Giải pháp tổ chức nâng cao năng lực cho học sinh lớp ghép 1+2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Tu
Ngày gửi: 17h:11' 08-04-2024
Dung lượng: 427.2 KB
Số lượt tải: 71
Nguồn:
Người gửi: Phan Tu
Ngày gửi: 17h:11' 08-04-2024
Dung lượng: 427.2 KB
Số lượt tải: 71
Số lượt thích:
0 người
1
Mục lục
A. MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT...................................................................... 2
B. PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN....................................................... 2
I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ........................................................................ 2
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ............................................................................ 2
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU........................................................................ 2
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................... 2
C. NỘI DUNG ..................................................................................................... 3
I. TÌNH TRẠNG GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT: ........................................................ 3
II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP ............................................................................... 3
1. Mục đích cụ thể, chi tiết của giải pháp ......................................................... 3
2. Mô tả chi tiết bản chất, nội dung của giải pháp ........................................... 4
2.1. Giải pháp 1: Cách bố trí lớp học ................................................................... 4
2.2. Giải pháp 2: Cách xây dựng đội ngũ ban cán sự lớp ............................... 6
2.3. Giải pháp 3: Cách hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho học sinh .................... 6
2.4. Giải pháp 4: Kĩ năng tương tác, đánh giá. ................................................ 8
2.5. Giải pháp 5: Nâng cao năng lực tính toán ................................................. 8
2.6. Giải pháp 6: Nâng cao năng lực ngôn ngữ .............................................. 10
3. Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp
.......................................... 11
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA GIẢI PHÁP:............................................ 11
1. Khả năng áp dụng của giải pháp ................................................................. 11
2. Tóm tắt quá trình tổ chức, áp dụng ............................................................ 11
IV. HIỆU QUẢ, LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DỰ KIẾN: ..................................... 11
V. PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA GIẢI PHÁP ............................................ 12
1. Với học sinh ................................................................................................... 12
2. Với giáo viên .................................................................................................. 12
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
........................................................................... 12
2
A. MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT
Trên con đường hội nhập Quốc tế, Việt Nam luôn được coi là một điểm
sáng về sự thành công khả năng thích ứng, hội nhập. Song bên cạnh đó đất nước
ta còn có rất nhiều vùng miền khó khăn, địa hình chủ yếu là đồi núi, giao thông
đi lại khó khăn. Ở những vùng như thế điều kiện kinh tế hết sức thiếu thốn, dân
cư thường thưa thớt, sống rải rác trên các sườn đồi. Số trẻ em trong độ tuổi đến
trường ở những vùng như vậy cũng tương đối ít, cụ thể ở mỗi trình độ có khoảng
6 đến 7 em. Việc đến trường đối với các em cũng gặp nhiều khó khăn bởi nhà xa
trung tâm trường. Với chủ trương của nhà nước về chế độ bán trú học sinh ở những
điểm bản vùng sâu, vùng xa, vùng cao … được hưởng chế độ bán trú đã phần nào
giúp các em yên tâm đến trường, ở lại trường học tập. Nhưng đó là những em lớn
còn có thể đi bộ đến trường và tự lo được phần nào cho bản thân, còn những em
nhỏ hơn thì gặp vô vàn khó khăn.
Trên những điểm bản, việc tổ chức dạy học đã khó khăn nhưng để dạy học
được, để cho học sinh hiểu bài, giảm bớt sự nhút nhát, tự ti của các em còn khó
khăn hơn. Do ngôn ngữ bất đồng giữa giáo viên và học sinh, do điều kiện kinh tế,
phương tiện nghe nhìn thiếu thốn, không có điện…
Tất cả những điều đó đã hạn chế sự phát triển nhận thức ở các em, dẫn đến
chất lượng học tập ở lớp ghép chưa tốt, sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm
chất của các em còn chậm. Để khắc phục những điều này nhằm nâng cao chất
lượng của lớp ghép tôi đưa ra sáng kiến: Giải pháp tổ chức nâng cao năng lực
cho học sinh lớp ghép 1+2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 tại
điểm trường Pá Liếng trường Tiểu học Hua Nguống.
B. PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Giải pháp tổ chức nâng cao năng lực cho học sinh lớp ghép 1+2 theo
chương trình giáo dục phổ thông 2018
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp ghép 1+2 trường Tiểu học Hua Nguống
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cách sắp xếp, bố trí lớp học
- Nghiên cứu cách xây dựng đội ngũ ban cán lớp
- Nghiên cứu cách hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho học sinh
- nghiên cứu cách kĩ năng tương tác, đánh giá.
- Nghiên cứu cách nâng cao năng lực tính toán
- Nghiên cứu cách nâng cao năng lực ngôn ngữ
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt hiệu quả trong quá trình nghiên cứu tôi đưa ra những phương pháp
nghiên cứu sau.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp quan sát, thực hành
Phương pháp điều tra phỏng vấn
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
3
Phương pháp thống kê toán học
C. NỘI DUNG
I. TÌNH TRẠNG GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT:
Lớp ghép đã có từ lâu không những ở đất nước ta mà có ở nhiều nước trên
thế giới, phù hợp với chủ trương của Đảng và nhà nước về phổ cập giáo dục tiểu
học. Nhằm đem lại những điều tốt đẹp nhất cho trẻ em, đem lại những thuận lợi
cho trẻ. Vì những lớp học này được mở ngay tại điểm bản thuận lợi cho các em
đến trường hằng ngày.
Việc mở lớp ghép góp phần xã hội hóa giáo dục, giúp cho cộng đồng dân
cư ở những vùng bản xa xôi có điều kiện tham gia vào quá trình giáo dục, đẩy
mạnh sự phát triển nhận thức ở các em. Với lớp ghép học sinh không phải đi
quãng đường xa đến trường nên sức khỏe đảm bảo và yên tâm khi đi học. Học
sinh được học trong môi trường thân thiện, thoải mái. Học sinh được làm việc
theo nhóm, được tương tác, thảo luận với các bạn xung quanh. Được sự hỗ trợ của
giáo viên và các bạn.
Tuy nhiên trong quá trình dạy lớp ghép cũng có nhiều hạn chế như việc thời
gian dạy cho các nhóm trình độ sẽ không đầy đủ như lớp đơn, thời gian chia cho
các nhóm trình độ được sắp xếp xen kẽ nhau. Đôi lúc việc dành thời gian cho
nhóm trình độ 1 được ưu tiên hơn, điều này cũng đồng nghĩa với việc nhóm học
sinh trình độ 2 phải tự học dựa theo những yêu cầu của giáo viên trước đó. Việc
bao quát lớp học của giáo viên cũng là một yếu tố góp phần tạo sự thành công cho
lớp ghép.
Các em học sinh lớp ghép hầu hết là con em đồng bào dân tộc, sự giao tiếp
với thế giới bên ngoài và khả năng nói tiếng Việt còn hạn chế. Mặc dù các em đã
được tăng cường Tiếng Việt, nhưng không giao tiếp thường xuyên do vậy vốn
Tiếng Việt tiến bộ không nhiều.
Ngay đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát một số năng lực của học sinh,
kết quả như sau:
Tổng
số
Trình độ 1
Trình độ 2
13
7
6
Năng lực tính toán
Nhận
biết số
Đ CĐ
3
4
Tính
toán
Đ CĐ
1
5
Năng lực ngôn ngữ
Nghe
Đ
1
3
CĐ
6
3
Đọc
Nói
Đ
1
2
CĐ
6
4
Viết
Đ
CĐ
Đ
CĐ
3
3
3
3
Qua khảo sát thấy rằng năng lực của một số học sinh chưa đảm bảo, khả
năng tính toán và hiểu ngôn ngữ tiếng Việt còn hạn chế. Có thế nói đây là một trở
ngại, một thách thức để giáo viên và học sinh cùng đạt mục tiêu mà năm học đề
ra.
II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP
1. Mục đích cụ thể, chi tiết của giải pháp
Sau quá trình thực hiện giảng dạy và khảo sát đầu năm, tôi nhận thấy rất
nhiều học sinh có một số năng lực còn hạn chế, chưa đáp ứng với yêu cầu để có
thể tự giải quyết một số nhiệm vụ đơn giản ngoài thực tế.
4
Năm học 2021-2022 trường Tiểu học Hua Nguống xây dựng trường chuẩn
quốc gia mức độ 2 và kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 3. Vì vậy đây là năm
học bản lề đánh dấu sự thay đổi, một bước ngoặt giúp trường trở thành một trong
những trường trọng điểm của huyện Mường Ảng. Mọi hoạt động dạy học, chất
lượng học sinh cần phải được nâng lên để đáp ứng các tiêu chí khắt khe nhất của
trường chuẩn quốc gia và kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 3. Đây cũng là
năm học mà dịch Covid đang hoành hành khắp thế giới. Việt Nam cũng không
ngoại lệ, đất nước chúng ta cũng đang phải gồng mình để chống chọi với dịch
bệnh. Ngành giáo dục phải đẩy nhanh tiến độ chương trình để chủ động khi dịch
bùng phát. Các thầy cô cũng phải cố gắng thay đổi phương pháp để tìm ra những
phương pháp dạy học hiệu quả nhất, để nâng cao chất lượng.
