Tìm kiếm Giáo án
SÁNG KIẾN. 23- 24. THỦY

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trường Tiểu học Cẩm Hưng
Ngày gửi: 10h:06' 01-03-2024
Dung lượng: 378.5 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Trường Tiểu học Cẩm Hưng
Ngày gửi: 10h:06' 01-03-2024
Dung lượng: 378.5 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
1
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Tiếng Việt là một môn học
chủ đạo, có vai trò quan trọng trong bậc Tiểu học, đặc biệt là với học sinh lớp 1;
cùng với các môn học khác đào tạo ra những con người phát triển toàn diện về
phẩm chất và năng lực. Tiếng Việt là chiếc chìa khóa mở cánh cửa tri thức cho
các em. Chương trình Tiếng Việt lớp 1 được coi là tiền đề, nền tảng góp phần
thực hiện mục tiêu Tiếng Việt Tiểu học.
Bậc Tiểu học là bậc học đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển
nhân cách cho người học. Đây là bậc cung cấp những kiến thức khoa học sơ
khai về lĩnh vực tự nhiên - xã hội, những hoạt động nhận thức cũng như hoạt
động thực tiễn. Dạy học Tiếng Việt giúp các em có các kĩ năng nghe - nói - đọc
- viết một cách thành thạo đồng thời sử dụng các kĩ năng đó để khai thác các
môn học khác.
Những kiến thức ở môn Tiếng Việt ở Tiểu học sẽ là hành trang giúp học
sinh bước vào giai đoạn mới. Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic,
việc học Tiếng Việt sẽ giúp các em hình thành và phát triển tư duy ngôn ngữ.
Tiếng Việt cũng chính là cái nôi nuôi lớn tâm hồn trẻ thơ. Tiếng Việt đã khơi
dậy trong các em những tình cảm, tình bạn trong sáng, tình yêu quê hương đất
nước, tình cảm gia đình… Ở lớp 1, các em phải học tốt Tiếng Việt thì khi
chuyển sang học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao
hơn của các môn học khác, thuận lợi cho việc học tập sau này.
Yêu cầu của giáo dục hiện nay đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học
ở bậc Tiểu học theo đúng hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của
học sinh.
Vậy làm thế nào để học sinh lớp 1 học tốt môn Tiếng Việt?
Cũng như các thầy cô giáo khác, bản thân tôi luôn trăn trở, tìm tòi, từng
bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy phát huy tính năng động,
sáng tạo, phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Yêu cầu đặt ra là khi
2
học xong lớp 1 các em phải đọc thông viết thạo. Kết quả đó chỉ đạt được khi các
em có hứng thú khi học môn này. Các em có hứng thú thì các em mới chủ động
lĩnh hội kiến thức mới, hiệu quả giờ học mới đạt kết quả cao. Chính vì lí do đó
tôi đã mạnh dạn đưa ra: “ Một số biện pháp tích cực trong dạy học môn
Tiếng Việt cho học sinh lớp 1”
2. Cơ sở lí luận
Trong thời kì công nghiệp hoá đất nước ngành giáo dục luôn được Đảng
và Nhà nước quan tâm hàng đầu “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vì đây là
động lực thúc đẩy nó góp phần làm cho nền kinh tế đất nước phát triển không
ngừng về mọi mặt. Đặc biệt những năm gần đây ngành giáo dục luôn được đổi
mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp cũng như hình thức tổ chức dạy học
tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Ở bậc Tiểu học thì lớp 1 là lớp
được đổi mới nâng cao rõ nhất là môn Tiếng Việt. Trong chương trình trước đây
các em chỉ làm quen với các âm, tiếng, từ ứng dụng rất ngắn thì nay các em đã
được tiếp cận với nhiều từ ngữ phong phú hơn trong các bài học vần hay những
bài đọc ứng dụng rất dài… Các thầy cô đã biết môn Tiếng Việt là một môn học
tuy mượt mà nhưng học sinh lại rất “ngại” học Tiếng Việt.
Vì học sinh lớp 1 ở lứa tuổi 6 đến 8 tuổi khả năng chú ý có chủ định còn
yếu, khả năng kiểm soát điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này tính chú
ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Sự tập trung chú ý của trẻ
còn yếu và thiếu bền tính vững, dễ bị phân tán bởi những âm thanh, sự kiện khác
ngoài nội dung học tập. Vì thế mà khi mới bắt tay vào học Tiếng Việt với những
từ, câu, bài đọc dài khiến học sinh không cảm thấy mệt mỏi, không thích học.
