Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

CON ĐƯỜNG MỚI CỦA VẬT LÝ HỌC

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 13h:42' 18-03-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
CON ĐƯỜNG MỚI CỦA VẬT LÝ HỌC

2

Không có gì khác hơn ngoài vật chất vận động.
Vật chất vận động không có cách gì khác hơn là nhờ:
“đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập,
theo phương thức lượng đổi-chất đổi”.

CON ĐƯỜNG MỚI CỦA VẬT LÝ HỌC

3

LỜI NÓI ĐẦU
Thế kỷ XX đã qua đi trong “sóng gió” của khoa học và công nghệ nhưng sự
khủng hoảng sâu sắc về nền tảng tư tưởng của vật lý học nói riêng và khoa học tự
nhiên nói chung khiến chúng ta không thể không suy ngẫm và trăn trở: vật chất
liệu có đúng là được sinh ra từ Big Bang? Và không gian, thời gian cũng được
sinh ra từ đó? Liệu có tồn tại một Đấng sáng thế điều khiển mọi quá trình ngay từ
giây phút đó với mục đích để loài người xuất hiện? Và rồi những hiện tượng “tâm
linh” như việc đi tìm mộ của Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Liên, Phan thị Bích
Hằng... liệu có nói lên rằng ý thức có thể thực sự tồn tại bên ngoài vật chất? Bước
sang thế kỷ XXI, những dư âm của “một thời đã qua” vẫn đè nặng lên tâm tư của
những người làm khoa học một cách thật sự nghiêm túc.
Vào năm 1988, khi một lần nữa tôi có dịp quay lại nghiên cứu một cách bài
bản về môn “triết học Mác-Lênin”, vì phải trả thi tối thiểu trong chương trình
nghiên cứu sinh tại trường Đại học Bách khoa Ki-ev, U-cra-in-na (Liên xô cũ), tôi
đã lựa chọn đề tài luận văn triết học với tựa đề “Phân tích các phạm trù cơ bản của
triết học” (tất nhiên là bằng tiếng Nga) mà sau này đã làm cơ sở cho tư duy của
tôi. Nhờ trang bị được một phương pháp luận duy vật biện chứng triệt để, tôi bắt
đầu chuyển cách nghiên cứu vật lý theo một hướng khác: “đặt lại toàn bộ nền
móng tư tưởng cho vật lý” với phương châm: “trả lại vật lý cho vật lý” vì vật lý
hiện đại đã bị “siêu hình hóa” và “toán học hóa” tới mức có thể nói “không còn là
vật lý nữa”! Vậy là sau hơn 35 năm “đơn thương độc mã” trên con đường đi tìm
một lý thuyết thống nhất cho vật lý học, cuối cùng tôi cũng đã đạt được những kết
quả phù hợp với hầu hết các hiệu ứng và thực nghiệm hiện có trong vật lý, và có
lẽ như người đời thường nói “may hơn khôn”! Còn, nói như Newton có lẽ đúng
hơn chăng: “vì tôi đứng trên vai những người khổng lồ”. Vâng! Những người

CON ĐƯỜNG MỚI CỦA VẬT LÝ HỌC

4

khổng lồ đó là K. Marx, F. Anggel, I. Newton, A. Einstein, ... Lý thuyết của các
ông là xuất phát điểm cho những nghiên cứu và cũng là điều kiện tiên quyết cho
mọi thành công của tôi – thành thật kính cẩn nghiêng mình trước những thiên tài
của mọi thời đại!
Đây là tác phẩm đầu tiên của tác giả sau hơn 35 năm nghiên cứu mà trước
đó chưa được đăng tải bất cứ một công trình nào. Một phần vì tiếng Anh của tôi
chỉ tàm tạm để đọc các tài liệu khoa học, không thể chuyển tải được những nội
dung mà tôi đã thực hiện, trong khi ở trong nước không có lấy một tạp chí vật lý
bằng tiếng Việt nào; một phần khác là tự xét thấy các vấn đề được nêu ra và giải
quyết chưa thật trọn vẹn trong một bối cảnh chung thì rất khó thuyết phục khi hầu
như toàn bộ “giới vật lý chính thống” đều đang say xưa với “Mô hình chuẩn”, với
“siêu đối xứng”... mà nếu so sánh với nó, thì trong con mắt của họ, những gì tôi
đang làm chẳng khác gì “đồ chơi con trẻ”! Mặc dù vậy, cũng có lúc tôi đã thử cố
gắng kết giao với những nhà vật lý có tên tuổi trong nước, nhưng đều bị chối từ,
vì có lẽ không một ai tin vào một “nhà vật lý nghiệp dư” với một hướng đi “lạ
kiểu” mà dường như quá “tầm thường”, vì ở đây, hầu như chỉ có các khái niệm
“lành mạnh”, trong khi lẽ ra phải “siêu hình” và hơn thế nữa – phải thật “điên rồ”!
Vả lại, gần đây ở nước ta, xuất hiện quá nhiều những nhân vật “hoang tưởng”
cũng có xuất xứ na ná như vậy, tự tuyên bố rằng đã “lật đổ được Newton và
Einstein” và rằng lý thuyết của họ mới thật sự là đúng đắn và thậm chí là “cách
mạng”! Nhưng cái cảnh “trăm voi không được bát nước xáo” này cũng gây nên
tình trạng dị ứng nặng nề của giới vật lý đối với những “công trình” có tiêu chí
tương tự mà công trình này của tôi cũng không phải là ngoại lệ!
Tuy nhiên, viết cuốn sách này, tác giả hy vọng trình bầy được một cách hệ
thống các kiến thức mới trong một trật tự lôgíc khả dĩ nhất có thể trong phạm vi

