
hiện bản chất tầng hai của con người và lại được thể hiện
thông qua cái bản chât tâng một, tạo nên những khác biệt giữa
con người với con người. Tính chi phối, quyết định của quan
hệ sản xuât đôi với các quan hệ xã hội khác là ở chỗ đó.

Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ
Chí Minh đặt con người và xem xét nó trong các mối quan hệ
xã hội nhất định. Con người mang bản chất xã hội, là thành
viên của cộng đồng xã hội gồm năm cấp độ: gia đinh - họ tộc
- làng - nước - nhân loại. Con người không phải là những cá
thể biệt lập giống như Rôbinxơn ngoài hoang đảo, chỉ có
thông qua các quan hệ xã hội, trong hoạt động thực tiễn sản
xuất vật chất, giao tiếp và tư duy, con người mới thực sự trở
thành người để có thể phân biệt với mọi loài động vật khác.
Những quan hệ xã hội mà Hồ Chí Minh quan tâm là
những quan hệ gắn bó giữa người với người tạo thành cộng
đồng từ hẹp đến rộng: cộng đồng gia đình, họ tộc, làng xã,
dân tộc, nhân loại. Đối với người Việt Nam, những cộng đồng
gia đỉnh, họ tộc, làng xã, dân tộc đã trở nên bền vững, được
bồi đắp qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và
giữ nước, đã góp phẩn hình thành chù nghĩa yêu nước, tinh
thần đoàn kết, nhân nghĩa... là nguồn động lực, sức mạnh tinh
thần trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Hồ Chí Minh đặt con người trong mối quan hệ ba chiều:
Quan hệ với một cộng đồng xã hội nhất định trong đó mỗi
con người là một thành viên; quan hệ với một chế độ xã hội
nhất định, trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức,
bóc lột, quan hệ với tự nhiên trong đó con người là một bộ
phận không thể tách rời, nhưng lại luôn “người hoá ” tự nhiên
trong những cộng đồng xã hội nhât định và bị quy định bởi

những chế độ xã hội nhất định. Con người sống và tồn tại
trong một xã hội, chịu sự che ước của các quan hệ xã hội, các
quan hệ ấy lại không nhất thành bất biến: có loại thay đổi
nhanh, có loại thay đổi chậm, có loại tồn tại tương đối lâu dài,
có loại bị thay thế bời cái khác, khi những điều kiện lịch sử cụ
thể cho sự tồn tại của nó không còn. Sự vận động liên tục của
các quan hệ xã hội quy định bản chất con người, khi các quan
hệ xã hội thay đổi thì bản chất con người cũng thay đổi theo,
điều này hoàn toàn phủ nhận các quan điểm duy tâm siêu hình
cho rằng, bản chất hay bản tính của con người là bất biến.
Khẳng định con người mang bản chất xã hội, song Hồ
Chí Minh không tuyệt đối hoá mặt “xã hội” cùa con người
giống như quan điểm siêu hinh của một số nhà triết học cùng
thời hoặc sau C.Mác, khi đưa ra những tiêu chí để phân biệt
con người với động vật. Chẳng hạn, Phranklin cho rằng con
người khác con vật ở chỗ con người biết sử dụng công cụ lao
động, còn Aristote đã gọi con người là “một động vật có tỉnh

xã h ộ i”. Hồ Chí Minh quan niệm con người không chỉ là thực
thể xã hội mà còn là một thực thể sinh học. Điều này là hoàn
toàn thống nhất với quan điểm của các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác-Lênin.
Theo Hồ Chí Minh, con người muốn tồn tại được thì
trước hết cần phải có ăn, có mặc, “Dân dĩ thực vi thiên ”, nghĩa
là dân lây ăn làm trời, đó là nhu câu tự nhiên của con người
nhưng đã được “người hoá” thành hành vi mang tính xã hội.

Những nhu câu tự nhiên ây của con người được đáp ứng hay
không lại tuỳ thuộc vào chế độ xã hội trong đó con người đang
sinh sống và hoạt động.

