ĐÀ LẠT MỘT THỜI HƯƠNG XA

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:26' 22-02-2024
Dung lượng: 6.7 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:26' 22-02-2024
Dung lượng: 6.7 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nguyễn Vĩnh Nguyên, 1979 Đà Lạt, một thời hương xa / Nguyễn Vĩnh Nguyên. - In lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh :
Trẻ, 2016.
400tr. ; 23cm.
1. Đà Lạt (Việt Nam) -- Mô tả và du lịch. I. Ts.
1. Đà Lạt (Vietnam) -- Description and travel.
915.976904 -- ddc 23
N573-N57
NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
DU KHẢO VĂN HÓA ĐÀ LẠT GIAI ĐOẠN 1954-1975
để tưởng nhớ ba tôi, người lạc thời, suy tưởng, cô đơn
để tặng gia đình nhỏ yêu dấu của tôi
để chuyện trò với những người yêu Đà Lạt.
Vậy hành trình của anh thực ra là hành trình trong ký ức.
— Italo Calvino
Nhiều năm sau, ta cố giải mã các bí ẩn mà vào thời điểm đó không
còn là bí ẩn nữa và ta muốn hiểu được những ký tự đã bị xóa phân
nửa của một ngôn ngữ quá cổ xưa, thứ ngôn ngữ thậm chí ta còn
không biết bảng chữ cái.
— Patrick Modiano
Thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người.
— Cung Tiến
MỤC LỤC
DẪN NHẬP 11
DU HÀNH THỜI GIAN 23
Rue des Roses – tháng ngày xa khuất
25
Tiếng hắc tiêu trên đồi thông
37
Cà phê thời không “son phấn”
59
Café Tùng, từ thăm thẳm lãng quên
71
Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình
87
Một “nhà-dân-ngữ”, một khối huyền thoại
97
Một thời “quá thơ mộng và giang hồ”
119
Loài củi mục trên miền xứ bỏ hoang
127
Của thiên đường, của mộng, của thơ
141
KHÔNG GIAN ĐÃ MẤT 167
Thiên đường của những kho sách
169
Chuyến tàu trên biển thời gian bát ngát
181
Hai câu chuyện về tự trị đại học
189
Người tình của hoa đào
203
Một bước, tới Sài Gòn
217
“Như một bóng ma trong sương mù”
225
Sầu ca về thành phố 237
Trắng đen ký vãng 263
Cây đàn trong lòng đất
277
Lê Uyên-Phương, một vài góc khuất
289
La Dalat: người đẹp đồng bằng, tuấn mã cao nguyên
hay giấc mơ Đà Lạt
301
Lối cũ, nhà xưa 313
PHỤ LỤC 325
Thời vàng son của đô thị giáo dục
327
Du lịch Đà Lạt đầu thập niên 1970
359
Hội hè thanh niên 365
7 công trình kiến trúc tiêu biểu được xây dựng
trong giai đoạn 1954 – 1975
371
9 Thị trưởng Đà Lạt giai đoạn 1954 đến 1975
372
Tài liệu tham khảo
373
Lời cám ơn
377
Ghi chú 380
Mục từ tra cứu 394
DẪN NHẬP
Gần nửa đầu thế kỷ XX, người Pháp xây dựng Đà Lạt như một đô
thị nghỉ dưỡng, nơi tái hiện khung cảnh núi Alps giữa vùng cao nguyên
xứ Đông Dương với khoảng 1.300 ngôi biệt thự kiến trúc châu Âu. Không
gian thành phố cao nguyên với hệ thống hồ nước nhân tạo nối trung
tâm với những vùng canh nông, rừng thông trong phố như bộ máy điều
hòa khí hậu tự nhiên khổng lồ, núi đồi ven đô là nơi lý tưởng cho những
chuyến picnic, săn bắn, khách sạn xa hoa cho giới quan chức, không gian
nhà thờ, tu viện cổ kính tái hiện không gian Trung Cổ bên trời Âu và cả
trường học dạy Pháp ngữ là vườn ươm của con em giới quan chức chính
quyền thực dân.
Nhà nghiên cứu người Canada Eric T. Jennings không đưa ra con số
chính xác, song có cơ sở khi nhận định rằng: “Một tỉ lệ lớn dân Pháp ở
Đông Dương hoặc đã chào đời ở Đà Lạt, nghỉ mát ở Đà Lạt, hoặc vào một
thời điểm nào đó học hành ở Đà Lạt, một nơi từ lâu được coi là vườn trẻ
của thuộc địa này. Cho tới hôm nay, Đà Lạt vẫn ấp ủ hoài niệm và nuôi
dưỡng niềm khát khao nào đó”1
Đúng là “yếu tố Pháp” ở Đà Lạt không chỉ nằm trong hoài niệm, mà
còn ở chỗ, là đô thị từng “nuôi dưỡng một khát khao” về một hình mẫu xã
hội đô thị Tây phương, một môi trường tận hưởng thiên nhiên hiền hòa,
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 11
thụ hưởng không gian giáo dục tiến bộ và tiếp nhận lối sống văn minh,
lịch lãm mà những gia đình thượng lưu trí thức miền Nam ngưỡng vọng.
Cần đặt niềm khát khao đó vào bối cảnh hậu thuộc địa, sự ảnh hưởng
sâu xa của tư duy châu Âu trung tâm – dĩ Âu vi trung – nếu muốn lý giải
trên bình diện tâm lý.
Năm 1944, Đà Lạt có hơn 5.600 dân phương Tây cư trú. Nếp sống,
văn hóa Âu, Pháp đậm đặc ở thành phố cao nguyên non trẻ này.
Đến năm 1945, thực dân Pháp bắt đầu mất dần sức ảnh hưởng ở
Đông Dương. Công cuộc vun đắp đô thị Đà Lạt như một thủ đô Liên
bang Đông Dương của người Pháp khác nào một giấc mộng dang dở. Vị
thế đó manh nha củng cố trong thời kỳ Hoàng triều cương thổ, khi biểu
tượng Đà Lạt – trung tâm chính trị – gắn với sự trở lại ngắn ngủi, có gì
đó khiên cưỡng và muộn màng của cựu hoàng Bảo Đại (từ 1950-1955),
người đã trao ấn kiếm cho phía Việt Minh từ 1945. Ở vào mạt thời của
chế độ phong kiến với những sức ép của cục diện chính trị mới – những
chính sách của vị cựu hoàng nửa chủ nghĩa dân tộc phương Đông, nửa
mang tinh thần xa hoa phương Tây trong lối sống và quản trị cộng với sự
thiếu thực lực quân sự đã không đủ sức đưa thủ phủ Đà Lạt trở lại “đỉnh
cao” (từ dùng của Eric T. Jennings) về địa chính trị như hy vọng được nữa.
Nhưng thời kỳ này đánh dấu một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng
thuộc về cấu trúc dân số Đà Lạt. Sự “Việt Nam hóa” bắt đầu diễn ra tại đô
thị quy mô nhỏ kiểu Pháp này. Năm 1952, Bảo Đại bỏ lệ lao động cưỡng
bách trên toàn vùng Hoàng triều cương thổ và chấp nhận “nhập cư lao
động” (dĩ nhiên, có qua sát hạch và được cấp căn cước gia nhập) để người
Kinh có thể lên Đà Lạt nói riêng, lên “xứ Thượng Nam Đông Dương”
nói chung2 – làm phu, thế dần bộ máy lao động của dân Thượng bản địa
trước đó gánh vác, tạo ra một sự bình đẳng trong xã hội. Nhân sĩ, trí thức
triều đình, người có gốc gác hoàng tộc ở Huế cũng chuyển đến Đà Lạt
sống trong thời kỳ này, có nhiều đóng góp cho diện mạo văn hóa đô thị.
Cuốn Địa chí Đà Lạt năm 1953 của Tòa Thị chính Đà Lạt có ghi chép
mang tính tiên báo về một thời kỳ phát triển văn hóa rực rỡ của đô thị
12 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
này trong tương lai gần: “Đà Lạt phải trở thành trung tâm đại học của Việt
Nam. Đà Lạt là một nơi vừa để nghỉ ngơi vừa để làm việc. Đà Lạt không
ngừng phát triển và trong tương lai, trong một nước Việt Nam độc lập, Đà
Lạt tràn đầy triển vọng”.
[Bưu thiếp Đà Lạt năm 1951. Ảnh tư liệu]
Khoảng đầu thập niên 1950 thì mỗi năm có khoảng 1.500 đến 2.000
người Kinh ở các vùng đồng bằng lên cao nguyên. Một số trường học:
trường Huấn luyện Sĩ quan, trường Hành chánh Quốc gia và vài cơ sở
giáo dục tiểu học của người Việt dần được thành lập vào giai đoạn này,
trên thủ phủ của Hoàng triều cương thổ.
Về an ninh, Đà Lạt trong năm 1953 vẫn được một số tư liệu Văn
khố Quốc gia về Lãnh thổ Hải ngoại thuộc Pháp xem như là một thành
phố “sống trong sự yên bình tuyệt đối”. Dù thời bấy giờ, đã âm ỉ xảy ra
những cuộc thanh toán kiểu du kích của lực lượng Việt Minh nằm vùng
nhằm vào mật thám và cộng đồng quan chức, trưởng giả Pháp còn sót
lại, những phản ứng lần khần của binh lính Bảo Đại, những tranh giành
quyền lực khi chính quyền Quốc gia của Bảo Đại bắt đầu có chính sách
gần Mỹ, xa dần ảnh hưởng của Pháp. Nội tình chính trị không còn yên
bình như vẻ ngoài của phong cảnh.
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 13
Hoàng triều cương thổ hết vai trò lịch sử, tiến trình “Việt Nam hóa”
ở Đà Lạt diễn ra nhanh chóng và ồn ào hơn, với đợt di dân năm 1954,
sau hiệp định Genève. Quy hoạch đô thị giai đoạn này, nói như Eric T.
Jennings, “đồ án 1942 của Lagisquet3 thậm chí đã được phủ bụi và đem ra
sử dụng dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm”4. Dòng dân cư một triệu
người từ bên kia vĩ tuyến 17 – đặc biệt là người dân theo đạo Công giáo
dưới sự bảo trợ của chính quyền Ngô Đình Diệm – thiên di đến các đô
thị miền Nam. Nhiều gia đình, trí thức tư sản tinh hoa ở Hà Nội đã chọn
Đà Lạt làm chốn nhập cư. Quá trình thúc đẩy sự đồng hóa dân Thượng
bản địa diễn ra ở đô thị này nhanh chóng hơn sau những nghi lễ hồ hởi
bề mặt do chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức đón tiếp người Kinh
mới đến.