Một mặt các em đang chuyển từ cấp học Mầm non (hoạt động vui chơi là
chính sang bậc Tiểu học (hoạt động học tập lại đóng vai trò chủ đạo). Đặc biệt ở
lứa tuổi này tư duy của trẻ phát triển từ trực quan cụ thể đến trừu tượng hoá nên
các em thường quan tâm chú ý đến các môn học, giờ học có đồ dùng trực quan
sinh động, nhiều tranh ảnh với nhiều màu sắc hấp dẫn. Các em rất ham chơi,
thích làm việc theo ý mình, nhưng thích bắt chước người khác đặc biệt là giáo
3
viên, trẻ coi thầy giáo cô giáo là thần tượng thích làm theo thầy cô giáo. Vì vậy
trong quá trình giảng dạy chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Vậy phải làm thế nào
để tạo cho học sinh có cảm giác yêu thích môn học, thấy Tiếng Việt thật sự gần
gũi và thu hút các em tích cực hoạt động trong giờ học tiếp thu bài tốt giúp các
em phát triển toàn diện. Đây cũng là điều mà đội ngũ giáo viên chúng tôi luôn
băn khoăn suy nghĩ, tìm tòi, trau dồi học hỏi và sàng lọc lựa chọn những phương
pháp tích cực, những hình thức dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học.
3. Thực trạng của vấn đề
3.1.Thực trạng hứng thú học Tiếng Việt của học sinh lớp 1
Năm học 2023 – 2024, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 1C
với 30 học sinh (trong đó có 1 học sinh lưu ban). Sau một tuần nhận lớp, tôi phát
phiếu thăm dò hứng thú học Tiếng Việt cho học sinh các lớp 1A, 1C của trường
tôi. Tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1: Bảng tổng hợp kết quả thăm dò mức độ hứng thú học Tiếng Việt:
Tên lớp Sĩ
Rất thích
Thích
Bình thường
Không thích
số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
1A
30
7
23,4
8
26,6
8
26,6
7
23,4
1C
30
9
30
8
26,6
9
30
4
13,4
Dựa vào kết quả thăm dò hứng thú học Tiếng Việt của học sinh, tôi thực sự
ngạc nhiên: có lớp chỉ có 50 % học sinh hứng thú với môn Tiếng Việt, trong khi
số học sinh không hứng thú, thậm chí là cảm thấy sợ học Tiếng Việt lên tới 23,4
% (chiếm gần ¼ số học sinh của lớp)
Từ thực trạng trên, tôi tìm hiểu và rút ra một số thuận lợi, khó khăn sau:
3.1.1. Thuận lợi
Ngành giáo dục luôn có sự chỉ đạo cụ thể, sâu sát; Nhà trường luôn động viên,
khích lệ, tạo điều kiện để giáo viên chúng tôi thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học.
Phòng học được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại cơ
bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
4
Học sinh có nền nếp, có ý thức học tập. Đa số phụ huynh đồng thuận, ủng hộ và
luôn phối hợp với giáo viên trong quá trình giáo dục học sinh.
Bên cạnh những thuận lợi, tôi cũng gặp không ít khó khăn:
3.1.2. Khó khăn
Hầu hết cha mẹ học sinh đều là công nhân, làm việc theo ca nên ít có thời gian
để học tập và vui chơi cùng con.
Đa số học sinh lớp tôi là học sinh nông thôn nên các em nhút nhát, chưa mạnh
dạn tham gia vào các hoạt động học tập. Nhiều học sinh học trước quên sau,
không nhớ chữ nên “ngại, sợ”... dẫn đến thiếu sự tập trung trong giờ học, không
chú ý lắng nghe thầy cô hướng dẫn đọc, phân tích tiếng, từ; thậm chí có những
em còn nằm gục xuống bàn, khiến cho các tiết học Tiếng Việt trở nên căng
thẳng, trầm lắng; kết quả học tập môn Tiếng Việt của nhiều học sinh chưa cao.
Nguyên nhân của thực trạng đó là do đâu?
3.2. Nguyên nhân của thực trạng
Một là, các em chưa có động cơ học tập đúng đắn
Hai là, đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 1
chưa sinh động.
Ba là, phương pháp và hình thức dạy học chưa linh hoạt.
Bốn là, yếu tố vừa sức trong dạy học Tiếng Việt lớp 1.
Năm là, việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa đạt được hiệu quả mong
muốn.
Sáu là, giáo viên chưa thực sự sáng tạo trong việc động viên, khích lệ học
sinh.
Vậy làm thế nào để khắc phục được những thực trạng trên? Câu hỏi đó khiến tôi
luôn trăn trở, tìm tòi và mạnh dạn áp dụng giải pháp: “ Một số biện pháp tích
cực trong dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1.”