Năm học 2021-2022 là năm học thứ hai thực hiện chương trình giáo dục
phổ thông 2018 (hay còn gọi là chương trình thay sách). Năm học này thực hiện
cho lớp 1 và lớp 2. Đòi hỏi quá trình dạy học phải đáp ứng giáo dục toàn diện
năng lực và phẩm chất cho học sinh. Để học sinh có thể giải quyết một số vấn đề
cụ thể trong thực tế. Trên hết là năng lực tính toán và năng lực ngôn ngữ được
nâng lên, rút ngắn khoảng cách về năng lực so với học sinh ở trung tâm. Học sinh
tự mình có thể giải quyết vấn đề cụ thể, tự tin khi giao tiếp với bạn bè và mọi
người.
Trong năm học này điểm trường Pá Liếng - trường Tiểu học Hua Nguống
được dự án nuôi em hỗ trợ chi phí ăn trưa. Điều này cũng góp phần giúp gia đình
các em giảm bớt những gánh nặng và giúp các em đến trường đều đặn hơn. Các
em có điều kiện để học tập và yên tâm khi đến trường, giúp chất lượng học sinh
được tăng lên phần nào.
2. Mô tả chi tiết bản chất, nội dung của giải pháp
2.1. Giải pháp 1: Cách bố trí lớp học
Với lớp ghép dù là học theo chương trình cũ hay chương trình giáo dục phổ
thông mới thì ngồi học và hoạt động theo nhóm vẫn là một đặc trưng. Cách bố trí
lớp học, trang trí lớp học hợp lí cũng phần nào ảnh hưởng đến chất lượng, năng
lực tự học, tổ chức hoạt động nhóm của học sinh và cũng thuận lợi cho việc giáo
viên quan sát tổ chức hướng dẫn. Tôi thường tổ chức lớp thành hai nhóm. Hai
nhóm quay mặt về hai phía khác nhau nhưng khi có những tiết học chung, cùng
giải quyết một nhiệm chung thì có thể nhanh chóng cùng quay mặt về cùng một
phía.
Với nhóm trình độ 2 cần sắp xếp chỗ ngồi hợp lí giữa các học sinh để đảm
bảo học sinh có thể tương tác hỗ trợ nhau. Việc sắp xếp vị trí ngồi cho tổ trưởng
sẽ giúp tổ hoạt động tốt hơn, thuận tiện cho việc báo cáo, quan sát của nhóm
trưởng với giáo viên. Đồng thời vị trí tốt cũng giúp tổ trưởng điều hành tổ và giúp
đỡ các bạn tốt hơn.
Trong việc sắp xếp bàn ghế, nếu có thể thì xếp ghế rời bàn, mỗi học sinh
ngồi một ghế, như vậy sẽ thuận lợi cho học sinh hoạt động nhóm, khi cần thiết có
thể xoay ghế khi hoạt động cả lớp hoặc học những môn chung như môn Âm nhạc.
mĩ thuật… Khi học có những tiết học chung hay cần hoạt động cả lớp thì giáo
viên sẽ cho học sinh quay mặt hết về một phía giống như học lớp đơn để thuận
tiện cho việc nghe nhìn của học sinh, giúp việc tổ chức lớp học hiệu quả.
5
Trong lớp học cần bố trí một giá sách để đặt sách vở, đồ dùng, truyện,
báo… đặt ở vị trí thuận lợi thường là khoảng trống giáp tường giữa hai nhóm trình
độ.Vị trí hợp lí sẽ giúp học sinh giảm bớt thời gian trong quá trình chuẩn bị đồ
dùng học tập, cũng như dễ dàng tìm được sách truyện để xem trong các giờ giải
lao. Điều này cũng đòi hỏi việc sắp xếp các góc thật ngăn nắp.
Sơ đồ sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh lớp ghép
Bảng lớp 2
Bàn giáo viên
Giá sách
thư viện
Nhóm TĐ 2
Nhóm TĐ 1
Cửa lớp
Bảng lớp 1
Việc sắp xếp chỗ ngồi như trên đảm bảo phòng học có đủ ánh sáng và cũng
thuận lợi cho việc tổ chức hướng dẫn của giáo viên cho hai nhóm trình độ. Giáo
viên đi lại tiện lợi hơn do khoảng cách giữa 2 nhóm được thu hẹp, giáo viên bao
quát được lớp học khi học sinh hoạt động, báo cáo. Tùy vào số lượng học sinh có
thể sắp xếp thêm bàn.
Trang trí lớp học cũng rất quan trọng, trang trí hài hòa đẹp mắt sẽ làm cho
không gian lớp học được rộng mở, môi trường học tập nhẹ nhàng, thoải mái. Học
sinh học tập tích cực. Các góc cần được trang trí sáng tạo phù hợp với, kích thích
tư duy sáng tạo của học sinh, thuận lợi cho học sinh sử dụng trong quá trình học
tập. Trong góc thư viện nên để một số tập truyện tranh, ngoài giờ học chính khóa
học sinh có thể lấy để đọc, qua đó hoàn thiện kĩ năng đọc hiểu của học sinh. Trang
trí tường không nên sặc sỡ, hoa lá nhiều gây rối chỉ cần trang trí đơn giản, có thể
dùng các hình ảnh mô tả các câu chuyện cổ tích dán vào từng khoảng tường có
những dòng chữ, câu thơ mô tả cho từng tranh. Các câu chuyện cổ tích này cũng
nên thay đổi theo từng giai đoạn. Các tranh này sẽ kích thích hứng thú tìm hiểu
của học sinh. Những dòng chữ, câu thơ làm cho học sinh tò mò muốn tìm hiểu,
muốn đọc, muốn hiểu nghĩa của những dòng chữ câu thơ trên là gì. Qua đó hoàn
thiện về ngôn ngữ nói, ngôn ngữ đọc kích thích tư duy tác động tốt cho hoạt động
học tập của học sinh.
6
2.2. Giải pháp 2: Cách xây dựng đội ngũ ban cán sự lớp
Đối với lớp ghép, việc xây dựng đội ngũ ban cán sự lớp rất quan trọng. Ban
cán sự lớp ghép bao gồm: lớp trưởng, lớp phó, và các tổ trưởng. Do học sinh ở
lớp ghép là học sinh bé (chủ yếu ở hai trình độ 1, 2), lại ở điểm bản xa trung tâm,
ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế, chưa biết trình bày nguyện vọng hay ý nghĩ
của mình trước lớp nên các giáo viên thường chọn những học sinh trội hơn, học
tốt hơn trong lớp mình vào đội ngũ ban cán sự lớp. Theo tôi trước khi bầu chọn
học sinh vào ban cán sự lớp tôi cho các em ngồi tập chung nghe giáo viên giới
thiệu về ban cán sự lớp, các nhiệm vụ mà ban cán sự lớp phải làm, sau đó cho cả
hai nhóm trình độ cùng học cách nói cách làm việc
Ví dụ: Học cách giới thiệu chào hỏi, giới thiệu về lớp của mình
Thưa các bạn hôm nay có các thầy cô giáo đến thăm lớp chúng ta, tôi đề
nghị các bạn nhiệt liệt chào mừng. Kính thưa các thầy cô em xin giới thiệu về lớp
chúng em, lớp em được chia làm 2 nhóm. Nhóm trình độ một gồm có 7 thành viên,
nhóm trình độ hai gồm có 6 thành viên, các bạn đều chăm ngoan, đi học đầy đủ…
Tôi yêu cầu cả lớp cùng học, cùng đọc đồng thanh, có em nhớ chỗ này có
em nhớ chỗ kia cùng nhau hoàn thành lời giới thiệu. Tiếp sau cho từng học sinh
lên làm thử, nếu các em còn chưa thuộc, chưa lưu loát thì các bạn bên dưới sẽ
nhắc hộ, yêu cầu học sinh về nhà nói lại. Với cách làm này học sinh nào cũng có
thể nói, có thể làm thay thế nhiệm vụ của ban cán sự lớp. Tuy nhiên cũng có học
sinh nhận thức nhanh, học sinh nhận thức chậm, học sinh biết cách nói, học sinh
chưa biết cách nói. Là giáo viên chủ nhiệm chúng ta cần bồi dưỡng dần dần những
em đó, không nên quá khắt khe với các em. Hàng tuần, hàng tháng cho các em tập
làm, tập nói, tạo điều kiện cho các em phát triển việc này sẽ giúp các em tự tin
giúp cho năng lực giao tiếp hợp tác được bộc lộ và hình thành.
Khi bầu chọn ban cán sự lớp giáo viên chọn những em ở trình độ lớn làm
chủ tịch hội tự quản, còn lại phó chủ tịch sẽ chọn ở nhóm trình độ bé. Có như vậy
thì hiệu quả điều hành của ban cán sự lớp mới trôi chảy, thuận lợi.
Do lớp ghép thường ít học sinh không đủ để xây dựng nhiều tổ cũng như
các thành phần trong lớp: như lớp phó học tập, lớp phó lao động, quản ca, tổ
trưởng, tổ phó… nên giáo viên cần ghép các nhiệm vụ lại giao cho một số em có
năng lực trội hơn, đồng thời bồi dưỡng dần những em khác. Đôi khi ban cán sự
lớp chỉ cần lớp trưởng, lớp phó và một bạn phụ trách văn nghệ.