CON ĐƯỜNG MỚI CỦA VẬT LÝ HỌC

5

khả năng của tác giả, và có lẽ cũng chỉ như vậy mới hy vọng làm cho mọi người
có thể hiểu được mình và đặt niềm tin vào hướng đi mới này để cùng nhập cuộc,
rồi biết đâu đấy, có ai đó sẵn lòng nhiệt tình giúp dịch ra tiếng Anh để có thể lấy ý
kiến đánh giá của cộng đồng khoa học quốc tế.
Tác giả chân thành cảm ơn các anh em, bạn hữu đã cổ vũ, động viên về mặt
tinh thần và giúp đỡ về vật chất để công trình này ra mắt được độc giả. Do trình
độ còn hạn chế và chưa có nhiều kinh nghiệm, trong khi vấn đề bao quát lại quá
rộng, nên những gì đã ghi nhận được trong cuốn sách này xin chỉ được xem như
một bước mở đầu mới, và vì vậy để hoàn thiện, rất cần tới sự nỗ lực của cộng
đồng các nhà vật lý. Ngoài ra, việc trình bầy chắc chắn không thể tránh khỏi còn
nhiều sai sót nên tác giả mong được bạn đọc xa gần đóng góp ý kiến phê bình, sửa
chữa theo địa chỉ E-mail: huytoan971@vnn.vn.
Tác giả sẽ vô cùng vinh hạnh đón nhận và biết ơn.

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

18

Chương I

CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC
“Không tồn tại các tính chất,
chỉ tồn tại những sự vật có các tính chất...”
Phidric Anggel

1.1. Các phạm trù cơ bản
1. Vật chất – là phạm trù cơ bản rộng nhất để chỉ tất cả những gì tồn tại.
Vật chất không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi, tồn tại vĩnh viễn, vô
cùng, vô tận. Vật chất tồn tại ở vô số các dạng khác nhau, tuy nhiên, có hai dạng
cơ bản đó là thực thể vật lý và thực thể ý thức. Thực thể vật lý là dạng tồn tại của
vật chất có cấu trúc, còn những gì tồn tại không có cấu trúc gọi là thực thể ý thức
hay nói ngắn gọn là ý thức.
Thực thể vật lý bao gồm 2 bộ phận cấu thành đó là vật thể và trường sẽ được
xem xét chi tiết ở mục 1.3.1. Thực thể vật lý có thể tồn tại khách quan hoặc tồn tại
chủ quan. Thực thể vật lý khách quan là dạng vật chất tồn tại không bị ảnh hưởng
bởi ý thức, có thể gọi là tồn tại khách quan. Ví dụ như nguyên tử, phân tử của các
hợp chất thiên nhiên, các vật thể của Tự nhiên... Thực thể vật lý chủ quan là dạng
vật chất tồn tại phụ thuộc vào ý thức, có thể gọi là tồn tại chủ quan. Ví dụ như các
hợp chất, các công trình nhân tạo; các thiết bị, máy móc do con người sáng chế
ra... như tivi, tủ lạnh, ô tô v.v.. là những thứ mà nếu không có con người thì chẳng
bao giờ chúng có thể tồn tại trong Vũ trụ này. Như vậy, không phải mọi hiện
tượng và sự vật đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người, trái lại,
sự có mặt của ý thức con người cũng giống như với sự có mặt của bất kỳ một thực
thể vật lý nào khác sẽ có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau một cách biện chứng.
Trong các thí nghiệm đối với các hạt cơ bản, khi thao tác “quan sát” của con
người có thể so sánh được với tác dụng của chính các sự vật và hiện tượng cần