4. Các biện pháp thực hiện
4.1.Biện pháp 1: Tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh
Động cơ học tập được hình thành từ những cảm xúc, nhu cầu học tập của
học sinh. Học sinh có động cơ học tập đúng đắn sẽ kích thích, thúc đẩy tính tích
5
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Tiếng Việt là một môn học
chủ đạo, có vai trò quan trọng trong bậc Tiểu học, đặc biệt là với học sinh lớp 1;
cùng với các môn học khác đào tạo ra những con người phát triển toàn diện về
phẩm chất và năng lực. Tiếng Việt là chiếc chìa khóa mở cánh cửa tri thức cho
các em. Chương trình Tiếng Việt lớp 1 được coi là tiền đề, nền tảng góp phần
thực hiện mục tiêu Tiếng Việt Tiểu học.
Bậc Tiểu học là bậc học đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển
nhân cách cho người học. Đây là bậc cung cấp những kiến thức khoa học sơ
khai về lĩnh vực tự nhiên - xã hội, những hoạt động nhận thức cũng như hoạt
động thực tiễn. Dạy học Tiếng Việt giúp các em có các kĩ năng nghe - nói - đọc
- viết một cách thành thạo đồng thời sử dụng các kĩ năng đó để khai thác các
môn học khác.
Những kiến thức ở môn Tiếng Việt ở Tiểu học sẽ là hành trang giúp học
sinh bước vào giai đoạn mới. Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic,
việc học Tiếng Việt sẽ giúp các em hình thành và phát triển tư duy ngôn ngữ.
Tiếng Việt cũng chính là cái nôi nuôi lớn tâm hồn trẻ thơ. Tiếng Việt đã khơi
dậy trong các em những tình cảm, tình bạn trong sáng, tình yêu quê hương đất
nước, tình cảm gia đình… Ở lớp 1, các em phải học tốt Tiếng Việt thì khi
chuyển sang học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao
hơn của các môn học khác, thuận lợi cho việc học tập sau này.
Yêu cầu của giáo dục hiện nay đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học
ở bậc Tiểu học theo đúng hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của
học sinh.
Vậy làm thế nào để học sinh lớp 1 học tốt môn Tiếng Việt?
Cũng như các thầy cô giáo khác, bản thân tôi luôn trăn trở, tìm tòi, từng
bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy phát huy tính năng động,
sáng tạo, phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Yêu cầu đặt ra là khi
2
học xong lớp 1 các em phải đọc thông viết thạo. Kết quả đó chỉ đạt được khi các
em có hứng thú khi học môn này. Các em có hứng thú thì các em mới chủ động
lĩnh hội kiến thức mới, hiệu quả giờ học mới đạt kết quả cao. Chính vì lí do đó
tôi đã mạnh dạn đưa ra: “ Một số biện pháp tích cực trong dạy học môn
Tiếng Việt cho học sinh lớp 1”
2. Cơ sở lí luận
Trong thời kì công nghiệp hoá đất nước ngành giáo dục luôn được Đảng
và Nhà nước quan tâm hàng đầu “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vì đây là
động lực thúc đẩy nó góp phần làm cho nền kinh tế đất nước phát triển không
ngừng về mọi mặt. Đặc biệt những năm gần đây ngành giáo dục luôn được đổi
mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp cũng như hình thức tổ chức dạy học
tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Ở bậc Tiểu học thì lớp 1 là lớp
được đổi mới nâng cao rõ nhất là môn Tiếng Việt. Trong chương trình trước đây
các em chỉ làm quen với các âm, tiếng, từ ứng dụng rất ngắn thì nay các em đã
được tiếp cận với nhiều từ ngữ phong phú hơn trong các bài học vần hay những
bài đọc ứng dụng rất dài… Các thầy cô đã biết môn Tiếng Việt là một môn học
tuy mượt mà nhưng học sinh lại rất “ngại” học Tiếng Việt.
Vì học sinh lớp 1 ở lứa tuổi 6 đến 8 tuổi khả năng chú ý có chủ định còn
yếu, khả năng kiểm soát điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này tính chú
ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Sự tập trung chú ý của trẻ
còn yếu và thiếu bền tính vững, dễ bị phân tán bởi những âm thanh, sự kiện khác
ngoài nội dung học tập. Vì thế mà khi mới bắt tay vào học Tiếng Việt với những
từ, câu, bài đọc dài khiến học sinh không cảm thấy mệt mỏi, không thích học.