Phong trào khai hoang lập ấp ở các vùng ven Đà Lạt trong khoảng từ
1953-1956. Kết quả là gần 14.000 di dân đã định cư tại Đà Lạt vào năm 1956,
và, theo đà đó, đến 1968, tức 5 năm sau khi chính quyền ông Ngô Đình Diệm
sụp đổ, thì Đà Lạt căng mình đón 16.000 người Việt nhập cư mới.
[Thủy tạ Đà Lạt, 1955. Ảnh: Đặng Văn Thông]
14 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Đặc biệt, chính sách lập ấp chiến lược của chính quyền Ngô Đình
Diệm năm 1962 cũng đã khuyến khích người Thượng từ các vùng núi
dồn về trung tâm. Không gian đô thị trở nên sầm uất hẳn so với thời
Hoàng triều cương thổ. Việc trở thành cư dân Đà Lạt có vẻ dễ dàng hơn
nhiều so với trước đó. Nhưng điều may mắn, đó là bởi đô thị này phát
triển theo hướng đẩy mạnh chức năng giáo dục, theo đó là những dịch vụ
vệ tinh phục vụ cho đời sống ăn học, tinh thần, cho nên, bầu khí quyển
văn hóa chi phối lối sống cư dân nói chung trong lành, nề nếp. Chức năng
giáo dục cũng tạo ra một màng lọc tự nhiên đối với thành phần dân cư,
hình thành một không khí trí thức thuần nhất, hiếm đô thị nào có được.
Đà Lạt có nhà in Trí Hương5, Lâm Viên6, có tờ tuần báo riêng mang
măng-sét Đà Lạt từ giữa thập niên 1950, in ronéo. Trước đó, cuối thập
niên 1940, cũng tại Đà Lạt, nhà thơ Nguyễn Vỹ chủ trương tờ Dân Chủ,
đưa ra quan điểm đối lập trực tiếp với chính quyền quân chủ Bảo Đại, ít
lâu sau bị đình bản. Tiếp đó, ông mở báo Dân Ta, và cũng nhận cái kết
không có hậu. Đáng kể, từ tháng Giêng năm 1952, với chủ trương báo chí
là “tia sáng của văn hóa phải rọi khắp trong quốc dân”, Nguyễn Vỹ tiếp
tục trong vai trò chủ bút, cho ấn hành tờ tạp chí Phổ Thông ra hàng tháng,
công khai khẩu hiệu “Truyền bá trí thức – Nâng cao văn hóa”. Những số
đầu của báo Phổ Thông được thực hiện tại Đà Lạt (tòa soạn đặt tại số 2
đường Khải Định) sau này thì dời về Sài Gòn, trở thành một trong những
tờ nguyệt san uy tín hàng đầu trong làng báo chí miền Nam.
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 15
Đà Lạt có đài phát thanh với những chương trình âm nhạc, trao
đổi nghệ thuật, nơi nâng cánh cho những tài năng trẻ. Sự xuất hiện của
nhóm nhạc Ngàn thông trên sóng radio, nơi xuất hiện một Từ Công
Phụng, với chương trình Mây cao nguyên với sự tỏa sáng của Lê Uyên
và Phương. Trước đó, cũng từ sóng radio, Sỹ Phú, Tôn Thất Niệm cũng
được khán giả khắp nơi biết đến. Nhiều danh ca: Khánh Ly, Tuấn Ngọc,
Thanh Tuyền,… các nhạc sĩ: Hoàng Nguyên, Nguyễn Ánh 9 cũng chọn
Đà Lạt như điểm xuất phát trong sự nghiệp âm nhạc của mình.
Đà Lạt cũng có những quán cà phê tụ điểm trí thức, những thư viện,
rạp chiếu bóng và phòng trà văn minh, lịch lãm, mang sắc thái riêng của
văn hóa đô thị theo mô thức phương Tây mà giới tinh hoa và du khách
đặt chân đến cảm thấy gắn bó, hài lòng, xem như “thiên đường”.
Đà Lạt đã chính thức trở thành một đặc khu văn hóa, giáo dục với sự
ra đời của nhiều trường học từ tiểu học công, tư thục đến viện đại học.
Từ yếu tố nền tảng là thành phần dân cư địa phương tương đối
đồng nhất (Công giáo chiếm phần lớn; các phong trào Phật giáo theo
xu hướng truyền thống, ôn hòa; dân cư làm nông theo mô hình quy
hoạch thôn - ấp truyền thống có hương tục và tầng lớp hương thân;
thành phần công chức, giáo viên vẫn duy trì lề lối làm việc kiểu công
sở Tây; những người buôn bán trong môi trường thương mại tương đối
nhỏ hẹp, ít áp lực cạnh tranh hay phải chụp giật, giẫm đạp lên tha nhân
để tồn tại…) cộng với chức năng một đặc khu về giáo dục, với sự ra đời
của Viện Đại học Đà Lạt, Giáo Hoàng Học viện thánh Piô X, trường Võ
bị, Chiến tranh Chính trị và một hệ thống trường tiểu học, trung học
có từ thời Pháp thuộc đến những trường dòng với chế độ giáo dục vừa
nghiêm ngặt vừa khai phóng… đã tạo ra một môi trường xã hội đô thị
yên ổn, ít cảnh bon chen; hướng đến những giá trị tinh thần; coi trọng
người học thức và cổ súy cho những giá trị sáng tạo, tiến bộ.
“Những di sản thuộc địa” hữu hình trong thời nọ thời kia có thể bị
tìm cách tẩy xóa bằng cách này hay cách khác, nhưng sức sống văn hóa
mạnh mẽ từ “mã gene” đô thị đó, trong lối ứng xử văn hóa thì vẫn âm
16 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
thầm được tiếp nối, cộng hưởng với khả năng hội tụ thành phần trí thức
khắp nơi đến tiêu dao, tìm nguồn cảm hứng sáng tạo, giảng dạy, nghiên
cứu đã tạo ra một “Đà Lạt tính”, một căn tính văn hóa đô thị không lẫn
vào đâu.
Tôi đã nghĩ rằng, những người Pháp, Âu đầu tiên đến với phương
Đông, trước hết bởi sự hấp dẫn bí ẩn thuộc về một xứ khác, kẻ khác, một
thế giới ở ngoài mình. Một đô thị trên cao nguyên xứ Đông Dương được
hình thành khác chi sự hiện thực hóa giấc mơ viễn du tìm kiếm hương
xa (exotisme) của những nhà kiến tạo đô thị Pháp thực dân nhưng lại
duy văn hóa. Hương xa, ở chiều kích khác, cũng là một mảnh cấu thành
trong tâm thức “dĩ Âu vi trung” thời hậu thuộc địa theo chiều ngược
lại (tiếp nhận, hồi đáp). Điều này lý giải cho việc chính những trí thức
bản xứ ngưỡng vọng, tự nguyện mô phỏng một mô hình văn hóa nối
tiếp giấc mơ dang dở mà những nhà sáng lập danh nghĩa thực dân vừa
mới rời đi sau những đợt sóng vận động của lịch sử. Trí thức, nghệ sĩ
miền Nam tìm đến, cống hiến sáng tạo hay chí ít trải nghiệm Đà Lạt, bởi
trong sâu thẳm hình dung, họ tìm thấy ở đó hình bóng một “Paris”, phổ
quát hơn, là một bối cảnh, hệ giá trị phương Tây để theo đuổi.
Như vậy, Đà Lạt là một biểu tượng đô thị hương xa xét từ cả hai
chiều kích. Với lập luận trên, ta sẽ giải thích dễ dàng hơn những hiện
tượng văn hóa diễn ra như việc một thời, các nghệ sĩ sống ở miền
Nam, có những người từng du học tại Pháp (trong nhóm Trịnh Cung,
Đinh Cường, Đặng Tiến, Trịnh Công Sơn, Vũ Khắc Khoan, Hoàng
Anh Tuấn…) ưa thích tìm đến Đà Lạt sống và sáng tạo. Nguyễn Thị
Hoàng đến Đà Lạt dạy học một thời gian để viết ra những tác phẩm
về tình yêu thuở học trò gây tiếng vang. Ta lại thấy Phạm Công Thiện,
Nguyễn Bạt Tụy chọn làm nơi náu mình để nghiên cứu, chiêm nghiệm,
theo đuổi học thuật trong bối cảnh chiến tranh li loạn. Ở họ, có sự mê
say vụng dại hồ hởi của tuổi trẻ, sự cực đoan đáng yêu của người hứng
tâm với tri thức, nhưng cũng có những thứ được tạo nên từ sự trưởng
thành rất đặc biệt trong một môi trường nhân văn lý tưởng; đóng góp
cho văn hóa đất nước nói chung.
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 17
[Khu Hòa Bình, Đà Lạt 1952. Ảnh: Bill Robie]
Nếu Paris từng là nơi lang bạt của những văn nhân nghệ sĩ Mỹ
thuộc thế hệ “Lost Generation” (Thế hệ bỏ đi) như F. Scott Fitzgerald, E.
Hemingway… vào những thập niên 1920 - 1930, thì với sự du hành văn
hóa, dường như đã có một “Lost Generation”như thế ở những nghệ sĩ
Việt Nam tuổi đôi mươi của Sài Gòn tìm đến Đà Lạt từ khoảng giữa thập
niên 1950 đến cuối thập niên 1960 với những đầu óc chất đầy “chọn lựa”,
“vấn đề”, “hiện sinh”, “dấn thân”, “tuổi trẻ băn khoăn”... Một kẻ hát rong
trong gánh Đức Huy - Charlot Miều sớm nhận ra và gọi rất đúng cái tâm
thế “vọng ngoại”, đúng hơn là “vọng Âu” đó trong một lần dừng chân ở
Đà Lạt vào năm 1944: “Đã được đi nhiều nơi trên đất nước nhưng tôi
không thấy phong cảnh ở đâu đẹp như ở đây. Mang tinh thần vọng ngoại
như hầu hết thanh niên thời đó, tôi sung sướng được tới một thành phố
giống như ở Âu châu. Tưởng mình đang ở Thụy Sỹ hay Đức quốc”. Kẻ hát
rong đó là nhạc sĩ đa tình Phạm Duy, cũng là người có bản “tự thú” rất
chân thành rằng, về sau ông đã trở lại Đà Lạt hơn chục lần, “lần nào cũng
nằm tròn trong vòng tay ân ái của một người tình”7.