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

19

nghiên cứu thì sự ảnh hưởng của chủ quan là rất rõ rệt, đôi khi có thể làm thay đổi
hẳn bản chất của sự vật và hiện tượng cần nghiên cứu.
Ý thức có thể tồn tại cùng với thực thể vật lý (ở dạng động vật và con người)
hoặc phi vật thể (ở dạng linh hồn). Vì nhận thức là phạm trù lịch sử gắn với sự tồn
tại của con người – một dạng động vật cao cấp – có sinh, có tử, trong khi đó, vật
chất là phạm trù vĩnh cửu – không sinh, không diệt cho nên về nguyên tắc, vật
chất chỉ có thể nhận thức được đến một chừng mực nào đó, một giới hạn nào đó,
nhưng cũng có thể không nhận thức được. Chính vì thế, không thể có một lý
thuyết nào là “tối hậu” mô tả được thế giới vật chất. Nhận thức dù dưới bất cứ
dạng nào cũng chỉ là quá trình tiệm cận đến chân lý mà không bao giờ đến được
chân lý đó. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận khả năng nhận thức
thực tại của con người theo quan điểm “bất khả tri luận”, mà trái lại, việc phân
định rõ giới hạn của nhận thức cũng đồng nghĩa với khả năng có thể nhận thức
được một phần của thực tại mà nó đã, đang và sẽ tồn tại trong đó. Theo quan điểm
của phép biện chứng duy vật, cái tổng thể không thể nào tách rời khỏi những cái
bộ phận và trong những cái bộ phận cũng vẫn bao hàm cả cái tổng thể. Phần 1 của
CĐM này sẽ chỉ nghiên cứu các thực thể vật lý tồn tại khách quan hay nói ngắn
gọn là tồn tại khách quan.
2. Không gian – là một thuộc tính của vật chất thể hiện ở độ lớn của nó từ
vô cùng bé tới vô cùng lớn, và là hình thức tồn tại của tất cả những dạng vật chất.
Bên cạnh khái niệm “độ lớn” (lớn, bé) – còn có khái niệm đồng nghĩa là
“khoảng cách” (xa, gần). Mọi dạng tồn tại của vật chất đều có không gian của
mình từ “vô cùng bé” (nhưng không bao giờ bằng không) tới “vô cùng lớn” và
bao gồm không gian nội vi – từ vô cùng bé tới kích thước hiện hữu của nó và
không gian ngoại vi – từ kích thước hiện hữu của nó tới vô cùng lớn. Tuy nhiên,
việc phân định giữa không gian nội vi và không gian ngoại vi của một thực thể vật

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

20

lý chỉ có tính chất tương đối, không có một ranh giới nghiêm ngặt, tùy thuộc vào
từng điều kiện cụ thể. Ví dụ một nguyên tử hydrozen có không gian nội vi từ vô
cùng bé tới “kích thước” hiện hữu của nó là 0,53x10-10m, tuy nhiên, tùy thuộc vào
trạng thái năng lượng mà “kích thước” này có thể bị thay đổi, thậm chí trong
phạm vi rất rộng – lớn hơn vài chục lần.
Vì không gian chỉ là một thuộc tính của vật chất nên, về nguyên tắc, nó phải
phụ thuộc vào chính vật chất mà không thể tồn tại độc lập. Sự phụ thuộc này thể
hiện trước hết là qua ảnh hưởng của các dạng tồn tại cụ thể của vật chất lên các
không gian đó – “nhân nào, quả ấy”, nên ta có thể gọi những không gian như vậy
là không gian vật chất. Nhưng vật chất lại vô cùng, vô tận nên không gian vật chất
không khi nào có thể “trống rỗng”. Thay vì khái niệm “không gian trống rỗng”
hay “chân không”, ta sẽ sử dụng khái niệm không gian thuần – đó là vùng không
gian không chứa bất cứ một vật thể nào (khái niệm “vật thể” xem ở mục 1.3.1).
Tuy nhiên, như sau này sẽ thấy ở Chương III, mục 3.2c, một không gian như vậy
hầu như không tồn tại vì không thể loại bỏ được các loại bức xạ với đủ loại tần số
từ photon tới tia γ và neutrino. Khái niệm “ở đây” hay “ở kia” chỉ có nghĩa đối với
phần không gian nội vi của một vật thể này so với không gian nội vi của một vật
thể khác. Như thế, không gian vật chất, xét cho cùng, luôn là chồng chập vô số
các không gian của vô số các dạng tồn tại khác nhau của vật chất – nó không bao
giờ là độc lập, và cũng chính vì vậy, mọi dạng tồn tại của vật chất cũng không bao
giờ là độc lập, trái lại, luôn tương tác với nhau, quy định lẫn nhau... Khái niệm
“vật thể cô lập” không những không có ý nghĩa triết học mà về mặt vật lý cũng vô
nghĩa. Khái niệm “hệ cô lập” chỉ có thể được hiểu với nghĩa tương đối khi bỏ qua
ảnh hưởng của những dạng vật chất khác lên những dạng vật chất đang xét trong
cái gọi là “hệ cô lập” đó.