Thứ hai, theo Hồ Chí Minh, con người mang bản chất
giai cấp.
Ban đầu, Hồ Chí Minh cũng như phần đông người Việt
Nam đếu quan niệm một cách giản đơn rằng loài người được
phân biệt bởi những màu da khác nhau. Khi đặt chân đến
nước Pháp trên hành trình tim đường cứu nước, Người nhận
ra rằng ở một nước được coi là trung tâm của văn minh châu
Âu như nước Pháp, không chỉ có những người giàu có, mà ở
đó cũng có những người nghèo khổ như Việt Nam và nhận
thấy “những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song
những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo” [76,
tr.23].
Vượt qua ranh giới về màu da - một lý thuyết khá thịnh
hành về “đồng văn đồng chủng” ở Việt Nam những năm đẩu
thế kỷ XX - Hồ Chí Minh nhận thức rằng đã là người dân nô
lệ thì dù màu da gì đi chăng nữa cũng đều là những người

"cùng kh ổ ”; đã là kẻ đi bóc lột, thì dù cho da trang hay da
vàng, ờ phương Tây hay phương Đông đều có chung bản chât
là xấu xa, độc ác. Người kết luận: “dù màu da có khác nhau,
trên đời này chỉ có hai giống người: giong người bóc lột và
giông người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một môi tỉnh hữu ái là
thật mà thôi: tinh hữu ái vô sản” [46, tr.266].

Khi tiếp cận được với học thuyết Mác-Lênin, nhận thức
của Hồ Chí Minh vê bản chất con người dựa trên cơ sở thê
giới quan khoa học. Đứng vững trên lập trường duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, Hồ Chí Minh nhận thấy sự phân
biệt giữa người với người không đơn thuần chỉ là vấn đề
chủng tộc, dân tộc, mà ở chỗ con người đó thuộc về giai cấp
nào? Giai cấp bóc lột hay giai cấp bị bóc lột? Giai cấp thống
trị hay giai cấp bị trị? Sự phân biệt ấy được Hồ Chí Minh gọi
là giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Từ nhận
thức về màu da, chùng tộc, dân tộc, đi đến nhận thức về giai
cấp là quá trình vận động tuân theo quy luật tư duy của Hồ
Chí Minh về vấn đề bản chất con nguời.
Trong xã hội có giai cấp, tính giai cấp của con người
được thể hiện thông qua các quan hệ xã hội, trong đó quan hệ
sản xuất đóng vai trò chi phối. Quán triệt sâu sẳc quan điểm
của C.Mác và Ph.Ảngghen về bản chất con người, Hồ Chí
Minh khẳng định quan hệ sản xuất đã phân chia con người
thành giống người bóc lột và giống người bị bóc lột, đồng
thời lại thấy rõ sự tổng hoà tất cả các quan hệ xã hội tạo thành
bản chất con người. Hồ Chí Minh không tuyệt đoi hoá hoặc
xem nhẹ bât cứ yêu tô nào, vi vậy tránh rơi vào hai xu hướng:

M ột là, coi bản chất con người chỉ còn là bản chất giai cấp,
đông nhât bản chất con người với bản chất giai cấp mà không
thây được sự tông hoà các quan hệ xã hội tạo nên bản chât
con người như C.Mác đã nói; hai là, chỉ thấy bản chât con

người là tổng hoà các quan hệ xã hội nói chung mà không
thấy trong xã hội có giai cấp, quan hệ sản xuất giữ vai trò chi
phoi các quan hệ xã hội khác.
Từ quan điểm lịch sử cụ thể, Hồ Chí Minh nhận thấy sự
phân tầng xã hội - giai cấp ở Việt Nam không giống phương
Tây, những kẻ được coi là đại địa chủ cũng chỉ là những tên
"lùn tịt" bên cạnh những người trùng tên với họ ờ châu Âu và
châu Mỹ, đời sống của địa chủ chẳng có gì xa hoa. Tư sản ở
Việt Nam “chỉ là những kẻ thực lợi khá giả”, chứ không phải
là “những tên trọc phú”, tư sản có bóc lột lao động làm thuê
nhưng cũng “vừa phải trong sự tham lam cùa mình”, vì vậy
mà sự xung đột mâu thuẫn về quyền lợi của giai cấp không
diễn ra gay gẳt như ở phương Tây. Đây là cơ sở xã hội quan
trọng để thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân nhằm
mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con người Việt Nam.