18 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Trong một số bức ảnh tư liệu của Đinh Cường, Trịnh Công Sơn chụp
tại Đà Lạt vào khoảng 1964 - 1965, có thể thấy những chàng trai tuổi
đôi mươi thuộc “nhóm bạn nghệ sĩ đường Hoa Hồng” miệng ngậm pipe,
mình khoác áo manteau, nét mặt thường trực nỗi suy tư xa vắng. Rất dễ
dàng nhận ra trên con đường “thơ mộng và giang hồ” của họ luôn có cái
bóng của ông Jean-Paul Sartre. Nói khác đi, Sartre phủ trùm lên tư tưởng
lẫn hình thức, phong thái cuộc sống của họ.
Với những người đến Đà Lạt để học hành, nghiên cứu thì có dịp trải
nghiệm một Đà Lạt tuy nhỏ, nhưng thấp thoáng bóng dáng thành phố
quốc tế trong giáo dục. Những học trình, bằng cấp ở những trường Tây
như Lycée Yersin, Collège d'Adran, Dalat School... đều được thế giới công
nhận. Những sinh viên tốt nghiệp phân ngành Sư phạm tại Viện Đại học
Đà Lạt khi ra trường có thể sang Pháp, Mỹ xin việc, theo đuổi nghề giáo
dễ dàng. Những nhà nghiên cứu tại Giáo Hoàng Học viện Thánh Piô X
có thể tiếp tục làm việc, giảng dạy tại những Viện nghiên cứu danh giá ở
châu Âu… Đà Lạt từng là nơi hiện thực hóa giấc mơ theo đuổi học thuật
của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng thế giới mà tôi sẽ có dịp nhắc đến
trong quyển sách này.
Ngắn ngủi, chóng vánh nhưng để lại những sắc thái sâu đậm – đó là
những gì có thể nói về Đà Lạt – thành phố của tri thức, văn hóa và của
những cuộc du hành, không gian ẩn dật thú vị cho những nhân vật được
đề cập trong cuốn sách này. Trong đó, có hai nhân vật chính khách: Ngô
Đình Nhu, Nguyễn Tường Tam. Tuy khuynh hướng chính trị khác nhau,
nhưng hai ông ít nhất một lần, từng nuôi ý định sẽ gắn bó với thành phố
yên bình này suốt phần đời còn lại.
Vậy thì tâm tính Đà Lạt là gì? Phải chăng đó còn là một tinh thần thư
nhàn, phiêu du được diễn giải qua hình ảnh “tuấn mã cao nguyên” – La
Dalat trong cuộc trở lại của nhà doanh nghiệp Pháp vào đầu thập niên
1970 hay là một đời sống phong lưu, một không gian sinh hoạt trí thức
và một điều kiện văn hóa tinh lọc hướng đến hàn lâm hoặc là những ảo
tưởng thoát ly mang sắc thái viễn mơ?
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 19
Trong giấc mộng đẹp luôn thấp thoáng một nguy cơ của sự vỡ mộng.
Nói theo lý thuyết về du hành và hồi đáp văn hóa của Edward Wadie
Said8, thì Đà Lạt có thể xem là một case study (trường hợp tiêu biểu để
nghiên cứu) khá thú vị.
Mong mỗi người đọc sau khi tiếp cận với những câu chuyện trong
quyển sách này cũng sẽ bổ sung thêm những “gạch đầu dòng” về tâm tính
Đà Lạt cùng với cảm nhận riêng. Dù rằng, bản sắc, căn tính hay kể cả tâm
tính là những thứ mà ngôn từ của lý tính thường bất khả hàm chứa trọn vẹn.
Làm sao phân chất một mùi hương?9
Với cá nhân người viết, việc du hành về một đô thị thuở vàng son
ký ức để tìm cách tái hiện những câu chuyện và phần nào, nỗ lực giải
mã chúng có thể xem là một cuộc phiêu lưu đầy kỳ thú, dĩ nhiên, không
ít nhọc nhằn. Điều đó có ý nghĩa như cách thế trả món nợ hiểu biết với
thành phố mà mình từng gắn bó suốt năm năm thời đẹp nhất của tuổi
trẻ. Nhưng có lúc, đó lại có thể là một việc làm tự thấy quá sức. Hãy còn
nhiều con người, sự việc còn chìm trong mù sương lịch sử, cần thời gian
và sự hành trì sâu hơn về dĩ vãng.
Vì thế, mục tiêu của cuốn sách có tính du khảo này không kỳ vọng
đạt đến tính khoa học nghiêm trang, nhưng phần nào minh định vài câu
chuyện, đóng góp vài phát hiện nhỏ, kết nối một số tư liệu khảo cứu –
kinh nghiệm thực địa với mục đích gần, đó là gợi mở một lối tiếp cận lịch
sử đô thị nhân văn. Hy vọng điều này sẽ đem lại chút hữu ích cho những
nhà nghiên cứu Đà Lạt đến sau. Giả như mục đích đó không mảy may đạt
được, thì chí ít, cũng mong độc giả xem đây là một buổi cà phê tán gẫu
không quá nhạt nhẽo với một người yêu Đà Lạt bằng một tình yêu quá
lớn trong một năng lực hữu hạn.
Trong chuỗi truyện mà Marco Polo – nhà du hành vĩ đại đến từ
phương Tây – với Hốt Tất Liệt, vị đại hãn thứ năm của Mông Cổ về các
thành phố mà ông đã từng đi qua, thì tôi đặc biệt nhớ mẩu chuyện về
thành phố có tên Zirma. Đó là một nơi chốn mà mỗi cảnh tượng diễn ra
đều bị “chồng lặp”, chính vì thế, chúng nhắc nhớ, neo đọng lại trong tâm
20 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
tưởng con người ta lâu dài. Phải chăng sự sống ký ức về không gian văn
hóa của chúng ta về một nơi chốn, hay cụ thể hơn, thời vang bóng của
một đô thị thì cũng mang một cơ chế gần như thế? Những kỷ niệm, ấn
tượng, sự kiện, con người, khí hậu… sẽ có lý để được “chồng lặp” lại mãi
trong hồi ức, đôi khi chống lại cả một thực tại cuồng khấu, bạo tàn và phũ
phàng đang diễn ra hằng ngày trên da thịt thành phố. Như thi nhân xao
xuyến tìm má hồng của cố nhân thuở hoa đào năm cũ: Trước sau nào thấy
bóng người/ hoa đào năm ngoái còn cười gió đông10. Italo Calvino, nhà văn
dệt mộng người Ý, kẻ chuyên nhấn chìm thực tại vào trong cõi vô hình
bằng phép thuật ngôn ngữ, đã diễn dịch cuộc trò chuyện của nhà du hành
giàu có ký ức, tưởng tượng và trải đời với một vị đại hãn – biểu tượng
vương quyền chóng qua (nhưng ít ra, còn biết đối thoại!) – về Zirma11,
rằng: “Ký ức chồng lắp dư dôi, những ký hiệu được lặp lại để mà thành
phố khởi sự tồn tại”.
Đà Lạt trong ký ức những người từng gắn bó ngày hôm qua, phải
chăng, cũng thế? Vậy thì chiều kích thứ ba của cái gọi là tinh thần hương
xa mà cuốn sách này mong muốn gợi mở là nằm ở nỗi hoài cảm về một
“thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha”, theo lối nói của Cung Tiến.
Một mối u hoài đi cùng cảm giác mất mát khó giãi bày, có lẽ cũng là cảm
trạng chung của những người từng gắn bó với Đà Lạt. Xin xem đây như
là một sự chia sẻ.
Hành trình đi vào lịch sử nhân văn của một đô thị nhiều thăng trầm
như Đà Lạt chắc chắn sẽ không dừng lại ở đây. Hy vọng quyển sách đơn
sơ này sẽ là những nét phác thảo gợi được một chút xúc cảm và hứng thú
để chặng tiếp theo của cuộc du hành về quá khứ, tác giả của nó sẽ bớt đi
phần nào cảm giác đơn độc.
Xin mời độc giả đồng hành.
Tác giả
Saigon, đầu mùa mưa, 2016
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 21
DU HÀNH
THỜI GIAN
24 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
RUE DES ROSES,
THÁNG NGÀY XA KHUẤT
Đà Lạt quá bé nhỏ và khiêm cung. Nên nếu phải kể đến một con
đường ôm mang trong nó đầy đủ nhất những cung bậc thăng trầm của
lịch sử, là việc khó. Nhưng hãy nhìn sâu vào cốt cách văn hóa của đô thị
này, như cách đi vào bên trong những cánh sóng trên một đóa hoa hồng,
ta sẽ gặp ở đó câu chuyện thời gian, trong từng rực rỡ có màu tàn phai…
Thuở ban đầu
Đà Lạt được nhà thám hiểm A. Yersin phát hiện từ 1893. Thập niên
đầu của thế kỷ XX, nơi đây đã là trạm nghỉ dưỡng của người Pháp. Qua
lần quy hoạch thứ nhất (năm 1923, của kiến trúc sư Ernest Hébrard), sắc
vóc đô thị dần hình thành. Nhưng mãi đến bản quy hoạch chỉnh trang
năm 1933 của Louis Georges Pineau thì một mô hình đô thị “thức thời”
và “chức năng” mới thực sự được biểu hiện rõ ràng hơn.