Xây dựng ban cán sự lớp ghép rất quan trọng bởi trong quá trình dạy học
giáo viên cần có sự giúp đỡ rất đắc lực của đội ngũ này. Đội ngũ này vừa giúp
giáo viên quản lớp vừa giáo viên tổ chức các hoạt động học tập. Đội ngũ này đóng
vai trò là người thầy thứ hai trong lớp.
2.3. Giải pháp 3: Cách hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho học sinh
Để phát huy 3 năng lực chung và các năng lực đặc thù thì giáo viên cần có cách
hướng dẫn giao việc cho học sinh thật cụ thể.
Học sinh có học tập tốt, có tự mình hoạt động, trao đổi với bạn với nhóm không?
Có phát huy được năng lực tự hoạt động được không? Chính là cách hướng dẫn, giao
nhiệm vụ của giáo viên cho ban cán sự lớp, cho từng cá nhân. Để học sinh phát huy
tối đa năng lực của mình tôi làm như sau:
Với mỗi bài học cần trải qua các bước khởi động – khám phá – thực hành –
7
vận dụng. Ở mỗi bước giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể cho tổ trưởng
- Phần khởi động: lấy những kiến thức liên quan đến bài cũ trên cơ sở học sinh
đã biết và có liên quan đến bài hôm nay để gây sự tò mò, hứng thú cho học sinh
- Phần khám phá: Phần này giáo viên cho học sinh tự làm việc cá nhân, đưa ra
ý kiến của mình trước lớp để cùng giải quyết vấn đề. Việc này sẽ giúp học sinh hình
thành 3 năng lực chung.
- Phần thực hành: giúp học sinh ứng dụng những kiến thức vừa khám phá được
để rèn luyện hình thành kĩ năng
- Phần vận dụng: ứng dụng những kiến thức và kĩ năng vừa học được để giải
quyết những tình huống thực tế.
Khi giao nhiệm vụ giáo viên cần giao nhiệm vụ vừa sức, sử dụng các kĩ thuật
dạy học phù hợp. Với phần khởi động nên sử dụng các trò chơi, câu đố, xem tranh…,
với phần khám phá giáo viên cần cho học sinh tự làm việc trước tùy vào vấn đề khó
dễ mà có thể sử dụng các hình thức hoạt động như cá nhân, cặp đôi, nhóm… nhưng
sẽ ưu tiên việc hoạt động cá nhân. Phần việc này sẽ giúp học sinh phát huy năng lực
tự chủ tự học. Sau mỗi hoạt động học sinh sẽ được trình bày trước lớp, động viên
khuyến khích các học sinh khác tham gia nhận xét đóng góp ý kiến. Qua đó sẽ hình
thành năng lực giao tiếp hợp tác. Ở những vấn đề khó khăn giáo viên cần có những
định hướng trước khi giao nhiệm vụ cho học sinh, để tránh việc học sinh rơi vào bế
tắc gây lãng phí thời gian. Phần luyện tập – vận dụng giáo viên sử dụng những trò
chơi, những tình huống thực tế gần gũi với các em, không nhất thiết phải là những tình
huống trong tài liệu sách giáo khoa. Ví dụ:
Như để thực hành vận dụng kiến thức trong bài phép nhân giáo viên cho học
sinh đếm số viên gạch trong một lớp học. Hỏi học sinh hàng ngang có bao nhiêu viên?
Có bao nhiêu hàng như thế? Học sinh trả lời có 5 viên hàng ngang, có 8 hàng như thế
và sau khi đếm số viên hs nhận biết được phép nhân 5×8 = 40
Đối với nhóm trình độ 1 để cho học sinh phát huy năng lực tự hoạt động của
mình tôi dùng các kí hiểu để truyền đạt nhanh ngôn ngữ của mình, tôi vẽ các kí hiệu
lên phần lề trái của bảng.
Nếu ở tiết tập đọc, khi chỉ vào kí hiệu bên học sinh hiểu mình phải làm
đọc cá nhân.
Chỉ vào kí hiệu 2 vòng tròn, học sinh hiểu là phải đọc theo cặp
Chỉ vào kí hiệu 3 vòng tròn, học sinh hiểu là phải đọc nối tiếp
Với các kí hiệu bên học sinh hiểu được mình phải đọc ở mức độ nào
8
Do không thể thường xuyên chuẩn bị được phiếu giao việc nên tôi thường sử
dụng giấy bóng kính để học sinh có thể dùng bút bi nước làm bài tập trực tiếp trên tài
liệu. Cách làm này tiết kiệm thời gian, chi phí, đảm bảo khoa học, thẩm mĩ.
Do giáo viên và học sinh ở các lớp ghép thường bất đồng về ngôn ngữ, dẫn đến
hiệu quả truyền đạt của của giáo viên đến nhiều học sinh chưa được rõ ràng. Hoặc
nhiều học sinh đọc tài liệu nhưng chưa hiểu được hết nghĩa của tài liệu dẫn đến hiệu
quả hoạt động còn còn thấp, đây cũng là nguyên nhân căn bản nhất làm cho chất lượng
các lớp ghép thường thấp hơn các lớp đơn. Nên tôi dùng những học sinh ở nhóm trình
độ lớn, những học sinh hiểu tiếng Việt nhiều giúp tôi truyền đạt lại lời nói của mình.
Ngoài ra tôi còn sử dụng những học sinh này giúp bạn làm bài tập bởi “học thầy không
tầy học bạn”. Học sinh trở thành người thầy thứ hai, một phiên dịch. Qua đó giáo viên
cũng sẽ hiểu được một phần ngôn ngữ của các em, sẽ có ích rất nhiều cho những giờ
học sau.
Đối với nhóm lớp 1 do các em chưa thể tự mình làm việc với sách giáo khoa nên
thầy cô cần hướng dẫn và giao nhiệm vụ cụ thể để các em tự làm việc, đồng thời trong
thời gian đầu giáo viên cũng dành nhiều thời gian hơn cho học sinh lớp 1
2.4. Giải pháp 4: Kĩ năng tương tác, đánh giá.
Trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả các giờ học, học sinh tự mình
điều chỉnh được hoạt động học, đồng thời tạo hứng thú cho học sinh. Giáo viên
cần tạo được không khí vui tươi, sôi nổi trong giờ học. Kĩ năng tương tác, đánh
giá sẽ giúp giáo viên đạt được điều này.
Khi học sinh hoạt động, giáo viên nên chuẩn bị hệ thống các câu hỏi liên
quan đến từng nhiệm vụ, để kết thúc nhiệm vụ học sinh có thể tương tác với nhau
qua đó khắc sâu kiến thức cho học sinh. Cách làm để cho học sinh tự tương tác
với nhau tốt hơn khi để giáo viên tương tác với học sinh, bởi học sinh được tham
gia tương tác đa chiều vừa được hỏi, vừa được trả lời, có sự góp ý của các bạn
trong nhóm, được góp ý sửa lỗi cho bạn. Giáo viên cần kiểm soát được khi học
sinh tương tác.
Khi học sinh đánh giá nhau, yêu cầu học sinh đánh giá trung thực những việc
bạn đã làm được, những việc bạn chưa làm được, bạn cần phải làm thể nào để
hoàn thành nhiệm vụ đó. Giáo viên đánh giá học sinh theo chiều hướng tích cực,
coi trọng việc động viên, khích lệ đồng thời sửa lỗi tỉ mỉ cho học sinh mắc phải.
Tuy nhiên không đánh giá chung chung, mà cần chỉ ra hạn chế của học sinh, yêu
cầu học sinh phải nghiêm túc khắc phục, để học sinh nhận ra mình đang ở mức
độ nào và cần hoàn thiện như thế nào? Để việc đánh giá có hiệu quả thì giáo viên
nên thường xuyên trao đổi kết quả học tập với phụ huynh để phụ huynh nắm bắt
được tình học tập của con em mình từ đó sẽ giúp học sinh khắc phục được những
tồn tại, phát huy được những mặt tích cực.
2.5. Giải pháp 5: Nâng cao năng lực tính toán
Năng lực tính toán là một năng lực rất cần thiết đối với học sinh, các học
sinh lớp ghép ở vùng cao thường yếu về năng lực này. Để giúp học sinh nâng cao
được năng lực này trước tiên cần cho học sinh hình thành các phép cộng, phép
trừ… để học sinh hiểu rõ bản chất của phép cộng, phép trừ đó là thêm bớt các
đơn vị, bước đầu cho học sinh thực hành trên que tính hoặc trên những hạt ngô,hạt
đỗ... Sau đó thành lập các bảng cộng trừ cho học sinh đọc thuộc. Qua kinh nghiệm
9
giảng dạy tôi thấy học sinh thường có xu hướng học thuộc các bảng cộng theo
trình tự nên khi thực hiện các phép tính học sinh không thực hiện được. Để khắc
phục tôi cho học sinh học thuộc bằng cách xóa dần các kết quả của phép cộng,
hoặc xóa các số hạng cuối cùng là đảo vị trí các phép tính trong bảng rồi cho học
sinh đọc lại nhiều lần bảng cộng đã được đảo phép tính
Ví dụ: Bảng cộng 1
1+1=2
1+5=6
1+2=3
1+3=4
1+3=4
1+8=9
1+4=5
1+4=5
1+5=6
Đảo thành
1+6=7
1+6=7
1+1=2
1+7=8
1+7=8
1+8=9
1 + 9 = 10
1 + 9 = 10
1+2=3
Với bảng cộng khác và đối với các bảng cộng trừ nhân chia ở lớp 2 ta cũng
làm tương tự.