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

21

Việc nhận biết không gian vật chất phải nhờ đến các cơ quan thụ cảm cảm
nhận những tác động của vật mang thông tin về không gian đó. Thông thường,
không gian này được nhận biết bằng thị giác, mà thị giác thì cảm nhận ánh sáng –
vật mang thông tin. Tuy nhiên, nếu vật mang thông tin không phải là ánh sáng mà
là một dạng thực thể vật lý nào đó khác, như “siêu âm” đối với loài dơi chẳng hạn,
thì nó có thể cho “thông tin” về một không gian hoàn toàn khác – không mầu, hữu
hạn, chẳng có hệ mặt trời, chẳng có những ngôi sao... Nói chung, tất cả những
dạng không gian nhận thức được thông qua các thực thể vật lý – vật mang thông
tin như vậy – gọi là “không gian vật lý”. Điểm khác biệt của “không gian vật lý”
với “không gian vật chất” chính là ở tính chủ quan của nó – phụ thuộc vào cách
mà ta nhận được nó. Cho đến nay, sự nhầm lẫn giữa không gian vật lý với không
gian vật chất đã làm sai lệch về căn bản nhận thức của chúng ta về thế giới vật
chất.
Tuy nhiên, những gì liên quan tới khái niệm không gian không chỉ dừng lại
ở đây. Đi xa hơn nữa, bằng cách bỏ qua tất cả các yếu tố vật chất liên quan tới cả
đối tượng lẫn vật mang thông tin, người ta tạo nên một không gian hoàn toàn khác
về chất, đó là “không gian hình học”. Đối tượng của không gian hình học bây giờ
là điểm, đường, mặt... – những khái niệm thuần túy toán học. Như vậy, không
gian hình học là sự trừu tượng hóa không gian vật lý bằng cách tách rời thuộc
tính không gian ra khỏi vật chất. Ta có các không gian hình học Euclid,
Lobatrevsky, Riemann... các không gian hình học khác nhau luôn phải độc lập
nhau mà không thể chồng chập với nhau như không gian vật chất. Khi chúng ta
nói “trong một không gian nào đó... có một cái gì đó...”, chúng ta đã ngầm cho
phép sự tồn tại của cái gọi là một “không gian nào đó” một cách độc lập và một
“cái gì đó” cũng độc lập, và nếu không có một “cái gì đó” thì có nghĩa là chỉ còn

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

22

lại một không gian “trống rỗng”. Điều này chỉ đúng đối với không gian vật lý và
“hậu duệ” của nó là không gian hình học – kết quả của tư duy trừu tượng.
Ở đây, cần phải phân biệt các khái niệm “vô cùng bé” và “vô cùng lớn” của
không gian vật chất với cũng những khái niệm đó của không gian hình học. Đối
với không gian vật chất, “vô cùng bé” không đồng nhất với “không có kích thước”
hay là “điểm” đối với không gian hình học; “vô cùng lớn” không đồng nghĩa với
những khoảng cách không bao giờ kết thúc; giữa vô cùng bé và vô cùng lớn – hai
mặt đối lập nhau luôn luôn thống nhất với nhau một cách biện chứng chứ không
độc lập nhau như đối với không gian hình học – điều này cực kỳ quan trọng.
Vấn đề mấu chốt ở đây cần phải được hiểu thấu đáo là không gian vật chất
chỉ là một cách hiểu khác đi, đơn giản hóa đi về chính vật chất, khi tạm “quên” đi
những tính chất khác chỉ giữ lại một thuộc tính của nó mà thôi, kiểu như một đứa
trẻ chỉ cần nghe “giọng nói” đã xác định ngay đó là “mẹ”, nhưng “giọng nói”
không thể tồn tại độc lập với người mà được nó gọi là “mẹ”. Trong khi đó, không
gian hình học là do ta trừu tượng hóa không gian vật lý và có thể là cả không gian
vật chất lên nhờ các khái niệm toán học như điểm, đường, mặt... – kết quả của quá
trình thuần túy tư duy lôgíc thoát khỏi sự ràng buộc với các dạng tồn tại của vật
chất. Chính vì vậy, khi quay từ hình học trở về với vật lý, với các dạng vật chất cụ
thể cần phải tính đến sự sai khác này.
Để có thể xác định được khoảng cách, hay khái quát hơn là vị trí tương đối
của mọi vật so với một vật nào đó, ta cần tiến hành “đo đạc”. Thực tế cho thấy,
trong trường hợp tổng quát, cần phải có tối thiểu 3 “số đo” mới có thể xác định
được vị trí một cách đơn trị. Mỗi một “số đo” như vậy tương ứng với một “chiều”
không gian của vật thể đó. Không gian vật chất và không gian vật lý có 3 chiều,
và cũng chỉ cần có 3 chiều mà thôi. Tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách
trong các tương tác hấp dẫn và tương tác Coulomb được thực nghiệm xác nhận