Eric T. Jennings, sử gia người Canada trong vai một hướng dẫn viên
du lịch dẫn ta về Đà Lạt những năm 1930:
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 25
“Sau khi đặt chân xuống sân nhà ga kiểu art deco, một du khách đến Đà Lạt
vào cuối những năm 1930 sẽ đi ngang qua ngôi trường gạch đỏ Lycée Yersin lấy
cảm hứng từ Thụy Điển đang trong giai đoạn hoàn thành, sau đó đi men theo bờ hồ
trung tâm trung tâm dọc đại lộ Albert Sarraut. Họ liếc thấy nhà thủy tạ Grenouillère
bên tay trái với quầy rượu và các cầu ván nhảy bơi lặn, và thưởng lãm dinh thự của
toàn quyền nằm trên đỉnh đồi toàn cây thông bao phủ về bên tay trái. Giống như
đến bây giờ vẫn thế, hương thơm của những loài cây thường xanh thoảng trong
không khí, khơi gợi những ký ức mãnh liệt cho những kiều dân thuộc địa. Từ xa,
du khách này sẽ dõi theo những núi đồi nhấp nhô dọc bình nguyên, trải dài ngút
tầm mắt. Một vài chóp nhọn nhô lên trên những ngôi biệt thự trên cao hoặc các
tu viện. Bên kia hồ về phía tay phải, du khách sẽ ra sân gôn của hoàng đế An Nam.
Kế đó là ba khung cảnh hiện ra, phô trương một sự tương phản hoàn toàn: thẳng
phía trước là khu hành chính, trong đó người ta có thể nhận ra lực lượng hiến binh,
nhà thờ bằng gạch, những khách sạn trắng tinh và các phòng thuế vụ. Xa hơn phía
trước là một trong những khu vực chính kề cận nhau của người Âu và những ngôi
biệt thự ngẫu hứng, cũng nằm trên một triền dốc, dọc theo những tên đường gợi
nhiều liên tưởng như Rue des Roses (đường Hoa Hồng) và Rue des Glaïeuls (đường
Hoa Lay-ơn)”12.
[Con em một gia đình thượng lưu người Việt sống trong ngôi biệt thự trên đường
Hoa Hồng vào thập niên 1950. Ảnh: Tư liệu gia đình bà Nguyễn Thị Phong]
26 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Năm 1933, đường bộ Đà Lạt - Sài Gòn thông xe. Đường sắt Đà Lạt Tháp Chàm thông tuyến năm 1932. Nhà ga Đà Lạt hoàn thành năm 1938.
Nhiều cơ sở chính của thành phố được mở mang trong thời gian này.
“Sự phát triển của Đà Lạt hình như là hậu quả của sự cải tiến các phương tiện
giao thông và sự dồi dào của vốn đầu tư” (…) “Nam Kỳ giàu có tiếp sức cho đà phát
triển của Đà Lạt và cung cấp vốn sử dụng trong việc hình thành những khu phố đẹp.
Đà Lạt trở thành một thành phố giáo dục quan trọng. Trường trung học được
quyết định xây dựng năm 1926 và kéo dài đến hết năm 1941. Trường Đức Bà Lang
Bian - Notre Dame du Langbian (hay còn gọi là Couvent des Oiseaux, nay là trường
Dân tộc nội trú Lâm Đồng) được thi công từ năm 1934 đến năm 1936 và Thánh Tâm
(Sacré Coeur) được xây năm 1940.
Đồng thời, lục quân và hải quân cũng thiết lập những trại nghỉ hè. Doanh trại
Courbet được quy hoạch năm 1930. Một doanh trại quân đội rộng 24 hec-ta sẽ mọc
lên ở phía đông thành phố vào năm 1937. Về hướng Bắc, Trường Thiếu sinh quân
(Ecole des Enfants de Troupe Eurasien, nằm ở khu đất ngày nay là Đại học Đà Lạt)
chiếm 38 hec-ta từ năm 1939 dành cho trẻ em lai.
Các khu phố đường Hoa Lay-ơn, đường Hoa Hồng, cư xá Saint Benoît được xây
dựng. Về phía Tây Bắc và phía Nam của thành phố, người Việt Nam thành lập các khu
phố. Hồ được xây dựng xong năm 1935”13
Cuốn Địa chí Đà Lạt 1953 cũng ghi chú thêm, vào thời điểm Rue
des Roses được xây dựng (khoảng cuối thập niên 1930), Đà Lạt có 13.000
người, trong đó có khoảng 10.000 người Việt Nam, nhưng hai năm sau,
dân số đã vượt lên 20.000 người.
Đây là thời kỳ đồ án quy hoạch năm 1933 của kiến trúc sư Louis
Georges Pineau được hiện thực hóa với mô hình một đô thị chức năng
– “thành phố thư nhàn”, cấu trúc hài hòa với thiên nhiên, có hình rẻ quạt
hướng về phía núi Lang Bian. Tư duy quy hoạch 1933 của Pineau về sau
cũng được kiến trúc sư H. Mondet kế thừa trong đồ án về “Chương trình
chỉnh trang và phát triển Đà Lạt” (1940) và được kiến trúc sư Jacques
Lagisquet nghiên cứu trong “Chương trình chỉnh trang và phát triển Đà
Lạt” (1943).
Rue des Roses được sinh ra trong điều kiện đó. Như thế, ngay từ ban
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 27
đầu, nó đã là một con đường kiểu mẫu về sự hài hòa kiến trúc với khung
cảnh, địa thế với tổng thể địa lý thành phố.
Đường Hoa Hồng
Những biệt thự kiến trúc châu Âu hoa mỹ trên con đường men theo
sườn đồi, ẩn hiện dưới những tán thông, tùng cổ thụ một thời là nơi ở
của đa số quan chức, công chức cấp cao người Pháp. Sau 1950, chúng bắt
đầu dần dần thuộc sở hữu của giới trung lưu, thượng lưu và quan chức,
công chức khá giả người Việt. Cao điểm nhất là vào đầu những năm 1960,
Rue des Roses dưới tên gọi được Việt hóa – đường Hoa Hồng – chính là
nơi chốn trọ của một nhóm nghệ sĩ trí thức chọn Đà Lạt làm đất sáng
tạo. Họa sĩ Trịnh Cung đã từng thuê một gian trong căn biệt thự số 11
đường Hoa Hồng trong hai năm, 1962-1963. Đây là căn biệt thự của bà
Nghiên, vợ một quan chức cấp cao trong chính quyền Bảo Đại. Ông bà
Nghiên lấy nhau ở Paris, sau đó chuyển về Đà Lạt sinh sống trong thời
Hoàng triều cương thổ. Cuộc hôn nhân đổ vỡ, khi ra tòa ly dị, người vợ
được tòa phán quyết chia cho căn biệt thự này. Là một trí thức Tây học,
bà Nghiên có lối sống như những người Pháp láng giềng, biết thụ hưởng
những giá trị tinh thần cao nhã, mê tranh và khá sành nhạc cổ điển.
Sau Trịnh Cung, họa sĩ Đinh Cường cũng đến và lưu trú tại studio
trong ngôi biệt thự này. Trong một bài hồi ức, họa sĩ Trịnh Cung kể:
“Cuối năm 1962, tôi bỏ dạy vẽ, khăn gói lên Ðà Lạt theo đề nghị bảo trợ cho
tôi một cuộc sống chỉ để vẽ, mọi thứ đều được anh bạn yêu tranh tôi, tên là Thọ, đài
thọ. Anh Thọ có đồn điền ở Lâm Ðồng và có vài pharmacy ở Sài Gòn, dân du học
ở Pháp về. Hồi đó dân chơi Sài Gòn đặt nick cho hai công tử, Lân Simca Ðỏ (Hoàng
Kim Lân) và Thọ Florid Trắng, đó là chỉ hai chiếc xe mui trần nổi bật giữa Sài Gòn hoa
lệ thời 60 của hai chàng. Anh Thọ lớn hơn tôi khoảng 5 tuổi, thuê cho tôi một căn
hộ trong biệt thự nằm trên đường Hoa Hồng nay là đường Huỳnh Thúc Kháng, Ðà
Lạt. Nơi mà Ðinh Cường thường đề cập khi anh viết về Ðà Lạt một thời. Việc cơm
nước, anh Thọ giao cho bà chủ biệt thự này lo toan cho tôi mỗi ngày. Rong chơi và
vẽ là nhiệm vụ mà tôi phải hoàn thành, anh Thọ muốn thế. Tôi thật quá may mắn! Và
cũng nhờ chỗ ở này mà tôi đã đưa Trịnh Công Sơn và Ðinh Cường về ở chung mỗi
khi hai bạn giang hồ lên Ðà Lạt và sau hai năm ở đó với bao kỷ niệm đẹp, tôi rời về
Sài Gòn theo lệnh động viên vào quân trường Thủ Ðức. Từ đó Ðinh Cường tiếp tục
28 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
thuê căn phòng ở số 1014 đường Hoa Hồng này, cùng ở với Ðỗ Long Vân bỏ dạy Văn
khoa Huế, lên làm thư viện tại Viện Ðại học Ðà Lạt từ năm 1963 đến 1965, ăn cơm
tháng ở nhà phía sau của vợ chồng Hoàng Anh Tuấn. Trịnh Công Sơn hay từ Bảo
Lộc về ở lại nơi này. Cũng là thời mà Trung úy Nguyễn Xuân Thiệp, Trưởng Đài phát
thanh Quân đội Ðà Lạt, hay ghé mỗi đêm khi ở đài ra.”15
Trên báo Trẻ ở Dallas, Nguyễn Xuân Thiệp có đoạn hồi ký nhắc đến
sinh hoạt văn nghệ năm 1964 của nhóm bạn nghệ sĩ sống trọ ở đường
Hoa Hồng:
[Họa sĩ Đinh Cường trước ngôi biệt thự số 11 đường Hoa Hồng (ảnh chụp khoảng 1964).
Ảnh: Tư liệu Đinh Trường Chinh]
“… Nguyễn (tức, Nguyễn Xuân Thiệp – NV) đã gặp các bạn Đinh Cường và Trịnh
Công Sơn rồi Khánh Ly và bao nhiêu người nữa. Giáng sinh, kéo nhau đi uống bia,
rồi về đàn hát ở studio Đinh Cuờng trên đường Roses. Có đêm uống rượu ở kiosque
Dì Ba, hay vào Night Club dưới chân Đài phát thanh nghe Khánh Ly hát.”