Để học sinh nhớ được phép trừ và thực hiện được phép trừ thì ngoài việc
thuộc bảng cộng tôi cho học sinh thực hiện các phép cộng theo dạng tách các số
chẳng hạn như:
1+8=9
9 = 1 +8 = 8 +1
2+7=9
9 = 2 + 7 = 7 +2
3+6=9
9=3+6=6+3
4+5=9
9 = 4 + 5 = 5 +4
Chuyển thành
5+4=9
6+3=9
7+2=9
8+1=9
Học sinh có kiến thức về tách gộp số thì các em thực hành trừ sẽ đơn giản
hơn. Sau khi học sinh đã hình thành được hết bảng cộng trừ, giáo viên sẽ giảm
dần việc cho học sinh sử dụng que tính vào thực hành. Bởi dùng que tính sẽ làm
cho học sinh lệ thuộc vào que tính rồi lại quên đi hết kiến thức cộng trừ.
Cuối cùng viết tất cả các phép cộng lên một góc bảng và xóa các kết quả
đi. Mỗi sáng đến lớp ban cán sự lớp sẽ cho học sinh truy bài đầu giờ bằng cách
kiểm tra việc học thuộc các bảng cộng được viết một cách ngẫu nhiên.
10
Bảng cộng cho lớp 1
Bảng cộng cho lớp 2
Để nâng cao năng lực tính toán tôi sử dụng một số trò chơi dân gian liên
quan đến toán học vào các giờ trải nghiệm như trò chơi: Ô ăn quan; trò chơi ghép
người, tách người
2.6. Giải pháp 6: Nâng cao năng lực ngôn ngữ
Các em học sinh vùng cao nói chung và các em học sinh lớp ghép nói riêng
thường gặp khó khăn hơn các em học sinh vùng thấp về năng lực ngôn ngữ. Các
em ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Ở nhà các em chỉ giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ
nên việc sử dụng ngôn ngữ phổ thông gặp rất nhiều khó khăn, gặp nhiều lỗi nặng
về phương ngữ. Học sinh dân tộc Mông ngọng vần như quả chuối – quả chối ,Ăn
kem – ăn ken; ngọng dấu hỏi thành dấu nặng; dấu nặng thành dấu hỏi Con nhện
– con nhển… dể khắc phục những lỗi này trước tiên giáo viên cần phải phát âm
11
chuẩn đọc cho học sinh nghe, yêu cầu học sinh đọc lại những phát âm sai. Lúc
đầu học sinh không thể phát âm đúng được, giáo viên chỉnh cho học sinh bằng
cách hướng dẫn học sinh quan sát khẩu hình giáo viên rồi cho học sinh bắt chước
khẩu hình của giáo viên .
Ví dụ để khắc phục học sinh đọc sai âm cuối như Ăn kem – ăn ken
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát giáo viên phát âm tiếng kem và tiếng
ken
Tiếng Kem sau khi phát âm cần ngậm miệng lại chỉ cần phát âm là Ke rồi
ngậm miệng lại. Với tất cả các tiếng có âm cuối là m chúng ta đều thực hành phát
âm như vậy.
Tiếng Ken sau khi phát âm không ngậm miệng mà lấy đầu lưỡi chạm nhẹ
vào răng cửa. Tất cả các tiếng có âm cuối là n ta đều thực hành làm như vậy.
Tiếng Chuối nếu hs đọc sai nhiều thì ta cần tách ra tiếng chuối thành hai
phần chu - ối rồi cho hs đọc 2 tiếng sau đó liền nhau thật nhanh chu…ối.
với các tiếng khác ta cũng làm tương tự và để đọc đúng cần chú ý vào khẩu
hình sau đó dạy học sinh bắt chước theo khẩu hình của giáo viên.
Để hoàn thiện bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tôi tổ chức thêm các hoạt
động trải nghiệm trò chơi, cho học sinh nói về bản thân, gia đình, bản làng, người
thân vào các giờ không chính khóa. Tạo không khí cởi mở thân thiện để học sinh
dễ dàng nêu ý kiến của mình, tăng cường vốn ngôn ngữ tiếng Việt cho các em.
Ngoài ra giáo viên làm thêm lộ trình chuẩn đầu ra môn tiếng Việt cho các
lớp qua đó có kế hoạch và tăng cường biện pháp nhằm đảm bảo
3. Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp
Năm học 2021 – 2022 là năm thứ 2 thực hiện chương trình giáo dục phổ
thông mới và cũng là năm đầu tiên thực hiện cho lớp ghép đối với cả hai trình độ.
Chính vì vậy cách tiếp cận và hình thức tổ chức lớp học khác với lớp ghép truyền
thống. Để phát huy được năng lực của học sinh giáo viên phải sử dụng nhiều
phương pháp cũng như kĩ thuật dạy học khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
trong giải pháp này chú trọng nhiều về năng lực ngôn ngữ và năng lực tính toán
vì đây là hai năng lực cốt lõi của học sinh vùng cao trước khi hình thành những
năng lực khác.
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA GIẢI PHÁP:
1. Khả năng áp dụng của giải pháp
Những giải pháp trên được áp dụng hiệu quả đối với lớp ghép tại điểm bản
tôi đang dạy. Với những giải pháp đó sáng kiến cũng sẽ áp dụng được cho các lớp
ghép khác trong có điều kiện tương đồng
2. Tóm tắt quá trình tổ chức, áp dụng
- Thực hiện khảo sát chất lượng học sinh
- Tổ chức bầu ban cán sự lớp
- Sắp xếp bố trí lớp học
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp
- Đánh giá năng lực của học sinh
IV. HIỆU QUẢ, LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DỰ KIẾN:
12
Trong năm học 2021-2022 tôi đã áp dụng sáng kiến của mình cho lớp ghép
1+2 tại điểm bản Pá Liếng trường Tiểu học Hua Nguống. Nhằm kiểm định lại
chất lượng của sáng kiến tôi tiến hành khảo sát một số năng lực và kết quả như
sau:
Nội dung đánh
giá
Tổng
số
Năng
lực
tính
toán
Năng
lực
ngôn
ngữ
Trước khi thực hiện các giải pháp Sau khi thực hiện các giải pháp
TĐ1
TĐ2
TĐ1
TĐ2
Đạt
Chưa
Đạt
Chưa
Đạt
Chưa
Đạt
Chưa
đạt
đạt
đạt
đạt
13
Nhận
biết số
Tính
toán
Đọc
Viết
Nói
Nghe
7
6
7
6
7
0
6
0
7
0
6
0
6
1
1
5
6
1
6
0
0
0
1
1
7
7
6
6
3
3
2
3
3
3
4
3
7
7
6
7
0
0
1
0
6
6
5
6
0
0
1
0
Sau qua trình áp dụng các giải pháp tôi đánh giá chất lượng học sinh được
nâng lên rõ rệt.
Qua phỏng vấn và quan sát học sinh của mình trong các hoạt động, tôi thấy
học sinh rất tự tin trong giao tiếp, sự nhút nhát, tự ti đã giảm đi đáng kể so với đầu
năm học.
Các học sinh thích thú khi được đến lớp học.
Học sinh biết đánh giá bạn, biết tự đánh giá bản thân mình từ đó điều chỉnh
được quá trình học tập của mình.
Bước đầu năng lực giao tiếp hợp tác được nâng lên.
Học sinh phát triển toàn diện về học tập, năng lực, phẩm chất.
V. PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA GIẢI PHÁP
1. Với học sinh
Học sinh thích thú với cách làm việc dựa vào phiếu giao việc cụ thể, rõ ràng
vừa sức. của giáo viên.
Học sinh có điều kiện và nâng cao được ba năng lực chung và các năng lực
đặc thù
Làm cho học sinh năng động hơn trong quá trình học tập cũng vui chơi, giảm
bớt được sự nhút nhát tự ti ở học sinh vùng cao. Học sinh học được cách giúp đỡ
bạn bè, biết yêu thương quý trọng người khác.
Nâng cao chất lượng học sinh lớp ghép.
2. Với giáo viên
Bản thân tôi trong thời gian triển khai sáng kiến tôi thấy đã giảm được áp
lực khi lên lớp, bởi được ban cán sự lớp hỗ trợ rất nhiều, từ đó tôi dành được
nhiều thời gian hơn để quan tâm đến học sinh yếu, tiếp thu chậm.
Nhiều giáo viên trong trường qua chia sẻ kinh nghiệm cũng rất ủng hộ và
đã chọn nhiều giải pháp trong sáng kiến của tôi để áp dụng vào lớp mình.
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
13
Tăng cường tiếng Việt cho học sinh, đặc biệt là học sinh chuẩn bị vào lớp 1
Tổ chức các buổi chuyên đề cho lớp ghép hiệu quả, chọn những giáo viên có
chuyên môn, hiểu ngôn ngữ địa phương để dạy lớp ghép.