Một mặt các em đang chuyển từ cấp học Mầm non (hoạt động vui chơi là
chính sang bậc Tiểu học (hoạt động học tập lại đóng vai trò chủ đạo). Đặc biệt ở
lứa tuổi này tư duy của trẻ phát triển từ trực quan cụ thể đến trừu tượng hoá nên
các em thường quan tâm chú ý đến các môn học, giờ học có đồ dùng trực quan
sinh động, nhiều tranh ảnh với nhiều màu sắc hấp dẫn. Các em rất ham chơi,
thích làm việc theo ý mình, nhưng thích bắt chước người khác đặc biệt là giáo
3
viên, trẻ coi thầy giáo cô giáo là thần tượng thích làm theo thầy cô giáo. Vì vậy
trong quá trình giảng dạy chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Vậy phải làm thế nào
để tạo cho học sinh có cảm giác yêu thích môn học, thấy Tiếng Việt thật sự gần
gũi và thu hút các em tích cực hoạt động trong giờ học tiếp thu bài tốt giúp các
em phát triển toàn diện. Đây cũng là điều mà đội ngũ giáo viên chúng tôi luôn
băn khoăn suy nghĩ, tìm tòi, trau dồi học hỏi và sàng lọc lựa chọn những phương
pháp tích cực, những hình thức dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học.
3. Thực trạng của vấn đề
3.1.Thực trạng hứng thú học Tiếng Việt của học sinh lớp 1
Năm học 2023 – 2024, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 1C
với 30 học sinh (trong đó có 1 học sinh lưu ban). Sau một tuần nhận lớp, tôi phát
phiếu thăm dò hứng thú học Tiếng Việt cho học sinh các lớp 1A, 1C của trường
tôi. Tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1: Bảng tổng hợp kết quả thăm dò mức độ hứng thú học Tiếng Việt:
Tên lớp Sĩ
Rất thích
Thích
Bình thường
Không thích
số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
1A
30
7
23,4
8
26,6
8
26,6
7
23,4
1C
30
9
30
8
26,6
9
30
4
13,4
Dựa vào kết quả thăm dò hứng thú học Tiếng Việt của học sinh, tôi thực sự
ngạc nhiên: có lớp chỉ có 50 % học sinh hứng thú với môn Tiếng Việt, trong khi
số học sinh không hứng thú, thậm chí là cảm thấy sợ học Tiếng Việt lên tới 23,4
% (chiếm gần ¼ số học sinh của lớp)
Từ thực trạng trên, tôi tìm hiểu và rút ra một số thuận lợi, khó khăn sau:
3.1.1. Thuận lợi
Ngành giáo dục luôn có sự chỉ đạo cụ thể, sâu sát; Nhà trường luôn động viên,
khích lệ, tạo điều kiện để giáo viên chúng tôi thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học.
Phòng học được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại cơ
bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
4
Học sinh có nền nếp, có ý thức học tập. Đa số phụ huynh đồng thuận, ủng hộ và
luôn phối hợp với giáo viên trong quá trình giáo dục học sinh.
Bên cạnh những thuận lợi, tôi cũng gặp không ít khó khăn:
3.1.2. Khó khăn
Hầu hết cha mẹ học sinh đều là công nhân, làm việc theo ca nên ít có thời gian
để học tập và vui chơi cùng con.
Đa số học sinh lớp tôi là học sinh nông thôn nên các em nhút nhát, chưa mạnh
dạn tham gia vào các hoạt động học tập. Nhiều học sinh học trước quên sau,
không nhớ chữ nên “ngại, sợ”... dẫn đến thiếu sự tập trung trong giờ học, không
chú ý lắng nghe thầy cô hướng dẫn đọc, phân tích tiếng, từ; thậm chí có những
em còn nằm gục xuống bàn, khiến cho các tiết học Tiếng Việt trở nên căng
thẳng, trầm lắng; kết quả học tập môn Tiếng Việt của nhiều học sinh chưa cao.
Nguyên nhân của thực trạng đó là do đâu?
3.2. Nguyên nhân của thực trạng
Một là, các em chưa có động cơ học tập đúng đắn
Hai là, đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 1
chưa sinh động.
Ba là, phương pháp và hình thức dạy học chưa linh hoạt.
Bốn là, yếu tố vừa sức trong dạy học Tiếng Việt lớp 1.
Năm là, việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa đạt được hiệu quả mong
muốn.
Sáu là, giáo viên chưa thực sự sáng tạo trong việc động viên, khích lệ học
sinh.
Vậy làm thế nào để khắc phục được những thực trạng trên? Câu hỏi đó khiến tôi
luôn trăn trở, tìm tòi và mạnh dạn áp dụng giải pháp: “ Một số biện pháp tích
cực trong dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1.”
4. Các biện pháp thực hiện
4.1.Biện pháp 1: Tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh
Động cơ học tập được hình thành từ những cảm xúc, nhu cầu học tập của
học sinh. Học sinh có động cơ học tập đúng đắn sẽ kích thích, thúc đẩy tính tích
5
 









Các ý kiến mới nhất