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 29
Đường Hoa Hồng xuất hiện nhiều trong thơ và hồi ký Đinh Cường. Với chàng
trai duy mỹ của một thời, đây là con đường mang lại không gian tĩnh lặng, lý tưởng
cho sáng tạo. Ông hồi tưởng: “Thời tuổi trẻ đã qua, sáng ở đầu sông nhớ núi, đêm
nằm trong núi nhớ sông, những chuyến đi giang hồ chỉ để nhìn thấy cái diệu kỳ của
thiên nhiên, nỗi hoang vu của trời đất… và luôn nuôi ngọn lửa sáng tạo. Thời ngồi
vẽ suốt đêm, một căn phòng có ngọn đèn không tắt trong một biệt thự trên đường
Roses – Đà Lạt”
Hay ở một tùy bút khác, họa sĩ Đinh Cường viết:
“Căn phòng thuê ở đường Roses, suốt mùa là những cánh hoa mong manh ấy,
đủ màu, chen dưới những đốm lá xanh tròn. Căn phòng có cánh cửa không khóa,
có ngọn đèn cháy cả đêm. Cả đêm, tôi say sưa vẽ, và Đỗ Long Vân say sưa dí mắt
cận vào sách. Từng đống vỏ Bastos xanh. Từng khuôn mặt bè bạn: Thiệp, Sơn, Mai,
Christan, Tường, Sâm,…”
Nhà 11 đường Hoa Hồng còn là nơi cư ngụ của vợ chồng nhà thơ,
đạo diễn Hoàng Anh Tuấn16 – Ngô Thy Liên. Ông Hoàng Anh Tuấn là
nhà điện ảnh gốc Hà Nội, du học tại Pháp, chọn Đà Lạt làm nơi phát tr...
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nguyễn Vĩnh Nguyên, 1979 Đà Lạt, một thời hương xa / Nguyễn Vĩnh Nguyên. - In lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh :
Trẻ, 2016.
400tr. ; 23cm.
1. Đà Lạt (Việt Nam) -- Mô tả và du lịch. I. Ts.
1. Đà Lạt (Vietnam) -- Description and travel.
915.976904 -- ddc 23
N573-N57
NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
DU KHẢO VĂN HÓA ĐÀ LẠT GIAI ĐOẠN 1954-1975
để tưởng nhớ ba tôi, người lạc thời, suy tưởng, cô đơn
để tặng gia đình nhỏ yêu dấu của tôi
để chuyện trò với những người yêu Đà Lạt.
Vậy hành trình của anh thực ra là hành trình trong ký ức.
— Italo Calvino
Nhiều năm sau, ta cố giải mã các bí ẩn mà vào thời điểm đó không
còn là bí ẩn nữa và ta muốn hiểu được những ký tự đã bị xóa phân
nửa của một ngôn ngữ quá cổ xưa, thứ ngôn ngữ thậm chí ta còn
không biết bảng chữ cái.
— Patrick Modiano
Thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người.
— Cung Tiến
MỤC LỤC
DẪN NHẬP 11
DU HÀNH THỜI GIAN 23
Rue des Roses – tháng ngày xa khuất
25
Tiếng hắc tiêu trên đồi thông
37
Cà phê thời không “son phấn”
59
Café Tùng, từ thăm thẳm lãng quên
71
Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình
87
Một “nhà-dân-ngữ”, một khối huyền thoại
97
Một thời “quá thơ mộng và giang hồ”
119
Loài củi mục trên miền xứ bỏ hoang
127
Của thiên đường, của mộng, của thơ
141
KHÔNG GIAN ĐÃ MẤT 167
Thiên đường của những kho sách
169
Chuyến tàu trên biển thời gian bát ngát
181
Hai câu chuyện về tự trị đại học
189
Người tình của hoa đào
203
Một bước, tới Sài Gòn
217
“Như một bóng ma trong sương mù”
225
Sầu ca về thành phố 237
Trắng đen ký vãng 263
Cây đàn trong lòng đất
277
Lê Uyên-Phương, một vài góc khuất
289
La Dalat: người đẹp đồng bằng, tuấn mã cao nguyên
hay giấc mơ Đà Lạt
301
Lối cũ, nhà xưa 313
PHỤ LỤC 325
Thời vàng son của đô thị giáo dục
327
Du lịch Đà Lạt đầu thập niên 1970
359
Hội hè thanh niên 365
7 công trình kiến trúc tiêu biểu được xây dựng
trong giai đoạn 1954 – 1975
371
9 Thị trưởng Đà Lạt giai đoạn 1954 đến 1975
372
Tài liệu tham khảo
373
Lời cám ơn
377
Ghi chú 380
Mục từ tra cứu 394
DẪN NHẬP
Gần nửa đầu thế kỷ XX, người Pháp xây dựng Đà Lạt như một đô
thị nghỉ dưỡng, nơi tái hiện khung cảnh núi Alps giữa vùng cao nguyên
xứ Đông Dương với khoảng 1.300 ngôi biệt thự kiến trúc châu Âu. Không
gian thành phố cao nguyên với hệ thống hồ nước nhân tạo nối trung
tâm với những vùng canh nông, rừng thông trong phố như bộ máy điều
hòa khí hậu tự nhiên khổng lồ, núi đồi ven đô là nơi lý tưởng cho những
chuyến picnic, săn bắn, khách sạn xa hoa cho giới quan chức, không gian
nhà thờ, tu viện cổ kính tái hiện không gian Trung Cổ bên trời Âu và cả
trường học dạy Pháp ngữ là vườn ươm của con em giới quan chức chính
quyền thực dân.
Nhà nghiên cứu người Canada Eric T. Jennings không đưa ra con số
chính xác, song có cơ sở khi nhận định rằng: “Một tỉ lệ lớn dân Pháp ở
Đông Dương hoặc đã chào đời ở Đà Lạt, nghỉ mát ở Đà Lạt, hoặc vào một
thời điểm nào đó học hành ở Đà Lạt, một nơi từ lâu được coi là vườn trẻ
của thuộc địa này. Cho tới hôm nay, Đà Lạt vẫn ấp ủ hoài niệm và nuôi
dưỡng niềm khát khao nào đó”1
Đúng là “yếu tố Pháp” ở Đà Lạt không chỉ nằm trong hoài niệm, mà
còn ở chỗ, là đô thị từng “nuôi dưỡng một khát khao” về một hình mẫu xã
hội đô thị Tây phương, một môi trường tận hưởng thiên nhiên hiền hòa,
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 11
thụ hưởng không gian giáo dục tiến bộ và tiếp nhận lối sống văn minh,
lịch lãm mà những gia đình thượng lưu trí thức miền Nam ngưỡng vọng.
Cần đặt niềm khát khao đó vào bối cảnh hậu thuộc địa, sự ảnh hưởng
sâu xa của tư duy châu Âu trung tâm – dĩ Âu vi trung – nếu muốn lý giải
trên bình diện tâm lý.
Năm 1944, Đà Lạt có hơn 5.600 dân phương Tây cư trú. Nếp sống,
văn hóa Âu, Pháp đậm đặc ở thành phố cao nguyên non trẻ này.
Đến năm 1945, thực dân Pháp bắt đầu mất dần sức ảnh hưởng ở
Đông Dương. Công cuộc vun đắp đô thị Đà Lạt như một thủ đô Liên
bang Đông Dương của người Pháp khác nào một giấc mộng dang dở. Vị
thế đó manh nha củng cố trong thời kỳ Hoàng triều cương thổ, khi biểu
tượng Đà Lạt – trung tâm chính trị – gắn với sự trở lại ngắn ngủi, có gì
đó khiên cưỡng và muộn màng của cựu hoàng Bảo Đại (từ 1950-1955),
người đã trao ấn kiếm cho phía Việt Minh từ 1945. Ở vào mạt thời của
chế độ phong kiến với những sức ép của cục diện chính trị mới – những
chính sách của vị cựu hoàng nửa chủ nghĩa dân tộc phương Đông, nửa
mang tinh thần xa hoa phương Tây trong lối sống và quản trị cộng với sự
thiếu thực lực quân sự đã không đủ sức đưa thủ phủ Đà Lạt trở lại “đỉnh
cao” (từ dùng của Eric T. Jennings) về địa chính trị như hy vọng được nữa.
Nhưng thời kỳ này đánh dấu một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng
thuộc về cấu trúc dân số Đà Lạt. Sự “Việt Nam hóa” bắt đầu diễn ra tại đô
thị quy mô nhỏ kiểu Pháp này. Năm 1952, Bảo Đại bỏ lệ lao động cưỡng
bách trên toàn vùng Hoàng triều cương thổ và chấp nhận “nhập cư lao
động” (dĩ nhiên, có qua sát hạch và được cấp căn cước gia nhập) để người
Kinh có thể lên Đà Lạt nói riêng, lên “xứ Thượng Nam Đông Dương”
nói chung2 – làm phu, thế dần bộ máy lao động của dân Thượng bản địa
trước đó gánh vác, tạo ra một sự bình đẳng trong xã hội. Nhân sĩ, trí thức
triều đình, người có gốc gác hoàng tộc ở Huế cũng chuyển đến Đà Lạt
sống trong thời kỳ này, có nhiều đóng góp cho diện mạo văn hóa đô thị.
Cuốn Địa chí Đà Lạt năm 1953 của Tòa Thị chính Đà Lạt có ghi chép
mang tính tiên báo về một thời kỳ phát triển văn hóa rực rỡ của đô thị
12 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
này trong tương lai gần: “Đà Lạt phải trở thành trung tâm đại học của Việt
Nam. Đà Lạt là một nơi vừa để nghỉ ngơi vừa để làm việc. Đà Lạt không
ngừng phát triển và trong tương lai, trong một nước Việt Nam độc lập, Đà
Lạt tràn đầy triển vọng”.
[Bưu thiếp Đà Lạt năm 1951. Ảnh tư liệu]
Khoảng đầu thập niên 1950 thì mỗi năm có khoảng 1.500 đến 2.000
người Kinh ở các vùng đồng bằng lên cao nguyên. Một số trường học:
trường Huấn luyện Sĩ quan, trường Hành chánh Quốc gia và vài cơ sở
giáo dục tiểu học của người Việt dần được thành lập vào giai đoạn này,
trên thủ phủ của Hoàng triều cương thổ.
Về an ninh, Đà Lạt trong năm 1953 vẫn được một số tư liệu Văn
khố Quốc gia về Lãnh thổ Hải ngoại thuộc Pháp xem như là một thành
phố “sống trong sự yên bình tuyệt đối”. Dù thời bấy giờ, đã âm ỉ xảy ra
những cuộc thanh toán kiểu du kích của lực lượng Việt Minh nằm vùng
nhằm vào mật thám và cộng đồng quan chức, trưởng giả Pháp còn sót
lại, những phản ứng lần khần của binh lính Bảo Đại, những tranh giành
quyền lực khi chính quyền Quốc gia của Bảo Đại bắt đầu có chính sách
gần Mỹ, xa dần ảnh hưởng của Pháp. Nội tình chính trị không còn yên
bình như vẻ ngoài của phong cảnh.