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

23

với độ chính xác cao đã nói lên điều đó. Không gian toán học có thể có số “chiều”
lớn hơn 3, không hạn chế, nhất là đối với các dạng hình học phi Euclid kiểu
Hilbert hay Riemann với các đối tượng của nó lúc này không đơn thuần chỉ là
điểm, đường, mặt... theo đúng nghĩa đen của những từ này nữa, mà có thể là bất
cứ một tập hợp nào, không quan trọng là cái gì, miễn là có cùng một tính chất xác
định. Những hình học loại này hoàn toàn không còn sử dụng để làm công cụ mô
phỏng không gian vật chất được nữa, mà khả quan nhất cũng chỉ có thể đóng vai
trò làm công cụ tính toán những thông số nào đó của không gian vật chất trong
một giới hạn nhất định nào đó mà thôi. Thuyết tương đối, lý thuyết trường lượng
tử và các lý thuyết thống nhất M, siêu dây, lượng tử vòng v.v.. đã sử dụng 2 loại
hình học này làm cơ sở, trong khi không phân biệt được những sai khác kể trên
với không gian vật chất, nên kết cục đã làm sai lệch nhận thức của chúng ta về thế
giới tự nhiên.
Chiều của không gian được đặc trưng bởi một đại lượng gọi là chiều dài với
mẫu đo là một vật thể hoặc hệ vật thể nào đó được lựa chọn – gọi là thước đo.
Như vậy, thước đo có thể là không gian nội vi của một vật thể hoặc một
phần không gian ngoại vi của nó, và vì vậy, chiều dài mỗi chiều của không gian
hoàn toàn phụ thuộc vào thước đo này.
Đơn vị chiều dài trong hệ SI được chọn là mét (m). Độ đo hai chiều không
gian được gọi là diện tích với mẫu đo là vật hình vuông. Đơn vị diện tích trong hệ
SI là mét vuông (m2). Độ đo ba chiều không gian gọi là thể tích với mẫu đo là vật
hình lập phương. Đơn vị thể tích là mét khối (m3). Nhờ có thước đo mà có thể đo
được kích thước của vật thể cũng như khoảng cách giữa các vật thể với nhau.
Đặc tính quan trọng nữa của không gian là tính đồng nhất – như nhau ở mọi
nơi và đẳng hướng – như nhau ở mọi hướng. Các không gian hình học là đồng
nhất và đẳng hướng trong khi không gian vật chất và không gian vật lý không thể

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

24

đẳng hướng và không thể đồng nhất vì các dạng vật chất không đồng nhất, không
phân bố đồng đều ở khắp mọi nơi và khắp mọi hướng. Hơn thế nữa, khái niệm
“hướng” trong không gian hình học thường được chỉ ra bởi một “tia” bất kỳ xuất
phát từ một điểm bất kỳ trong không gian đó, trong khi đó, “hướng” của không
gian vật chất lại không thể tùy tiện mà do chính dạng vật chất có không gian đó
quy định mà chúng ta sẽ đề cập đến sâu hơn ở mục 1.3.5. “Lực, lực trường thế và
hiện tượng quán tính”.
Tóm lại, từ những phân tích ở trên với 3 loại không gian, chỉ có “không gian
vật chất” mới đúng là thuộc tính cố hữu của vật chất, còn 2 dạng không gian khác
được hình thành là do nhận thức chủ quan của con người mà thôi.
3.Vận động – là một thuộc tính của vật chất thể hiện ở sự thay đổi về lượng
thuộc tính không gian của các dạng tồn tại của nó.
Vì không gian của bất kỳ một dạng tồn tại nào của vật chất cũng đều là vô
cùng, vô tận nên sự thay đổi này chỉ có thể xẩy ra một cách tương đối giữa không
gian nội vi và không gian ngoại vi của cùng một thực thể vật lý, hoặc giữa không
gian nội vi của các thực thể vật lý với nhau – độ lớn tương đối của các không gian
nội vi đó, hoặc khoảng cách giữa chúng.
Mỗi một dạng tồn tại cụ thể của vật chất có thể có những dạng vận động
khác nhau từ đơn giản đến phức tạp. Dạng vận động đơn giản nhất là chuyển động
cơ học của các vật thể. Một dạng vận động phức tạp không chỉ đơn thuần là phép
cộng các dạng vận động giản đơn mà là một phép tổ hợp hữu cơ các dạng vận
động giản đơn đó theo quy luật lượng đổi-chất đổi. Các tổ hợp này hoàn toàn khác
về chất với các dạng vận động cấu thành. Một electron và một proton độc lập chỉ
là hai hạt có điện tích bằng nhau nhưng trái dấu, bị lệch theo hai hướng khác nhau
trong điện trường nhưng khi kết hợp với nhau thành nguyên tử hydrozen – hoàn
toàn không bị lệch hướng trong điện trường, không những thế, còn có những tính