Thứ ba, theo Hồ Chí Minh trong mỗi con người luôn có
sự thống nhất tồn tại đan xen giữa hai mặt đối lập: tốt - xấu
(thiện - ác).
Trong lịch sử tư tường phương Đông đã từng tôn tại
những quan điểm khác nhau về bản chất con người. Mạnh Tử
cho rằng, bản tính con người ta vốn thiện, không một người
nào sinh ra tự nhiên bất thiện, đã là con người thi ai cũng có
trong lòng cái mầm thiện. Ông chỉ rõ sự khác nhau giữa con
người và con vật là ở chỗ, trong mỗi con người đêu có phân
20

quý trọng và phẩn bì tiện, có phân cao đại và phần thấp hèn.
Phẩn quý trọng và cao đại mới là tính người, là cái phân biệt
giữa người với thú. Khác với Mạnh Tử, Tuân Tử cho rằng
bản tính con người vốn ác, đó là kết quả của thói hiếu lợi và
đố kỵ trong mỗi con người khi mới sinh ra. Đe sửa tính ác
thành tính thiện, ông chủ trương cần có sự giáo hoá, dùng lễ
nghĩa và lễ nhạc. Tuy nhiên, điểm giống nhau giữa Mạnh Tử
và Tuân Tử là ở chỗ, các ông đã tuyệt đối hoá tính “thiện”
hay tính “á c ” trong mỗi con người mà không thấy được sự
chuyển hoá giữa chúng khi các quan hệ xã hội thay đổi. Phật
giáo thi cho rằng, con người tiềm ẩn cả cái tốt lẫn cái xấu, cho
nên đạo Phật khuyên người ta biết phân biệt, lựa chọn và
hành động theo cái tốt, hướng theo cái thiện.
Sử dụng những thuật ngữ của Nho giáo, nhưng dựa trên
cơ sờ thế giói quan khoa học và tư duy biện chứng, Hồ Chí
Minh cũng nói: "Người ta ai cũng có tính tốt và tính xấu".
“Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song so người ấy
có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC” [50,
tr.643]. "Theo nghĩa rộng thì cả thế giới và trong một nước có
THIỆN và có ÁC. Theo nghĩa hẹp thì trong bản thân và tư
tường của mỗi một người cũng có THIỆN và có ÁC" [53, tr.
276],
Như vậy, quan niệm cùa Hồ Chí Minh về bản chât con
người có sự thốrm nhất với quan điểm của Nho giáo, Phật
giáo, tuy nhiên có điêm khác ờ chỗ đà nhận thây trong mỗi
21

con người có cả thiện và ác cùng tồn tại đan xen, không thể
phân biệt rạch ròi giữa người này “thiện”, người kia “ác ”, có
chăng chỉ là tương đối do trạng thái biểu hiện nhiều hay ít của
tính “thiện” và tính "ác” trong mỗi con người. Tính “thiện”
hay tính “ác” không nhất thành bất biến mà trái lại luôn có sự
chuyển hóa. Điều đó phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội trong đó
con người sống và hoạt động; tùy thuộc vào sự đấu tranh rèn
luyện và tu dường bền bỉ hang ngày của bản thân mồi người.
Tốt hay xấu không phải là bản tính vốn có, con người ta sinh
ra không phải tự nhiên thành người tốt hay người xấu. Sự
khác nhau đó bị chi phối bởi điều kiện hoàn cảnh xã hội, sự
tương tác giữa con người

VỚI

môi ừường xẵ hội



giáo dục.

Quan điểm Hồ Chí Minh về bản chất con người hoàn
toàn xa lạ với những quan điểm duy tâm siêu hình khi cho
rằng bản chất cùa con người là bất biến đối với những loại
người khác nhau: quân tử hay tiểu nhân, thượng trí hay hạ
ngu, sinh ra để trị người hay để người trị.

về điều này, C.Mác

đã từng khẳng định: Toàn bộ lịch sử chi là sự biến đổi liên tục
của bản tính con người; nhiệm vụ của chúng ta không chỉ tìm
hiểu bản chất con người nói chung, mà còn phải thấy bản chất
đó thay đổi như thế nào trong mỗi thời đại lịch sử nhất định.
Chính điều này đã giải thích tại sao không ít người thuộc các
giai cấp bóc lột lại có thể từ bỏ giai cấp xuất thân của mình để
đi với giai cấp bị bóc lột, tham gia đấu tranh để giải phóng
các giai câp bị bóc lột, thậm chí trở thành lãnh tụ của giai câp

vô sản, như trường hợp của C.Mác, Ph.Ảngghen và V.Lênin
cũng như nhiều lãnh tụ cộng sản khác. Cũng chính từ điêu
này mà chúng ta hiểu được vì sao C.Mác, Ph.Ảngghen,
V.Lênin, Hồ Chí Minh lại đặc biệt coi trọng vấn đề cải tạo
con người cũ, xây dựng con người mới; xây dựng chế độ mới,
đời sống mới cho con người, vỉ con người.
1.1.2.