Tổ chức tập huấn dạy lớp ghép hàng năm đồng thời cung cấp những tài liệu
tham khảo về hình thức giảng dạy lớp ghép, để giáo viên nghiên cứu và ứng dụng
vào giảng dạy
Ẳng Cang, Ngày 15 tháng 4 năm2022
XN CỦA NHÀ TRƯỜNG
NGƯỜI BÁO CÁO
HIỆU TRƯỞNG
Phan Mạnh Tú
Mục lục
A. MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT...................................................................... 2
B. PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN....................................................... 2
I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ........................................................................ 2
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ............................................................................ 2
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU........................................................................ 2
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................... 2
C. NỘI DUNG ..................................................................................................... 3
I. TÌNH TRẠNG GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT: ........................................................ 3
II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP ............................................................................... 3
1. Mục đích cụ thể, chi tiết của giải pháp ......................................................... 3
2. Mô tả chi tiết bản chất, nội dung của giải pháp ........................................... 4
2.1. Giải pháp 1: Cách bố trí lớp học ................................................................... 4
2.2. Giải pháp 2: Cách xây dựng đội ngũ ban cán sự lớp ............................... 6
2.3. Giải pháp 3: Cách hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho học sinh .................... 6
2.4. Giải pháp 4: Kĩ năng tương tác, đánh giá. ................................................ 8
2.5. Giải pháp 5: Nâng cao năng lực tính toán ................................................. 8
2.6. Giải pháp 6: Nâng cao năng lực ngôn ngữ .............................................. 10
3. Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp
.......................................... 11
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA GIẢI PHÁP:............................................ 11
1. Khả năng áp dụng của giải pháp ................................................................. 11
2. Tóm tắt quá trình tổ chức, áp dụng ............................................................ 11
IV. HIỆU QUẢ, LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DỰ KIẾN: ..................................... 11
V. PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA GIẢI PHÁP ............................................ 12
1. Với học sinh ................................................................................................... 12
2. Với giáo viên .................................................................................................. 12
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
........................................................................... 12
2
A. MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT
Trên con đường hội nhập Quốc tế, Việt Nam luôn được coi là một điểm
sáng về sự thành công khả năng thích ứng, hội nhập. Song bên cạnh đó đất nước
ta còn có rất nhiều vùng miền khó khăn, địa hình chủ yếu là đồi núi, giao thông
đi lại khó khăn. Ở những vùng như thế điều kiện kinh tế hết sức thiếu thốn, dân
cư thường thưa thớt, sống rải rác trên các sườn đồi. Số trẻ em trong độ tuổi đến
trường ở những vùng như vậy cũng tương đối ít, cụ thể ở mỗi trình độ có khoảng
6 đến 7 em. Việc đến trường đối với các em cũng gặp nhiều khó khăn bởi nhà xa
trung tâm trường. Với chủ trương của nhà nước về chế độ bán trú học sinh ở những
điểm bản vùng sâu, vùng xa, vùng cao … được hưởng chế độ bán trú đã phần nào
giúp các em yên tâm đến trường, ở lại trường học tập. Nhưng đó là những em lớn
còn có thể đi bộ đến trường và tự lo được phần nào cho bản thân, còn những em
nhỏ hơn thì gặp vô vàn khó khăn.
Trên những điểm bản, việc tổ chức dạy học đã khó khăn nhưng để dạy học
được, để cho học sinh hiểu bài, giảm bớt sự nhút nhát, tự ti của các em còn khó
khăn hơn. Do ngôn ngữ bất đồng giữa giáo viên và học sinh, do điều kiện kinh tế,
phương tiện nghe nhìn thiếu thốn, không có điện…
Tất cả những điều đó đã hạn chế sự phát triển nhận thức ở các em, dẫn đến
chất lượng học tập ở lớp ghép chưa tốt, sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm
chất của các em còn chậm. Để khắc phục những điều này nhằm nâng cao chất
lượng của lớp ghép tôi đưa ra sáng kiến: Giải pháp tổ chức nâng cao năng lực
cho học sinh lớp ghép 1+2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 tại
điểm trường Pá Liếng trường Tiểu học Hua Nguống.
B. PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Giải pháp tổ chức nâng cao năng lực cho học sinh lớp ghép 1+2 theo
chương trình giáo dục phổ thông 2018
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp ghép 1+2 trường Tiểu học Hua Nguống
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cách sắp xếp, bố trí lớp học
- Nghiên cứu cách xây dựng đội ngũ ban cán lớp
- Nghiên cứu cách hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho học sinh
- nghiên cứu cách kĩ năng tương tác, đánh giá.
- Nghiên cứu cách nâng cao năng lực tính toán
- Nghiên cứu cách nâng cao năng lực ngôn ngữ
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt hiệu quả trong quá trình nghiên cứu tôi đưa ra những phương pháp
nghiên cứu sau.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp quan sát, thực hành
Phương pháp điều tra phỏng vấn
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
3
Phương pháp thống kê toán học
C. NỘI DUNG
I. TÌNH TRẠNG GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT:
Lớp ghép đã có từ lâu không những ở đất nước ta mà có ở nhiều nước trên
thế giới, phù hợp với chủ trương của Đảng và nhà nước về phổ cập giáo dục tiểu
học. Nhằm đem lại những điều tốt đẹp nhất cho trẻ em, đem lại những thuận lợi
cho trẻ. Vì những lớp học này được mở ngay tại điểm bản thuận lợi cho các em
đến trường hằng ngày.
Việc mở lớp ghép góp phần xã hội hóa giáo dục, giúp cho cộng đồng dân
cư ở những vùng bản xa xôi có điều kiện tham gia vào quá trình giáo dục, đẩy
mạnh sự phát triển nhận thức ở các em. Với lớp ghép học sinh không phải đi
quãng đường xa đến trường nên sức khỏe đảm bảo và yên tâm khi đi học. Học
sinh được học trong môi trường thân thiện, thoải mái. Học sinh được làm việc
theo nhóm, được tương tác, thảo luận với các bạn xung quanh. Được sự hỗ trợ của
giáo viên và các bạn.
Tuy nhiên trong quá trình dạy lớp ghép cũng có nhiều hạn chế như việc thời
gian dạy cho các nhóm trình độ sẽ không đầy đủ như lớp đơn, thời gian chia cho
các nhóm trình độ được sắp xếp xen kẽ nhau. Đôi lúc việc dành thời gian cho
nhóm trình độ 1 được ưu tiên hơn, điều này cũng đồng nghĩa với việc nhóm học
sinh trình độ 2 phải tự học dựa theo những yêu cầu của giáo viên trước đó. Việc
bao quát lớp học của giáo viên cũng là một yếu tố góp phần tạo sự thành công cho
lớp ghép.
Các em học sinh lớp ghép hầu hết là con em đồng bào dân tộc, sự giao tiếp
với thế giới bên ngoài và khả năng nói tiếng Việt còn hạn chế. Mặc dù các em đã
được tăng cường Tiếng Việt, nhưng không giao tiếp thường xuyên do vậy vốn
Tiếng Việt tiến bộ không nhiều.
Ngay đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát một số năng lực của học sinh,
kết quả như sau:
Tổng
số
Trình độ 1
Trình độ 2
13
7
6
Năng lực tính toán
Nhận
biết số
Đ CĐ
3
4
Tính
toán
Đ CĐ
1
5
Năng lực ngôn ngữ
Nghe
Đ
1
3
CĐ
6
3
Đọc
Nói
Đ
1
2
CĐ
6
4
Viết
Đ
CĐ
Đ
CĐ
3
3
3
3
Qua khảo sát thấy rằng năng lực của một số học sinh chưa đảm bảo, khả
năng tính toán và hiểu ngôn ngữ tiếng Việt còn hạn chế. Có thế nói đây là một trở
ngại, một thách thức để giáo viên và học sinh cùng đạt mục tiêu mà năm học đề
ra.
II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP
1. Mục đích cụ thể, chi tiết của giải pháp
Sau quá trình thực hiện giảng dạy và khảo sát đầu năm, tôi nhận thấy rất
nhiều học sinh có một số năng lực còn hạn chế, chưa đáp ứng với yêu cầu để có
thể tự giải quyết một số nhiệm vụ đơn giản ngoài thực tế.
4
Năm học 2021-2022 trường Tiểu học Hua Nguống xây dựng trường chuẩn
quốc gia mức độ 2 và kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 3. Vì vậy đây là năm
học bản lề đánh dấu sự thay đổi, một bước ngoặt giúp trường trở thành một trong
những trường trọng điểm của huyện Mường Ảng. Mọi hoạt động dạy học, chất
lượng học sinh cần phải được nâng lên để đáp ứng các tiêu chí khắt khe nhất của
trường chuẩn quốc gia và kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 3. Đây cũng là
năm học mà dịch Covid đang hoành hành khắp thế giới. Việt Nam cũng không
ngoại lệ, đất nước chúng ta cũng đang phải gồng mình để chống chọi với dịch
bệnh. Ngành giáo dục phải đẩy nhanh tiến độ chương trình để chủ động khi dịch
bùng phát. Các thầy cô cũng phải cố gắng thay đổi phương pháp để tìm ra những
phương pháp dạy học hiệu quả nhất, để nâng cao chất lượng.