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

25

chất hóa lý hoàn toàn khác; tương tự như vậy, hai electron và hai proton thành
helium, v.v.. cho đến các chất hữu cơ phức tạp cấu tạo nên bộ não của con người
với các trạng thái tâm sinh lý chẳng liên quan gì tới hành vi của các electron và
proton cấu thành nên nó. Ngay cả những dạng vận động khá trừu tượng như vận
động xã hội cũng chỉ là hệ quả của tập hợp vô số các dạng vận động thành phần
mà vốn dĩ cũng được hình thành từ những vận động giản đơn ban đầu v.v.. Tuy
nhiên như đã nói, theo quy luật lượng đổi-chất đổi, mỗi một dạng vận động ở mức
tổ hợp cao hơn sẽ có những quy luật vận động riêng, những nguyên lý riêng
nhưng luôn luôn thống nhất với các quy luật vận động chung nhất của vật chất,
không nằm ngoài chúng – điều này khác hẳn với quan niệm cơ học tầm thường
khi quy tất cả các dạng vận động về chuyển động cơ học thuần túy, nhưng cũng
loại bỏ cả quan niệm trừu tượng về các dạng vận động không gắn với sự thay đổi
thuộc tính không gian mà về thực chất chỉ là biểu hiện của siêu hình.
Dù ở bất cứ dạng nào thì vật chất cũng luôn vận động – không có gì khác
hơn ngoài vật chất vận động. Chính vì thế, không bao giờ và không ở đâu có thể
có một hiện tượng hay sự vật nào xuất hiện hơn một lần và cũng không bao giờ
có thể tồn tại được một hiện thực “tối hậu”, trái lại, bản thân cái gọi là “hiện thực”
cũng luôn luôn biến đổi. Cái duy nhất có được tính ổn định hay bất biến chỉ là các
quy luật vận động của vật chất (hay của hiện thực) chứ không phải chính bản thân
hiện thực đó. Chính vì vậy, đứng yên chỉ là một khái niệm tương đối khi so sánh
các hiện tượng cá biệt còn vận động là tuyệt đối.
Độ đo sự vận động của vật chất được gọi là thời gian với mẫu đo là các kiểu
vận động nào đó, thường là có chu kỳ, của một dạng vật chất được lựa chọn gọi
là đồng hồ.
Khái niệm “có chu kỳ” tức là lặp đi, lặp lại trong một điều kiện nhất định
chứ không có nghĩa là lặp đi, lặp lại đúng trạng thái trước đó xét trên tổng thể vì

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

26

tính phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các dạng vật chất. Tùy thuộc vào kiểu vận động
của một dạng vật chất cụ thể được lựa chọn làm đồng hồ mà “thời gian” nó chỉ ra
có thể phụ thuộc nhiều hay ít vào chuyển động tương đối của chính đồng hồ đó.
Ví dụ, nếu dùng đồng hồ quả lắc trên đoàn tầu cao tốc thì thời gian mà nó chỉ ra
dường như sẽ “chậm dần” khi tốc độ của đoàn tầu tăng dần lên vì lúc này, trọng
lượng của quả lắc giảm đi do lực ly tâm tăng lên (bề mặt Trái đất hình cầu mà).
Nếu tốc độ đoàn tầu có thể đạt đến được 7,9 km/s thì đồng hồ sẽ ngừng không
chạy nữa - ở trạng thái không trọng lượng, “con lắc” không thể lắc được! Trong
khi đó, nếu dùng đồng hồ lên dây cót, sử dụng độ căng của lò so thì sẽ bị ảnh
hưởng ít hơn nhiều, nhưng nếu đặt nó trong một từ trường, dây cót lại có thể bị
nhiễm từ và thời gian nó chỉ ra sẽ khác.
Như vậy, thời gian không tồn tại khách quan mà trái lại, chỉ là một khái
niệm chủ quan của con người với mục đích so sánh sự diễn biến các quá trình xẩy
ra trong thế giới vật chất xung quanh trong đó có chính bản thân mình. Sự so sánh
đó là một dạng của nhận thức không ngoài mục đích sinh tồn. Ở một nơi nào đó
trong vũ trụ không có con người, chẳng có “đồng hồ”, chẳng cần “so sánh nhanh
chậm”, và do đó cũng chẳng cần đến thời gian, mọi quá trình vật lý vẫn cứ diễn
ra, ảnh hưởng lẫn nhau, quy định lẫn nhau... chính vì thế, không thể có thời gian
tuyệt đối, như nhau ở mọi nơi, không phụ thuộc vào vận động của vật chất và tồn
tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người, và do vậy, lại càng
không thể nói đến thời gian như một “chiều” của thực tại vật lý được vì, nói một
cách nôm na, nó đơn giản chỉ là sự thay đổi của thực tại vật lý, tức là một tính
chất của thực tại mà không phải là chính thực tại đó. “Không-thời gian 4 chiều”
chỉ thuần túy là một trong vô vàn dạng không gian hình học theo nghĩa là đa tạp n
chiều, không những thế, nó không còn có thể đóng vai trò “mô phỏng” không gian
vật chất, thậm chí là cả không gian vật lý được nữa. Tuy nhiên, các phương trình