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 13
Hoàng triều cương thổ hết vai trò lịch sử, tiến trình “Việt Nam hóa”
ở Đà Lạt diễn ra nhanh chóng và ồn ào hơn, với đợt di dân năm 1954,
sau hiệp định Genève. Quy hoạch đô thị giai đoạn này, nói như Eric T.
Jennings, “đồ án 1942 của Lagisquet3 thậm chí đã được phủ bụi và đem ra
sử dụng dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm”4. Dòng dân cư một triệu
người từ bên kia vĩ tuyến 17 – đặc biệt là người dân theo đạo Công giáo
dưới sự bảo trợ của chính quyền Ngô Đình Diệm – thiên di đến các đô
thị miền Nam. Nhiều gia đình, trí thức tư sản tinh hoa ở Hà Nội đã chọn
Đà Lạt làm chốn nhập cư. Quá trình thúc đẩy sự đồng hóa dân Thượng
bản địa diễn ra ở đô thị này nhanh chóng hơn sau những nghi lễ hồ hởi
bề mặt do chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức đón tiếp người Kinh
mới đến.
Phong trào khai hoang lập ấp ở các vùng ven Đà Lạt trong khoảng từ
1953-1956. Kết quả là gần 14.000 di dân đã định cư tại Đà Lạt vào năm 1956,
và, theo đà đó, đến 1968, tức 5 năm sau khi chính quyền ông Ngô Đình Diệm
sụp đổ, thì Đà Lạt căng mình đón 16.000 người Việt nhập cư mới.
[Thủy tạ Đà Lạt, 1955. Ảnh: Đặng Văn Thông]
14 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Đặc biệt, chính sách lập ấp chiến lược của chính quyền Ngô Đình
Diệm năm 1962 cũng đã khuyến khích người Thượng từ các vùng núi
dồn về trung tâm. Không gian đô thị trở nên sầm uất hẳn so với thời
Hoàng triều cương thổ. Việc trở thành cư dân Đà Lạt có vẻ dễ dàng hơn
nhiều so với trước đó. Nhưng điều may mắn, đó là bởi đô thị này phát
triển theo hướng đẩy mạnh chức năng giáo dục, theo đó là những dịch vụ
vệ tinh phục vụ cho đời sống ăn học, tinh thần, cho nên, bầu khí quyển
văn hóa chi phối lối sống cư dân nói chung trong lành, nề nếp. Chức năng
giáo dục cũng tạo ra một màng lọc tự nhiên đối với thành phần dân cư,
hình thành một không khí trí thức thuần nhất, hiếm đô thị nào có được.
Đà Lạt có nhà in Trí Hương5, Lâm Viên6, có tờ tuần báo riêng mang
măng-sét Đà Lạt từ giữa thập niên 1950, in ronéo. Trước đó, cuối thập
niên 1940, cũng tại Đà Lạt, nhà thơ Nguyễn Vỹ chủ trương tờ Dân Chủ,
đưa ra quan điểm đối lập trực tiếp với chính quyền quân chủ Bảo Đại, ít
lâu sau bị đình bản. Tiếp đó, ông mở báo Dân Ta, và cũng nhận cái kết
không có hậu. Đáng kể, từ tháng Giêng năm 1952, với chủ trương báo chí
là “tia sáng của văn hóa phải rọi khắp trong quốc dân”, Nguyễn Vỹ tiếp
tục trong vai trò chủ bút, cho ấn hành tờ tạp chí Phổ Thông ra hàng tháng,
công khai khẩu hiệu “Truyền bá trí thức – Nâng cao văn hóa”. Những số
đầu của báo Phổ Thông được thực hiện tại Đà Lạt (tòa soạn đặt tại số 2
đường Khải Định) sau này thì dời về Sài Gòn, trở thành một trong những
tờ nguyệt san uy tín hàng đầu trong làng báo chí miền Nam.
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 15
Đà Lạt có đài phát thanh với những chương trình âm nhạc, trao
đổi nghệ thuật, nơi nâng cánh cho những tài năng trẻ. Sự xuất hiện của
nhóm nhạc Ngàn thông trên sóng radio, nơi xuất hiện một Từ Công
Phụng, với chương trình Mây cao nguyên với sự tỏa sáng của Lê Uyên
và Phương. Trước đó, cũng từ sóng radio, Sỹ Phú, Tôn Thất Niệm cũng
được khán giả khắp nơi biết đến. Nhiều danh ca: Khánh Ly, Tuấn Ngọc,
Thanh Tuyền,… các nhạc sĩ: Hoàng Nguyên, Nguyễn Ánh 9 cũng chọn
Đà Lạt như điểm xuất phát trong sự nghiệp âm nhạc của mình.
Đà Lạt cũng có những quán cà phê tụ điểm trí thức, những thư viện,
rạp chiếu bóng và phòng trà văn minh, lịch lãm, mang sắc thái riêng của
văn hóa đô thị theo mô thức phương Tây mà giới tinh hoa và du khách
đặt chân đến cảm thấy gắn bó, hài lòng, xem như “thiên đường”.
Đà Lạt đã chính thức trở thành một đặc khu văn hóa, giáo dục với sự
ra đời của nhiều trường học từ tiểu học công, tư thục đến viện đại học.
Từ yếu tố nền tảng là thành phần dân cư địa phương tương đối
đồng nhất (Công giáo chiếm phần lớn; các phong trào Phật giáo theo
xu hướng truyền thống, ôn hòa; dân cư làm nông theo mô hình quy
hoạch thôn - ấp truyền thống có hương tục và tầng lớp hương thân;
thành phần công chức, giáo viên vẫn duy trì lề lối làm việc kiểu công
sở Tây; những người buôn bán trong môi trường thương mại tương đối
nhỏ hẹp, ít áp lực cạnh tranh hay phải chụp giật, giẫm đạp lên tha nhân
để tồn tại…) cộng với chức năng một đặc khu về giáo dục, với sự ra đời
của Viện Đại học Đà Lạt, Giáo Hoàng Học viện thánh Piô X, trường Võ
bị, Chiến tranh Chính trị và một hệ thống trường tiểu học, trung học
có từ thời Pháp thuộc đến những trường dòng với chế độ giáo dục vừa
nghiêm ngặt vừa khai phóng… đã tạo ra một môi trường xã hội đô thị
yên ổn, ít cảnh bon chen; hướng đến những giá trị tinh thần; coi trọng
người học thức và cổ súy cho những giá trị sáng tạo, tiến bộ.
“Những di sản thuộc địa” hữu hình trong thời nọ thời kia có thể bị
tìm cách tẩy xóa bằng cách này hay cách khác, nhưng sức sống văn hóa
mạnh mẽ từ “mã gene” đô thị đó, trong lối ứng xử văn hóa thì vẫn âm
16 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
thầm được tiếp nối, cộng hưởng với khả năng hội tụ thành phần trí thức
khắp nơi đến tiêu dao, tìm nguồn cảm hứng sáng tạo, giảng dạy, nghiên
cứu đã tạo ra một “Đà Lạt tính”, một căn tính văn hóa đô thị không lẫn
vào đâu.
Tôi đã nghĩ rằng, những người Pháp, Âu đầu tiên đến với phương
Đông, trước hết bởi sự hấp dẫn bí ẩn thuộc về một xứ khác, kẻ khác, một
thế giới ở ngoài mình. Một đô thị trên cao nguyên xứ Đông Dương được
hình thành khác chi sự hiện thực hóa giấc mơ viễn du tìm kiếm hương
xa (exotisme) của những nhà kiến tạo đô thị Pháp thực dân nhưng lại
duy văn hóa. Hương xa, ở chiều kích khác, cũng là một mảnh cấu thành
trong tâm thức “dĩ Âu vi trung” thời hậu thuộc địa theo chiều ngược
lại (tiếp nhận, hồi đáp). Điều này lý giải cho việc chính những trí thức
bản xứ ngưỡng vọng, tự nguyện mô phỏng một mô hình văn hóa nối
tiếp giấc mơ dang dở mà những nhà sáng lập danh nghĩa thực dân vừa
mới rời đi sau những đợt sóng vận động của lịch sử. Trí thức, nghệ sĩ
miền Nam tìm đến, cống hiến sáng tạo hay chí ít trải nghiệm Đà Lạt, bởi
trong sâu thẳm hình dung, họ tìm thấy ở đó hình bóng một “Paris”, phổ
quát hơn, là một bối cảnh, hệ giá trị phương Tây để theo đuổi.
Như vậy, Đà Lạt là một biểu tượng đô thị hương xa xét từ cả hai
chiều kích. Với lập luận trên, ta sẽ giải thích dễ dàng hơn những hiện
tượng văn hóa diễn ra như việc một thời, các nghệ sĩ sống ở miền
Nam, có những người từng du học tại Pháp (trong nhóm Trịnh Cung,
Đinh Cường, Đặng Tiến, Trịnh Công Sơn, Vũ Khắc Khoan, Hoàng
Anh Tuấn…) ưa thích tìm đến Đà Lạt sống và sáng tạo. Nguyễn Thị
Hoàng đến Đà Lạt dạy học một thời gian để viết ra những tác phẩm
về tình yêu thuở học trò gây tiếng vang. Ta lại thấy Phạm Công Thiện,
Nguyễn Bạt Tụy chọn làm nơi náu mình để nghiên cứu, chiêm nghiệm,
theo đuổi học thuật trong bối cảnh chiến tranh li loạn. Ở họ, có sự mê
say vụng dại hồ hởi của tuổi trẻ, sự cực đoan đáng yêu của người hứng
tâm với tri thức, nhưng cũng có những thứ được tạo nên từ sự trưởng
thành rất đặc biệt trong một môi trường nhân văn lý tưởng; đóng góp
cho văn hóa đất nước nói chung.
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 17
[Khu Hòa Bình, Đà Lạt 1952. Ảnh: Bill Robie]
Nếu Paris từng là nơi lang bạt của những văn nhân nghệ sĩ Mỹ
thuộc thế hệ “Lost Generation” (Thế hệ bỏ đi) như F. Scott Fitzgerald, E.