Năm học 2021-2022 là năm học thứ hai thực hiện chương trình giáo dục
phổ thông 2018 (hay còn gọi là chương trình thay sách). Năm học này thực hiện
cho lớp 1 và lớp 2. Đòi hỏi quá trình dạy học phải đáp ứng giáo dục toàn diện
năng lực và phẩm chất cho học sinh. Để học sinh có thể giải quyết một số vấn đề
cụ thể trong thực tế. Trên hết là năng lực tính toán và năng lực ngôn ngữ được
nâng lên, rút ngắn khoảng cách về năng lực so với học sinh ở trung tâm. Học sinh
tự mình có thể giải quyết vấn đề cụ thể, tự tin khi giao tiếp với bạn bè và mọi
người.
Trong năm học này điểm trường Pá Liếng - trường Tiểu học Hua Nguống
được dự án nuôi em hỗ trợ chi phí ăn trưa. Điều này cũng góp phần giúp gia đình
các em giảm bớt những gánh nặng và giúp các em đến trường đều đặn hơn. Các
em có điều kiện để học tập và yên tâm khi đến trường, giúp chất lượng học sinh
được tăng lên phần nào.
2. Mô tả chi tiết bản chất, nội dung của giải pháp
2.1. Giải pháp 1: Cách bố trí lớp học
Với lớp ghép dù là học theo chương trình cũ hay chương trình giáo dục phổ
thông mới thì ngồi học và hoạt động theo nhóm vẫn là một đặc trưng. Cách bố trí
lớp học, trang trí lớp học hợp lí cũng phần nào ảnh hưởng đến chất lượng, năng
lực tự học, tổ chức hoạt động nhóm của học sinh và cũng thuận lợi cho việc giáo
viên quan sát tổ chức hướng dẫn. Tôi thường tổ chức lớp thành hai nhóm. Hai
nhóm quay mặt về hai phía khác nhau nhưng khi có những tiết học chung, cùng
giải quyết một nhiệm chung thì có thể nhanh chóng cùng quay mặt về cùng một
phía.
Với nhóm trình độ 2 cần sắp xếp chỗ ngồi hợp lí giữa các học sinh để đảm
bảo học sinh có thể tương tác hỗ trợ nhau. Việc sắp xếp vị trí ngồi cho tổ trưởng
sẽ giúp tổ hoạt động tốt hơn, thuận tiện cho việc báo cáo, quan sát của nhóm
trưởng với giáo viên. Đồng thời vị trí tốt cũng giúp tổ trưởng điều hành tổ và giúp
đỡ các bạn tốt hơn.
Trong việc sắp xếp bàn ghế, nếu có thể thì xếp ghế rời bàn, mỗi học sinh
ngồi một ghế, như vậy sẽ thuận lợi cho học sinh hoạt động nhóm, khi cần thiết có
thể xoay ghế khi hoạt động cả lớp hoặc học những môn chung như môn Âm nhạc.
mĩ thuật… Khi học có những tiết học chung hay cần hoạt động cả lớp thì giáo
viên sẽ cho học sinh quay mặt hết về một phía giống như học lớp đơn để thuận
tiện cho việc nghe nhìn của học sinh, giúp việc tổ chức lớp học hiệu quả.
5
Trong lớp học cần bố trí một giá sách để đặt sách vở, đồ dùng, truyện,
báo… đặt ở vị trí thuận lợi thường là khoảng trống giáp tường giữa hai nhóm trình
độ.Vị trí hợp lí sẽ giúp học sinh giảm bớt thời gian trong quá trình chuẩn bị đồ
dùng học tập, cũng như dễ dàng tìm được sách truyện để xem trong các giờ giải
lao. Điều này cũng đòi hỏi việc sắp xếp các góc thật ngăn nắp.
Sơ đồ sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh lớp ghép
Bảng lớp 2
Bàn giáo viên
Giá sách
thư viện
Nhóm TĐ 2
Nhóm TĐ 1
Cửa lớp
Bảng lớp 1
Việc sắp xếp chỗ ngồi như trên đảm bảo phòng học có đủ ánh sáng và cũng
thuận lợi cho việc tổ chức hướng dẫn của giáo viên cho hai nhóm trình độ. Giáo
viên đi lại tiện lợi hơn do khoảng cách giữa 2 nhóm được thu hẹp, giáo viên bao
quát được lớp học khi học sinh hoạt động, báo cáo. Tùy vào số lượng học sinh có
thể sắp xếp thêm bàn.
Trang trí lớp học cũng rất quan trọng, trang trí hài hòa đẹp mắt sẽ làm cho
không gian lớp học được rộng mở, môi trường học tập nhẹ nhàng, thoải mái. Học
sinh học tập tích cực. Các góc cần được trang trí sáng tạo phù hợp với, kích thích
tư duy sáng tạo của học sinh, thuận lợi cho học sinh sử dụng trong quá trình học
tập. Trong góc thư viện nên để một số tập truyện tranh, ngoài giờ học chính khóa
học sinh có thể lấy để đọc, qua đó hoàn thiện kĩ năng đọc hiểu của học sinh. Trang
trí tường không nên sặc sỡ, hoa lá nhiều gây rối chỉ cần trang trí đơn giản, có thể
dùng các hình ảnh mô tả các câu chuyện cổ tích dán vào từng khoảng tường có
những dòng chữ, câu thơ mô tả cho từng tranh. Các câu chuyện cổ tích này cũng
nên thay đổi theo từng giai đoạn. Các tranh này sẽ kích thích hứng thú tìm hiểu
của học sinh. Những dòng chữ, câu thơ làm cho học sinh tò mò muốn tìm hiểu,
muốn đọc, muốn hiểu nghĩa của những dòng chữ câu thơ trên là gì. Qua đó hoàn
thiện về ngôn ngữ nói, ngôn ngữ đọc kích thích tư duy tác động tốt cho hoạt động
học tập của học sinh.
6
2.2. Giải pháp 2: Cách xây dựng đội ngũ ban cán sự lớp
Đối với lớp ghép, việc xây dựng đội ngũ ban cán sự lớp rất quan trọng. Ban
cán sự lớp ghép bao gồm: lớp trưởng, lớp phó, và các tổ trưởng. Do học sinh ở
lớp ghép là học sinh bé (chủ yếu ở hai trình độ 1, 2), lại ở điểm bản xa trung tâm,
ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế, chưa biết trình bày nguyện vọng hay ý nghĩ
của mình trước lớp nên các giáo viên thường chọn những học sinh trội hơn, học
tốt hơn trong lớp mình vào đội ngũ ban cán sự lớp. Theo tôi trước khi bầu chọn
học sinh vào ban cán sự lớp tôi cho các em ngồi tập chung nghe giáo viên giới
thiệu về ban cán sự lớp, các nhiệm vụ mà ban cán sự lớp phải làm, sau đó cho cả
hai nhóm trình độ cùng học cách nói cách làm việc
Ví dụ: Học cách giới thiệu chào hỏi, giới thiệu về lớp của mình
Thưa các bạn hôm nay có các thầy cô giáo đến thăm lớp chúng ta, tôi đề
nghị các bạn nhiệt liệt chào mừng. Kính thưa các thầy cô em xin giới thiệu về lớp
chúng em, lớp em được chia làm 2 nhóm. Nhóm trình độ một gồm có 7 thành viên,
nhóm trình độ hai gồm có 6 thành viên, các bạn đều chăm ngoan, đi học đầy đủ…
Tôi yêu cầu cả lớp cùng học, cùng đọc đồng thanh, có em nhớ chỗ này có
em nhớ chỗ kia cùng nhau hoàn thành lời giới thiệu. Tiếp sau cho từng học sinh
lên làm thử, nếu các em còn chưa thuộc, chưa lưu loát thì các bạn bên dưới sẽ
nhắc hộ, yêu cầu học sinh về nhà nói lại. Với cách làm này học sinh nào cũng có
thể nói, có thể làm thay thế nhiệm vụ của ban cán sự lớp. Tuy nhiên cũng có học
sinh nhận thức nhanh, học sinh nhận thức chậm, học sinh biết cách nói, học sinh
chưa biết cách nói. Là giáo viên chủ nhiệm chúng ta cần bồi dưỡng dần dần những
em đó, không nên quá khắt khe với các em. Hàng tuần, hàng tháng cho các em tập
làm, tập nói, tạo điều kiện cho các em phát triển việc này sẽ giúp các em tự tin
giúp cho năng lực giao tiếp hợp tác được bộc lộ và hình thành.
Khi bầu chọn ban cán sự lớp giáo viên chọn những em ở trình độ lớn làm
chủ tịch hội tự quản, còn lại phó chủ tịch sẽ chọn ở nhóm trình độ bé. Có như vậy
thì hiệu quả điều hành của ban cán sự lớp mới trôi chảy, thuận lợi.
Do lớp ghép thường ít học sinh không đủ để xây dựng nhiều tổ cũng như
các thành phần trong lớp: như lớp phó học tập, lớp phó lao động, quản ca, tổ
trưởng, tổ phó… nên giáo viên cần ghép các nhiệm vụ lại giao cho một số em có
năng lực trội hơn, đồng thời bồi dưỡng dần những em khác. Đôi khi ban cán sự
lớp chỉ cần lớp trưởng, lớp phó và một bạn phụ trách văn nghệ.
Xây dựng ban cán sự lớp ghép rất quan trọng bởi trong quá trình dạy học
giáo viên cần có sự giúp đỡ rất đắc lực của đội ngũ này. Đội ngũ này vừa giúp
giáo viên quản lớp vừa giáo viên tổ chức các hoạt động học tập. Đội ngũ này đóng
vai trò là người thầy thứ hai trong lớp.