Con người là vốn quỷ nhất, yếu tố quyết địn

thành công của sự nghiệp cách mạng
Trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, triết học duy tâm và
duy vật nhân bản đều đánh giá không đúng vị trí, vai trò của
con người đối với lịch sử. Tư tưởng tôn giáo cho rằng, mọi sự
thay đổi trong xã hội là do ý chí cùa đấng tối cao, là do “mệnh
trời”, ý chí đó được các cá nhân thực hiện. Những nhà duy vật
trước C.Mác tuy không tin vào thượng đế, thần linh nhưng
cũng không thấy hết được vị trí, vai trò của con người - quần
chúng nhân dân - đối với sự phát triển của lịch sử. Con người
thường được hiểu như là con người - công cụ, con người phương tiện. Pascal ví con người như "một cây sậy, nhimg là

một cây sậy biết suy nghi”', còn L.Phoiơbắc khi đánh giá cao
vai trò của con người đối với lịch sử cũng chỉ hiểu con người
dùng sức mạnh cùa bản thân mình, sức mạnh của cơ bấp tác
động vào thế giới vật chất - trong hành vi lao động sản xuất giành lấy những vật phẩm trong tự nhiên để nuôi sống mình,
ông hạ thâp vai trò của sức mạnh tinh thần, yếu tố tri thức,
đạo đức, tình cảm của con người với tư cách con người - động
23

lực, con người - mục tiêu. Do bị chi phối bởi phương pháp
siêu hình, nên con người chỉ được xem như là những “công
cụ biết nói”, là “phương tiện” hay “trò chơi” trong tay các vĩ
nhân, chịu sự chi phối của các lực lượng thần bí, siêu nhiên.
Con người không bao giờ được coi là động lực, là mục tiêu
của lịch sử mà chỉ đi tim các động lực, mục tiêu ở các yếu tố
bên ngoài con người, bên ngoài lịch sử.
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định rõ vai trò, vị trí của
con người đối với sự phát triển của lịch sử, là động lực của
mọi cuộc cách mạng; con người là chủ thể sáng tạo ra những
giá trị vật chất và tinh thần, đến lượt nó, các giá trị vật chất và
tinh thần lại góp phần làm cho con người tồn tại và phát triển
đúng với bản chất người. Hướng tới giải phóng triệt để con
người là mục tiêu cuối cùng của cách mạng vô sản, bản chất
nhân đạo Mác-xít là giải phóng triệt để con người.
Kế thừa và phát triển tư tưởng nhân ái của dân tộc và
chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, Hồ Chí M inh coi con người là
vốn quý nhất, thể hiện ở cả ba cấp độ: cộng đồng dân tộc
quốc gia (quần chúng nhân dán nói chung); giai cấp, tầng lớp
(công nhân, nông dân, trí thức) và cá nhân. Người khắng
định: ''Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý
bằng nhân dân” [53, tr.276], “Chúng ta phải quý trọng con
người, nhât là công nhân, vì công nhân là vôn quý nhât của xã
hội” [54, tr.373]; “phải biết quý trọng sức người là vốn quý
nhất của ta” [55, tr.313], Coi con người là vốn quý nhât, Hô

Chí Minh đòi hỏi mỗi người phải biết yêu thương đồng loại.
Người cách mạng phải có đức “Nhân”, tức là “phải có lòng
bác ái - yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình” [50,
tr.224]. Yêu thương con người theo Hồ Chí Minh, phải là một
tình cảm rộng lớn, trước hết dành cho những người cùng khổ
bị áp bức bóc lột. Đó phải là một tình cảm đặc biệt không
giống với tình thương tôn giáo; không phải từ bên trên trông
xuống, từ bên ngoài nhìn vào mà điều quan trọ...
 
Gửi ý kiến