Hemingway… vào những thập niên 1920 - 1930, thì với sự du hành văn
hóa, dường như đã có một “Lost Generation”như thế ở những nghệ sĩ
Việt Nam tuổi đôi mươi của Sài Gòn tìm đến Đà Lạt từ khoảng giữa thập
niên 1950 đến cuối thập niên 1960 với những đầu óc chất đầy “chọn lựa”,
“vấn đề”, “hiện sinh”, “dấn thân”, “tuổi trẻ băn khoăn”... Một kẻ hát rong
trong gánh Đức Huy - Charlot Miều sớm nhận ra và gọi rất đúng cái tâm
thế “vọng ngoại”, đúng hơn là “vọng Âu” đó trong một lần dừng chân ở
Đà Lạt vào năm 1944: “Đã được đi nhiều nơi trên đất nước nhưng tôi
không thấy phong cảnh ở đâu đẹp như ở đây. Mang tinh thần vọng ngoại
như hầu hết thanh niên thời đó, tôi sung sướng được tới một thành phố
giống như ở Âu châu. Tưởng mình đang ở Thụy Sỹ hay Đức quốc”. Kẻ hát
rong đó là nhạc sĩ đa tình Phạm Duy, cũng là người có bản “tự thú” rất
chân thành rằng, về sau ông đã trở lại Đà Lạt hơn chục lần, “lần nào cũng
nằm tròn trong vòng tay ân ái của một người tình”7.
18 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Trong một số bức ảnh tư liệu của Đinh Cường, Trịnh Công Sơn chụp
tại Đà Lạt vào khoảng 1964 - 1965, có thể thấy những chàng trai tuổi
đôi mươi thuộc “nhóm bạn nghệ sĩ đường Hoa Hồng” miệng ngậm pipe,
mình khoác áo manteau, nét mặt thường trực nỗi suy tư xa vắng. Rất dễ
dàng nhận ra trên con đường “thơ mộng và giang hồ” của họ luôn có cái
bóng của ông Jean-Paul Sartre. Nói khác đi, Sartre phủ trùm lên tư tưởng
lẫn hình thức, phong thái cuộc sống của họ.
Với những người đến Đà Lạt để học hành, nghiên cứu thì có dịp trải
nghiệm một Đà Lạt tuy nhỏ, nhưng thấp thoáng bóng dáng thành phố
quốc tế trong giáo dục. Những học trình, bằng cấp ở những trường Tây
như Lycée Yersin, Collège d'Adran, Dalat School... đều được thế giới công
nhận. Những sinh viên tốt nghiệp phân ngành Sư phạm tại Viện Đại học
Đà Lạt khi ra trường có thể sang Pháp, Mỹ xin việc, theo đuổi nghề giáo
dễ dàng. Những nhà nghiên cứu tại Giáo Hoàng Học viện Thánh Piô X
có thể tiếp tục làm việc, giảng dạy tại những Viện nghiên cứu danh giá ở
châu Âu… Đà Lạt từng là nơi hiện thực hóa giấc mơ theo đuổi học thuật
của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng thế giới mà tôi sẽ có dịp nhắc đến
trong quyển sách này.
Ngắn ngủi, chóng vánh nhưng để lại những sắc thái sâu đậm – đó là
những gì có thể nói về Đà Lạt – thành phố của tri thức, văn hóa và của
những cuộc du hành, không gian ẩn dật thú vị cho những nhân vật được
đề cập trong cuốn sách này. Trong đó, có hai nhân vật chính khách: Ngô
Đình Nhu, Nguyễn Tường Tam. Tuy khuynh hướng chính trị khác nhau,
nhưng hai ông ít nhất một lần, từng nuôi ý định sẽ gắn bó với thành phố
yên bình này suốt phần đời còn lại.
Vậy thì tâm tính Đà Lạt là gì? Phải chăng đó còn là một tinh thần thư
nhàn, phiêu du được diễn giải qua hình ảnh “tuấn mã cao nguyên” – La
Dalat trong cuộc trở lại của nhà doanh nghiệp Pháp vào đầu thập niên
1970 hay là một đời sống phong lưu, một không gian sinh hoạt trí thức
và một điều kiện văn hóa tinh lọc hướng đến hàn lâm hoặc là những ảo
tưởng thoát ly mang sắc thái viễn mơ?
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 19
Trong giấc mộng đẹp luôn thấp thoáng một nguy cơ của sự vỡ mộng.
Nói theo lý thuyết về du hành và hồi đáp văn hóa của Edward Wadie
Said8, thì Đà Lạt có thể xem là một case study (trường hợp tiêu biểu để
nghiên cứu) khá thú vị.
Mong mỗi người đọc sau khi tiếp cận với những câu chuyện trong
quyển sách này cũng sẽ bổ sung thêm những “gạch đầu dòng” về tâm tính
Đà Lạt cùng với cảm nhận riêng. Dù rằng, bản sắc, căn tính hay kể cả tâm
tính là những thứ mà ngôn từ của lý tính thường bất khả hàm chứa trọn vẹn.
Làm sao phân chất một mùi hương?9
Với cá nhân người viết, việc du hành về một đô thị thuở vàng son
ký ức để tìm cách tái hiện những câu chuyện và phần nào, nỗ lực giải
mã chúng có thể xem là một cuộc phiêu lưu đầy kỳ thú, dĩ nhiên, không
ít nhọc nhằn. Điều đó có ý nghĩa như cách thế trả món nợ hiểu biết với
thành phố mà mình từng gắn bó suốt năm năm thời đẹp nhất của tuổi
trẻ. Nhưng có lúc, đó lại có thể là một việc làm tự thấy quá sức. Hãy còn
nhiều con người, sự việc còn chìm trong mù sương lịch sử, cần thời gian
và sự hành trì sâu hơn về dĩ vãng.
Vì thế, mục tiêu của cuốn sách có tính du khảo này không kỳ vọng
đạt đến tính khoa học nghiêm trang, nhưng phần nào minh định vài câu
chuyện, đóng góp vài phát hiện nhỏ, kết nối một số tư liệu khảo cứu –
kinh nghiệm thực địa với mục đích gần, đó là gợi mở một lối tiếp cận lịch
sử đô thị nhân văn. Hy vọng điều này sẽ đem lại chút hữu ích cho những
nhà nghiên cứu Đà Lạt đến sau. Giả như mục đích đó không mảy may đạt
được, thì chí ít, cũng mong độc giả xem đây là một buổi cà phê tán gẫu
không quá nhạt nhẽo với một người yêu Đà Lạt bằng một tình yêu quá
lớn trong một năng lực hữu hạn.
Trong chuỗi truyện mà Marco Polo – nhà du hành vĩ đại đến từ
phương Tây – với Hốt Tất Liệt, vị đại hãn thứ năm của Mông Cổ về các
thành phố mà ông đã từng đi qua, thì tôi đặc biệt nhớ mẩu chuyện về
thành phố có tên Zirma. Đó là một nơi chốn mà mỗi cảnh tượng diễn ra
đều bị “chồng lặp”, chính vì thế, chúng nhắc nhớ, neo đọng lại trong tâm
20 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
tưởng con người ta lâu dài. Phải chăng sự sống ký ức về không gian văn
hóa của chúng ta về một nơi chốn, hay cụ thể hơn, thời vang bóng của
một đô thị thì cũng mang một cơ chế gần như thế? Những kỷ niệm, ấn
tượng, sự kiện, con người, khí hậu… sẽ có lý để được “chồng lặp” lại mãi
trong hồi ức, đôi khi chống lại cả một thực tại cuồng khấu, bạo tàn và phũ
phàng đang diễn ra hằng ngày trên da thịt thành phố. Như thi nhân xao
xuyến tìm má hồng của cố nhân thuở hoa đào năm cũ: Trước sau nào thấy
bóng người/ hoa đào năm ngoái còn cười gió đông10. Italo Calvino, nhà văn
dệt mộng người Ý, kẻ chuyên nhấn chìm thực tại vào trong cõi vô hình
bằng phép thuật ngôn ngữ, đã diễn dịch cuộc trò chuyện của nhà du hành
giàu có ký ức, tưởng tượng và trải đời với một vị đại hãn – biểu tượng
vương quyền chóng qua (nhưng ít ra, còn biết đối thoại!) – về Zirma11,
rằng: “Ký ức chồng lắp dư dôi, những ký hiệu được lặp lại để mà thành
phố khởi sự tồn tại”.
Đà Lạt trong ký ức những người từng gắn bó ngày hôm qua, phải
chăng, cũng thế? Vậy thì chiều kích thứ ba của cái gọi là tinh thần hương
xa mà cuốn sách này mong muốn gợi mở là nằm ở nỗi hoài cảm về một
“thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha”, theo lối nói của Cung Tiến.
Một mối u hoài đi cùng cảm giác mất mát khó giãi bày, có lẽ cũng là cảm
trạng chung của những người từng gắn bó với Đà Lạt. Xin xem đây như
là một sự chia sẻ.
Hành trình đi vào lịch sử nhân văn của một đô thị nhiều thăng trầm
như Đà Lạt chắc chắn sẽ không dừng lại ở đây. Hy vọng quyển sách đơn
sơ này sẽ là những nét phác thảo gợi được một chút xúc cảm và hứng thú
để chặng tiếp theo của cuộc du hành về quá khứ, tác giả của nó sẽ bớt đi
phần nào cảm giác đơn độc.
Xin mời độc giả đồng hành.
Tác giả
Saigon, đầu mùa mưa, 2016
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 21
DU HÀNH
THỜI GIAN
24 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
RUE DES ROSES,
THÁNG NGÀY XA KHUẤT
Đà Lạt quá bé nhỏ và khiêm cung. Nên nếu phải kể đến một con
đường ôm mang trong nó đầy đủ nhất những cung bậc thăng trầm của
lịch sử, là việc khó. Nhưng hãy nhìn sâu vào cốt cách văn hóa của đô thị
này, như cách đi vào bên trong những cánh sóng trên một đóa hoa hồng,
ta sẽ gặp ở đó câu chuyện thời gian, trong từng rực rỡ có màu tàn phai…
Thuở ban đầu
Đà Lạt được nhà thám hiểm A. Yersin phát hiện từ 1893. Thập niên
đầu của thế kỷ XX, nơi đây đã là trạm nghỉ dưỡng của người Pháp. Qua
lần quy hoạch thứ nhất (năm 1923, của kiến trúc sư Ernest Hébrard), sắc
vóc đô thị dần hình thành. Nhưng mãi đến bản quy hoạch chỉnh trang
năm 1933 của Louis Georges Pineau thì một mô hình đô thị “thức thời”
và “chức năng” mới thực sự được biểu hiện rõ ràng hơn.