2.3. Giải pháp 3: Cách hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho học sinh
Để phát huy 3 năng lực chung và các năng lực đặc thù thì giáo viên cần có cách
hướng dẫn giao việc cho học sinh thật cụ thể.
Học sinh có học tập tốt, có tự mình hoạt động, trao đổi với bạn với nhóm không?
Có phát huy được năng lực tự hoạt động được không? Chính là cách hướng dẫn, giao
nhiệm vụ của giáo viên cho ban cán sự lớp, cho từng cá nhân. Để học sinh phát huy
tối đa năng lực của mình tôi làm như sau:
Với mỗi bài học cần trải qua các bước khởi động – khám phá – thực hành –
7
vận dụng. Ở mỗi bước giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể cho tổ trưởng
- Phần khởi động: lấy những kiến thức liên quan đến bài cũ trên cơ sở học sinh
đã biết và có liên quan đến bài hôm nay để gây sự tò mò, hứng thú cho học sinh
- Phần khám phá: Phần này giáo viên cho học sinh tự làm việc cá nhân, đưa ra
ý kiến của mình trước lớp để cùng giải quyết vấn đề. Việc này sẽ giúp học sinh hình
thành 3 năng lực chung.
- Phần thực hành: giúp học sinh ứng dụng những kiến thức vừa khám phá được
để rèn luyện hình thành kĩ năng
- Phần vận dụng: ứng dụng những kiến thức và kĩ năng vừa học được để giải
quyết những tình huống thực tế.
Khi giao nhiệm vụ giáo viên cần giao nhiệm vụ vừa sức, sử dụng các kĩ thuật
dạy học phù hợp. Với phần khởi động nên sử dụng các trò chơi, câu đố, xem tranh…,
với phần khám phá giáo viên cần cho học sinh tự làm việc trước tùy vào vấn đề khó
dễ mà có thể sử dụng các hình thức hoạt động như cá nhân, cặp đôi, nhóm… nhưng
sẽ ưu tiên việc hoạt động cá nhân. Phần việc này sẽ giúp học sinh phát huy năng lực
tự chủ tự học. Sau mỗi hoạt động học sinh sẽ được trình bày trước lớp, động viên
khuyến khích các học sinh khác tham gia nhận xét đóng góp ý kiến. Qua đó sẽ hình
thành năng lực giao tiếp hợp tác. Ở những vấn đề khó khăn giáo viên cần có những
định hướng trước khi giao nhiệm vụ cho học sinh, để tránh việc học sinh rơi vào bế
tắc gây lãng phí thời gian. Phần luyện tập – vận dụng giáo viên sử dụng những trò
chơi, những tình huống thực tế gần gũi với các em, không nhất thiết phải là những tình
huống trong tài liệu sách giáo khoa. Ví dụ:
Như để thực hành vận dụng kiến thức trong bài phép nhân giáo viên cho học
sinh đếm số viên gạch trong một lớp học. Hỏi học sinh hàng ngang có bao nhiêu viên?
Có bao nhiêu hàng như thế? Học sinh trả lời có 5 viên hàng ngang, có 8 hàng như thế
và sau khi đếm số viên hs nhận biết được phép nhân 5×8 = 40
Đối với nhóm trình độ 1 để cho học sinh phát huy năng lực tự hoạt động của
mình tôi dùng các kí hiểu để truyền đạt nhanh ngôn ngữ của mình, tôi vẽ các kí hiệu
lên phần lề trái của bảng.
Nếu ở tiết tập đọc, khi chỉ vào kí hiệu bên học sinh hiểu mình phải làm
đọc cá nhân.
Chỉ vào kí hiệu 2 vòng tròn, học sinh hiểu là phải đọc theo cặp
Chỉ vào kí hiệu 3 vòng tròn, học sinh hiểu là phải đọc nối tiếp
Với các kí hiệu bên học sinh hiểu được mình phải đọc ở mức độ nào
8
Do không thể thường xuyên chuẩn bị được phiếu giao việc nên tôi thường sử
dụng giấy bóng kính để học sinh có thể dùng bút bi nước làm bài tập trực tiếp trên tài
liệu. Cách làm này tiết kiệm thời gian, chi phí, đảm bảo khoa học, thẩm mĩ.
Do giáo viên và học sinh ở các lớp ghép thường bất đồng về ngôn ngữ, dẫn đến
hiệu quả truyền đạt của của giáo viên đến nhiều học sinh chưa được rõ ràng. Hoặc
nhiều học sinh đọc tài liệu nhưng chưa hiểu được hết nghĩa của tài liệu dẫn đến hiệu
quả hoạt động còn còn thấp, đây cũng là nguyên nhân căn bản nhất làm cho chất lượng
các lớp ghép thường thấp hơn các lớp đơn. Nên tôi dùng những học sinh ở nhóm trình
độ lớn, những học sinh hiểu tiếng Việt nhiều giúp tôi truyền đạt lại lời nói của mình.
Ngoài ra tôi còn sử dụng những học sinh này giúp bạn làm bài tập bởi “học thầy không
tầy học bạn”. Học sinh trở thành người thầy thứ hai, một phiên dịch. Qua đó giáo viên
cũng sẽ hiểu được một phần ngôn ngữ của các em, sẽ có ích rất nhiều cho những giờ
học sau.
Đối với nhóm lớp 1 do các em chưa thể tự mình làm việc với sách giáo khoa nên
thầy cô cần hướng dẫn và giao nhiệm vụ cụ thể để các em tự làm việc, đồng thời trong
thời gian đầu giáo viên cũng dành nhiều thời gian hơn cho học sinh lớp 1
2.4. Giải pháp 4: Kĩ năng tương tác, đánh giá.
Trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả các giờ học, học sinh tự mình
điều chỉnh được hoạt động học, đồng thời tạo hứng thú cho học sinh. Giáo viên
cần tạo được không khí vui tươi, sôi nổi trong giờ học. Kĩ năng tương tác, đánh
giá sẽ giúp giáo viên đạt được điều này.
Khi học sinh hoạt động, giáo viên nên chuẩn bị hệ thống các câu hỏi liên
quan đến từng nhiệm vụ, để kết thúc nhiệm vụ học sinh có thể tương tác với nhau
qua đó khắc sâu kiến thức cho học sinh. Cách làm để cho học sinh tự tương tác
với nhau tốt hơn khi để giáo viên tương tác với học sinh, bởi học sinh được tham
gia tương tác đa chiều vừa được hỏi, vừa được trả lời, có sự góp ý của các bạn
trong nhóm, được góp ý sửa lỗi cho bạn. Giáo viên cần kiểm soát được khi học
sinh tương tác.
Khi học sinh đánh giá nhau, yêu cầu học sinh đánh giá trung thực những việc
bạn đã làm được, những việc bạn chưa làm được, bạn cần phải làm thể nào để
hoàn thành nhiệm vụ đó. Giáo viên đánh giá học sinh theo chiều hướng tích cực,
coi trọng việc động viên, khích lệ đồng thời sửa lỗi tỉ mỉ cho học sinh mắc phải.
Tuy nhiên không đánh giá chung chung, mà cần chỉ ra hạn chế của học sinh, yêu
cầu học sinh phải nghiêm túc khắc phục, để học sinh nhận ra mình đang ở mức
độ nào và cần hoàn thiện như thế nào? Để việc đánh giá có hiệu quả thì giáo viên
nên thường xuyên trao đổi kết quả học tập với phụ huynh để phụ huynh nắm bắt
được tình học tập của con em mình từ đó sẽ giúp học sinh khắc phục được những
tồn tại, phát huy được những mặt tích cực.
2.5. Giải pháp 5: Nâng cao năng lực tính toán
Năng lực tính toán là một năng lực rất cần thiết đối với học sinh, các học
sinh lớp ghép ở vùng cao thường yếu về năng lực này. Để giúp học sinh nâng cao
được năng lực này trước tiên cần cho học sinh hình thành các phép cộng, phép
trừ… để học sinh hiểu rõ bản chất của phép cộng, phép trừ đó là thêm bớt các
đơn vị, bước đầu cho học sinh thực hành trên que tính hoặc trên những hạt ngô,hạt
đỗ... Sau đó thành lập các bảng cộng trừ cho học sinh đọc thuộc. Qua kinh nghiệm
9
giảng dạy tôi thấy học sinh thường có xu hướng học thuộc các bảng cộng theo
trình tự nên khi thực hiện các phép tính học sinh không thực hiện được. Để khắc
phục tôi cho học sinh học thuộc bằng cách xóa dần các kết quả của phép cộng,
hoặc xóa các số hạng cuối cùng là đảo vị trí các phép tính trong bảng rồi cho học
sinh đọc lại nhiều lần bảng cộng đã được đảo phép tính
Ví dụ: Bảng cộng 1
1+1=2
1+5=6
1+2=3
1+3=4
1+3=4
1+8=9
1+4=5
1+4=5
1+5=6
Đảo thành
1+6=7
1+6=7
1+1=2
1+7=8
1+7=8
1+8=9
1 + 9 = 10
1 + 9 = 10
1+2=3
Với bảng cộng khác và đối với các bảng cộng trừ nhân chia ở lớp 2 ta cũng
làm tương tự.