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

27

dựa trên continum “không-thời gian 4 chiều” có thể đóng vai trò là công cụ tính
toán các chuyển động của một số dạng vật chất cụ thể nào đó giống như khôngthời gian 2 chiều (x, t) để tính toán chuyển động của một vật theo đường thẳng;
các đại lượng phức như dòng điện phức và điện áp phức trong tính toán mạch điện
hình sin ở lý thuyết mạch điện v.v..
Người ta thường nói tới “mũi tên thời gian” với nghĩa là nó “trôi” từ quá khứ
tới tương lai. Thật ra ở đây chẳng có cái gì “trôi” cả mà đơn giản chỉ là cách ví
von “dân dã” và sự quy ước trình tự các sự kiện để dễ hơn cho việc nhận thức
chúng chứ hoàn toàn không mang một ý nghĩa vật lý nào. Như trên chúng ta vừa
nói tới tính vô cùng, vô tận của vật chất và sự vận động không ngừng nghỉ của nó
đã khiến cho “không bao giờ và không ở đâu có thể có một hiện tượng nào xuất
hiện hơn một lần”. Bất kể một sự lặp lại nào, nếu có, cũng đều mang tính cục bộ,
và điều này cũng có nghĩa là “mũi tên thời gian” đương nhiên chỉ có một chiều mà
không cần phải viện dẫn tới định luật 2 của nhiệt động lực học. Hơn thế nữa, khái
niệm thời điểm cũng hoàn toàn mang tính quy ước một cách tương đối giống như
“điểm” của không gian vật chất, vì nó không bao hàm ý nghĩa là một “điểm”
không có “kích thước” trên trục thời gian như với điểm trên trục không gian hình
học. “Kích thước” của thời điểm hoàn toàn phụ thuộc vào độ phân giải của đồng
hồ mà ta sử dụng. Nếu sử dụng đồng hồ cơ khí đeo tay thông thường thì thời điểm
có kích thước lớn hơn nhiều so với thời điểm của đồng hồ nguyên tử. Tuy nhiên,
không thể tồn tại được về nguyên tắc một loại đồng hồ nào để kích thước của thời
điểm có thể tiến tới 0. Như vậy, nhận thức của chúng ta về thế giới vật chất còn bị
giới hạn bởi chính loại đồng hồ mà chúng ta sử dụng. Trong toán giải tích, chúng
ta có khái niệm đạo hàm và vi phân, nếu đem áp dụng vào vật lý với biến số thời
gian sẽ cho chúng ta những khái niệm thuần túy toán học chứ không có ý nghĩa
vật lý như chúng ta vẫn tưởng, ví dụ như vận tốc tức thời là đạo hàm bậc nhất theo

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

28

thời gian: V(t)=dS(t)/dt, ở đây dt=(∆t→0) không có ý nghĩa vật lý vì nó mâu thuẫn
với “nguyên lý tác động tối thiểu” sẽ được biết tới ở mục 1.3.6. và khi đó, đồng
nghĩa với không vận động. Chỉ có vận tốc trung bình xác định bằng tỷ số giữa
quãng đường vật đi được trong một khoảng thời gian: Vtb=∆S(t)/∆t trong đó mới
có ý nghĩa vật lý. Ngoài ra, còn một số khái niệm khác nữa trong vật lý liên quan
tới thời điểm này cũng bị lạm dụng như gia tốc tức thời, tần số tức thời... (xem
Phụ lục 24). Giới hạn áp dụng những khái niệm này cần phải được tính đến trong
nhiều trường hợp.
Đơn vị thời gian trong hệ SI được chọn là giây (s). Nhờ có đồng hồ mà có
thể đo được sự vận động của vật thể và so sánh sự vận động của hai vật thể khác
nhau: nhanh hơn hay chậm hơn.
4. Nhận xét
Như vậy, ý thức được coi là một dạng tồn tại của vật chất mà không phải là
một phạm trù đối lập với vật chất như trước đây vẫn quan niệm – đây cũng là ý
kiến của khá nhiều nhà khoa học trong những năm gần đây. Tuy nhiên, cũng phải
thừa nhận một điều là quan niệm này tuy không mới nhưng vẫn chỉ dừng lại ở
dạng khái niệm có tính “giả thuyết” hơn là một “khẳng định có tính khoa học” –
tạm coi như vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ cho Phần II của CĐM. Thêm nữa, trình tự các
phạm trù cơ bản của triết học cũng được thay đổi tương ứng với trật tự lôgíc về
nội dung của chúng. Đặc biệt là phạm trù “không gian” đã được phân tích một
cách tỷ mỉ và tách bạch thành 3 dạng: “không gian vật chất”, “không gian vật lý”
và “không gian hình học” trong đó ở cấp “phạm trù” chỉ có không gian vật chất –
nó mới đúng là thuộc tính cố hữu của vật chất. Cuối cùng, trong các phạm trù cơ
bản của triết học, chúng ta thấy thiếu vắng “thời gian” với vai trò “ngang hàng”
với các phạm trù vật chất, không gian và vận động. Thời gian ở đây chỉ là “độ đo
sự vận động” nên chẳng có lý do gì để nó tồn tại như một thuộc tính của vật chất

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

29

cả – thuộc tính đó vốn đã là vận động rồi. Điều này cũng giống như “chiều dài” đã
là “độ đo của không gian”, “lực” là “độ đo của tương tác” rồi thì hà tất gì phải
khoác cho chúng thêm cái “mác” nào khác nữa?
Để có thể dễ dàng hình dung toàn bộ bức tranh thế giới vật chất, ta đưa ra
một sơ đồ liên hệ giữa các phạm trù triết học và các khái niệm cơ bản của vật lý
học như trên Hình 1.14 ở cuối Chương I này.
1.2. Các quy luật vận động cơ bản của vật chất.
1. Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập.
Bất kể một dạng tồn tại nào của vật chất cũng đều do những nguyên nhân
nào đó quy định bởi nếu không, nó đã không tồn tại ở dạng đó. Nhưng tồn tại
cũng chính là vận động mà nguyên nhân và động lực của sự vận động đó là sự
đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập – đây là quy luật vận động thứ
nhất của vật chất. Không thể có một dạng tồn tại nào của vật chất mà không hàm
chứa trong mình các mặt đối lập nhau. Nếu tất cả đều như nhau, giống nhau thì
chỉ là một tập hợp những “xác chết”. Vấn đề là cần phải nhận thức cho được, đâu
là các mặt đối lập tạo nên sự thống nhất, còn đâu chỉ là các mặt khác nhau của sự
vật mà việc kết hợp của chúng chỉ tạo ra những “hỗn hợp” nhất thời, không bền
vững, thậm chí chỉ là những “món hẩu lốn”. Trong vật lý đó là sự thống nhất giữa
vô cùng bé và vô cùng lớn của không gian vật chất; giữa không gian nội vi và
không gian ngoại vi, giữa nội năng và ngoại năng của một thực thể vật lý; giữa
tính chủ động và tính bị động của các tương tác, giữa cho và nhận năng lượng
v.v.. Nếu không có các mặt đối lập này sẽ không thể có bất cứ sự vận động nào
nhưng nếu không có sự thống nhất giữa chúng thì cái gọi là “dạng vật chất” không
thể được hình thành và do đó khái niệm vận động cũng không còn có nghĩa nữa.
2. Quy luật lượng đổi - chất đổi.

Chương I. CƠ SỞ CỦA VẬT LÝ HỌC

30

Chất là quy định vốn có, là tổng hợp nhiều thuộc tính của một dạng tồn tại
nào đó của vật chất. Lượng là quy định vốn có về quy mô, độ lớn, mức độ... của
những tính chất, thuộc tính hay là chính bản thân một chất nào đó. Để quá trình
đấu tranh giữa các mặt đối lập có thể hình thành nên một dạng tồn tại nào đó của
vật chất tức là tạo nên một sự thống nhất, hoặc chuyển hóa từ dạng này sang một
dạng khác tức là thay đổi về chất thì sự đấu tranh hay thống nhất đó cần phải đạt
tới một sự thay đổi nhất định về lượng.
Sự thay đổi về lượng đến một mức độ nào đó (chứ không phải là bất cứ mức
độ nào) sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất.
Ví dụ như than và kim cương là hai chất khác hẳn nhau nhưng do cùng
nguyên tố Các bon cấu tạo nên. Sự thay đổi về lượng ở đây là mức độ tương tác
giữa các nguyên tố Các bon trong cấu trúc tinh thể. Cũng có thể nói rằng chính sự
thay đổi về cấu trúc tinh thể này đã dẫn đến sự thay đổi về mức độ tương tác giữa
các nguyên tố Các bon và rồi dẫn đến sự thay đổi về chất: than hay kim cương.
Bản thân cấu trúc vốn lại là cấu thành của chất nên cũng có thể nói rằng sự
thay đổi về chất đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến sự thay đổi về “lượng”, ở thí
dụ trên, là mức độ của tương tác. Quy luật lượng đổi – chất đổi là quy luật vận
động thứ hai quy định phương thức vận động của vật chất. Nó được thể hiện cụ
thể trong vận tốc tới hạn của mọi chuyển động ở mục 1.3.3, sự tồn tại của các hạt
cơ bản ở mục 1.3.1, nguyên lý tác động tối thiểu ở mục 1.3.5 và trong rất nhiều
tình huống khác.
1.3. Các khái niệm cơ...
 
Gửi ý kiến