Để học sinh nhớ được phép trừ và thực hiện được phép trừ thì ngoài việc
thuộc bảng cộng tôi cho học sinh thực hiện các phép cộng theo dạng tách các số
chẳng hạn như:
1+8=9
9 = 1 +8 = 8 +1
2+7=9
9 = 2 + 7 = 7 +2
3+6=9
9=3+6=6+3
4+5=9
9 = 4 + 5 = 5 +4
Chuyển thành
5+4=9
6+3=9
7+2=9
8+1=9
Học sinh có kiến thức về tách gộp số thì các em thực hành trừ sẽ đơn giản
hơn. Sau khi học sinh đã hình thành được hết bảng cộng trừ, giáo viên sẽ giảm
dần việc cho học sinh sử dụng que tính vào thực hành. Bởi dùng que tính sẽ làm
cho học sinh lệ thuộc vào que tính rồi lại quên đi hết kiến thức cộng trừ.
Cuối cùng viết tất cả các phép cộng lên một góc bảng và xóa các kết quả
đi. Mỗi sáng đến lớp ban cán sự lớp sẽ cho học sinh truy bài đầu giờ bằng cách
kiểm tra việc học thuộc các bảng cộng được viết một cách ngẫu nhiên.
10
Bảng cộng cho lớp 1
Bảng cộng cho lớp 2
Để nâng cao năng lực tính toán tôi sử dụng một số trò chơi dân gian liên
quan đến toán học vào các giờ trải nghiệm như trò chơi: Ô ăn quan; trò chơi ghép
người, tách người
2.6. Giải pháp 6: Nâng cao năng lực ngôn ngữ
Các em học sinh vùng cao nói chung và các em học sinh lớp ghép nói riêng
thường gặp khó khăn hơn các em học sinh vùng thấp về năng lực ngôn ngữ. Các
em ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Ở nhà các em chỉ giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ
nên việc sử dụng ngôn ngữ phổ thông gặp rất nhiều khó khăn, gặp nhiều lỗi nặng
về phương ngữ. Học sinh dân tộc Mông ngọng vần như quả chuối – quả chối ,Ăn
kem – ăn ken; ngọng dấu hỏi thành dấu nặng; dấu nặng thành dấu hỏi Con nhện
– con nhển… dể khắc phục những lỗi này trước tiên giáo viên cần phải phát âm
11
chuẩn đọc cho học sinh nghe, yêu cầu học sinh đọc lại những phát âm sai. Lúc
đầu học sinh không thể phát âm đúng được, giáo viên chỉnh cho học sinh bằng
cách hướng dẫn học sinh quan sát khẩu hình giáo viên rồi cho học sinh bắt chước
khẩu hình của giáo viên .
Ví dụ để khắc phục học sinh đọc sai âm cuối như Ăn kem – ăn ken
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát giáo viên phát âm tiếng kem và tiếng
ken
Tiếng Kem sau khi phát âm cần ngậm miệng lại chỉ cần phát âm là Ke rồi
ngậm miệng lại. Với tất cả các tiếng có âm cuối là m chúng ta đều thực hành phát
âm như vậy.
Tiếng Ken sau khi phát âm không ngậm miệng mà lấy đầu lưỡi chạm nhẹ
vào răng cửa. Tất cả các tiếng có âm cuối là n ta đều thực hành làm như vậy.
Tiếng Chuối nếu hs đọc sai nhiều thì ta cần tách ra tiếng chuối thành hai
phần chu - ối rồi cho hs đọc 2 tiếng sau đó liền nhau thật nhanh chu…ối.
với các tiếng khác ta cũng làm tương tự và để đọc đúng cần chú ý vào khẩu
hình sau đó dạy học sinh bắt chước theo khẩu hình của giáo viên.
Để hoàn thiện bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tôi tổ chức thêm các hoạt
động trải nghiệm trò chơi, cho học sinh nói về bản thân, gia đình, bản làng, người
thân vào các giờ không chính khóa. Tạo không khí cởi mở thân thiện để học sinh
dễ dàng nêu ý kiến của mình, tăng cường vốn ngôn ngữ tiếng Việt cho các em.
Ngoài ra giáo viên làm thêm lộ trình chuẩn đầu ra môn tiếng Việt cho các
lớp qua đó có kế hoạch và tăng cường biện pháp nhằm đảm bảo
3. Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp
Năm học 2021 – 2022 là năm thứ 2 thực hiện chương trình giáo dục phổ
thông mới và cũng là năm đầu tiên thực hiện cho lớp ghép đối với cả hai trình độ.
Chính vì vậy cách tiếp cận và hình thức tổ chức lớp học khác với lớp ghép truyền
thống. Để phát huy được năng lực của học sinh giáo viên phải sử dụng nhiều
phương pháp cũng như kĩ thuật dạy học khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
trong giải pháp này chú trọng nhiều về năng lực ngôn ngữ và năng lực tính toán
vì đây là hai năng lực cốt lõi của học sinh vùng cao trước khi hình thành những
năng lực khác.
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA GIẢI PHÁP:
1. Khả năng áp dụng của giải pháp
Những giải pháp trên được áp dụng hiệu quả đối với lớp ghép tại điểm bản
tôi đang dạy. Với những giải pháp đó sáng kiến cũng sẽ áp dụng được cho các lớp
ghép khác trong có điều kiện tương đồng
2. Tóm tắt quá trình tổ chức, áp dụng
- Thực hiện khảo sát chất lượng học sinh
- Tổ chức bầu ban cán sự lớp
- Sắp xếp bố trí lớp học
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp
- Đánh giá năng lực của học sinh
IV. HIỆU QUẢ, LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DỰ KIẾN:
12
Trong năm học 2021-2022 tôi đã áp dụng sáng kiến của mình cho lớp ghép
1+2 tại điểm bản Pá Liếng trường Tiểu học Hua Nguống. Nhằm kiểm định lại
chất lượng của sáng kiến tôi tiến hành khảo sát một số năng lực và kết quả như
sau:
Nội dung đánh
giá
Tổng
số
Năng
lực
tính
toán
Năng
lực
ngôn
ngữ
Trước khi thực hiện các giải pháp Sau khi thực hiện các giải pháp
TĐ1
TĐ2
TĐ1
TĐ2
Đạt
Chưa
Đạt
Chưa
Đạt
Chưa
Đạt
Chưa
đạt
đạt
đạt
đạt
13
Nhận
biết số
Tính
toán
Đọc
Viết
Nói
Nghe
7
6
7
6
7
0
6
0
7
0
6
0
6
1
1
5
6
1
6
0
0
0
1
1
7
7
6
6
3
3
2
3
3
3
4
3
7
7
6
7
0
0
1
0
6
6
5
6
0
0
1
0
Sau qua trình áp dụng các giải pháp tôi đánh giá chất lượng học sinh được
nâng lên rõ rệt.
Qua phỏng vấn và quan sát học sinh của mình trong các hoạt động, tôi thấy
học sinh rất tự tin trong giao tiếp, sự nhút nhát, tự ti đã giảm đi đáng kể so với đầu
năm học.
Các học sinh thích thú khi được đến lớp học.
Học sinh biết đánh giá bạn, biết tự đánh giá bản thân mình từ đó điều chỉnh
được quá trình học tập của mình.
Bước đầu năng lực giao tiếp hợp tác được nâng lên.
Học sinh phát triển toàn diện về học tập, năng lực, phẩm chất.
V. PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA GIẢI PHÁP
1. Với học sinh
Học sinh thích thú với cách làm việc dựa vào phiếu giao việc cụ thể, rõ ràng
vừa sức. của giáo viên.
Học sinh có điều kiện và nâng cao được ba năng lực chung và các năng lực
đặc thù
Làm cho học sinh năng động hơn trong quá trình học tập cũng vui chơi, giảm
bớt được sự nhút nhát tự ti ở học sinh vùng cao. Học sinh học được cách giúp đỡ
bạn bè, biết yêu thương quý trọng người khác.
Nâng cao chất lượng học sinh lớp ghép.
2. Với giáo viên
Bản thân tôi trong thời gian triển khai sáng kiến tôi thấy đã giảm được áp
lực khi lên lớp, bởi được ban cán sự lớp hỗ trợ rất nhiều, từ đó tôi dành được
nhiều thời gian hơn để quan tâm đến học sinh yếu, tiếp thu chậm.
Nhiều giáo viên trong trường qua chia sẻ kinh nghiệm cũng rất ủng hộ và
đã chọn nhiều giải pháp trong sáng kiến của tôi để áp dụng vào lớp mình.
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
13
Tăng cường tiếng Việt cho học sinh, đặc biệt là học sinh chuẩn bị vào lớp 1
Tổ chức các buổi chuyên đề cho lớp ghép hiệu quả, chọn những giáo viên có
chuyên môn, hiểu ngôn ngữ địa phương để dạy lớp ghép.
Tổ chức tập huấn dạy lớp ghép hàng năm đồng thời cung cấp những tài liệu
tham khảo về hình thức giảng dạy lớp ghép, để giáo viên nghiên cứu và ứng dụng
vào giảng dạy
Ẳng Cang, Ngày 15 tháng 4 năm2022
XN CỦA NHÀ TRƯỜNG
NGƯỜI BÁO CÁO
HIỆU TRƯỞNG
Phan Mạnh Tú
 








Các ý kiến mới nhất