Eric T. Jennings, sử gia người Canada trong vai một hướng dẫn viên
du lịch dẫn ta về Đà Lạt những năm 1930:
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 25
“Sau khi đặt chân xuống sân nhà ga kiểu art deco, một du khách đến Đà Lạt
vào cuối những năm 1930 sẽ đi ngang qua ngôi trường gạch đỏ Lycée Yersin lấy
cảm hứng từ Thụy Điển đang trong giai đoạn hoàn thành, sau đó đi men theo bờ hồ
trung tâm trung tâm dọc đại lộ Albert Sarraut. Họ liếc thấy nhà thủy tạ Grenouillère
bên tay trái với quầy rượu và các cầu ván nhảy bơi lặn, và thưởng lãm dinh thự của
toàn quyền nằm trên đỉnh đồi toàn cây thông bao phủ về bên tay trái. Giống như
đến bây giờ vẫn thế, hương thơm của những loài cây thường xanh thoảng trong
không khí, khơi gợi những ký ức mãnh liệt cho những kiều dân thuộc địa. Từ xa,
du khách này sẽ dõi theo những núi đồi nhấp nhô dọc bình nguyên, trải dài ngút
tầm mắt. Một vài chóp nhọn nhô lên trên những ngôi biệt thự trên cao hoặc các
tu viện. Bên kia hồ về phía tay phải, du khách sẽ ra sân gôn của hoàng đế An Nam.
Kế đó là ba khung cảnh hiện ra, phô trương một sự tương phản hoàn toàn: thẳng
phía trước là khu hành chính, trong đó người ta có thể nhận ra lực lượng hiến binh,
nhà thờ bằng gạch, những khách sạn trắng tinh và các phòng thuế vụ. Xa hơn phía
trước là một trong những khu vực chính kề cận nhau của người Âu và những ngôi
biệt thự ngẫu hứng, cũng nằm trên một triền dốc, dọc theo những tên đường gợi
nhiều liên tưởng như Rue des Roses (đường Hoa Hồng) và Rue des Glaïeuls (đường
Hoa Lay-ơn)”12.
[Con em một gia đình thượng lưu người Việt sống trong ngôi biệt thự trên đường
Hoa Hồng vào thập niên 1950. Ảnh: Tư liệu gia đình bà Nguyễn Thị Phong]
26 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Năm 1933, đường bộ Đà Lạt - Sài Gòn thông xe. Đường sắt Đà Lạt Tháp Chàm thông tuyến năm 1932. Nhà ga Đà Lạt hoàn thành năm 1938.
Nhiều cơ sở chính của thành phố được mở mang trong thời gian này.
“Sự phát triển của Đà Lạt hình như là hậu quả của sự cải tiến các phương tiện
giao thông và sự dồi dào của vốn đầu tư” (…) “Nam Kỳ giàu có tiếp sức cho đà phát
triển của Đà Lạt và cung cấp vốn sử dụng trong việc hình thành những khu phố đẹp.
Đà Lạt trở thành một thành phố giáo dục quan trọng. Trường trung học được
quyết định xây dựng năm 1926 và kéo dài đến hết năm 1941. Trường Đức Bà Lang
Bian - Notre Dame du Langbian (hay còn gọi là Couvent des Oiseaux, nay là trường
Dân tộc nội trú Lâm Đồng) được thi công từ năm 1934 đến năm 1936 và Thánh Tâm
(Sacré Coeur) được xây năm 1940.
Đồng thời, lục quân và hải quân cũng thiết lập những trại nghỉ hè. Doanh trại
Courbet được quy hoạch năm 1930. Một doanh trại quân đội rộng 24 hec-ta sẽ mọc
lên ở phía đông thành phố vào năm 1937. Về hướng Bắc, Trường Thiếu sinh quân
(Ecole des Enfants de Troupe Eurasien, nằm ở khu đất ngày nay là Đại học Đà Lạt)
chiếm 38 hec-ta từ năm 1939 dành cho trẻ em lai.
Các khu phố đường Hoa Lay-ơn, đường Hoa Hồng, cư xá Saint Benoît được xây
dựng. Về phía Tây Bắc và phía Nam của thành phố, người Việt Nam thành lập các khu
phố. Hồ được xây dựng xong năm 1935”13
Cuốn Địa chí Đà Lạt 1953 cũng ghi chú thêm, vào thời điểm Rue
des Roses được xây dựng (khoảng cuối thập niên 1930), Đà Lạt có 13.000
người, trong đó có khoảng 10.000 người Việt Nam, nhưng hai năm sau,
dân số đã vượt lên 20.000 người.
Đây là thời kỳ đồ án quy hoạch năm 1933 của kiến trúc sư Louis
Georges Pineau được hiện thực hóa với mô hình một đô thị chức năng
– “thành phố thư nhàn”, cấu trúc hài hòa với thiên nhiên, có hình rẻ quạt
hướng về phía núi Lang Bian. Tư duy quy hoạch 1933 của Pineau về sau
cũng được kiến trúc sư H. Mondet kế thừa trong đồ án về “Chương trình
chỉnh trang và phát triển Đà Lạt” (1940) và được kiến trúc sư Jacques
Lagisquet nghiên cứu trong “Chương trình chỉnh trang và phát triển Đà
Lạt” (1943).
Rue des Roses được sinh ra trong điều kiện đó. Như thế, ngay từ ban
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 27
đầu, nó đã là một con đường kiểu mẫu về sự hài hòa kiến trúc với khung
cảnh, địa thế với tổng thể địa lý thành phố.
Đường Hoa Hồng
Những biệt thự kiến trúc châu Âu hoa mỹ trên con đường men theo
sườn đồi, ẩn hiện dưới những tán thông, tùng cổ thụ một thời là nơi ở
của đa số quan chức, công chức cấp cao người Pháp. Sau 1950, chúng bắt
đầu dần dần thuộc sở hữu của giới trung lưu, thượng lưu và quan chức,
công chức khá giả người Việt. Cao điểm nhất là vào đầu những năm 1960,
Rue des Roses dưới tên gọi được Việt hóa – đường Hoa Hồng – chính là
nơi chốn trọ của một nhóm nghệ sĩ trí thức chọn Đà Lạt làm đất sáng
tạo. Họa sĩ Trịnh Cung đã từng thuê một gian trong căn biệt thự số 11
đường Hoa Hồng trong hai năm, 1962-1963. Đây là căn biệt thự của bà
Nghiên, vợ một quan chức cấp cao trong chính quyền Bảo Đại. Ông bà
Nghiên lấy nhau ở Paris, sau đó chuyển về Đà Lạt sinh sống trong thời
Hoàng triều cương thổ. Cuộc hôn nhân đổ vỡ, khi ra tòa ly dị, người vợ
được tòa phán quyết chia cho căn biệt thự này. Là một trí thức Tây học,
bà Nghiên có lối sống như những người Pháp láng giềng, biết thụ hưởng
những giá trị tinh thần cao nhã, mê tranh và khá sành nhạc cổ điển.
Sau Trịnh Cung, họa sĩ Đinh Cường cũng đến và lưu trú tại studio
trong ngôi biệt thự này. Trong một bài hồi ức, họa sĩ Trịnh Cung kể:
“Cuối năm 1962, tôi bỏ dạy vẽ, khăn gói lên Ðà Lạt theo đề nghị bảo trợ cho
tôi một cuộc sống chỉ để vẽ, mọi thứ đều được anh bạn yêu tranh tôi, tên là Thọ, đài
thọ. Anh Thọ có đồn điền ở Lâm Ðồng và có vài pharmacy ở Sài Gòn, dân du học
ở Pháp về. Hồi đó dân chơi Sài Gòn đặt nick cho hai công tử, Lân Simca Ðỏ (Hoàng
Kim Lân) và Thọ Florid Trắng, đó là chỉ hai chiếc xe mui trần nổi bật giữa Sài Gòn hoa
lệ thời 60 của hai chàng. Anh Thọ lớn hơn tôi khoảng 5 tuổi, thuê cho tôi một căn
hộ trong biệt thự nằm trên đường Hoa Hồng nay là đường Huỳnh Thúc Kháng, Ðà
Lạt. Nơi mà Ðinh Cường thường đề cập khi anh viết về Ðà Lạt một thời. Việc cơm
nước, anh Thọ giao cho bà chủ biệt thự này lo toan cho tôi mỗi ngày. Rong chơi và
vẽ là nhiệm vụ mà tôi phải hoàn thành, anh Thọ muốn thế. Tôi thật quá may mắn! Và
cũng nhờ chỗ ở này mà tôi đã đưa Trịnh Công Sơn và Ðinh Cường về ở chung mỗi
khi hai bạn giang hồ lên Ðà Lạt và sau hai năm ở đó với bao kỷ niệm đẹp, tôi rời về
Sài Gòn theo lệnh động viên vào quân trường Thủ Ðức. Từ đó Ðinh Cường tiếp tục
28 ‒ NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
thuê căn phòng ở số 1014 đường Hoa Hồng này, cùng ở với Ðỗ Long Vân bỏ dạy Văn
khoa Huế, lên làm thư viện tại Viện Ðại học Ðà Lạt từ năm 1963 đến 1965, ăn cơm
tháng ở nhà phía sau của vợ chồng Hoàng Anh Tuấn. Trịnh Công Sơn hay từ Bảo
Lộc về ở lại nơi này. Cũng là thời mà Trung úy Nguyễn Xuân Thiệp, Trưởng Đài phát
thanh Quân đội Ðà Lạt, hay ghé mỗi đêm khi ở đài ra.”15
Trên báo Trẻ ở Dallas, Nguyễn Xuân Thiệp có đoạn hồi ký nhắc đến
sinh hoạt văn nghệ năm 1964 của nhóm bạn nghệ sĩ sống trọ ở đường
Hoa Hồng:
[Họa sĩ Đinh Cường trước ngôi biệt thự số 11 đường Hoa Hồng (ảnh chụp khoảng 1964).
Ảnh: Tư liệu Đinh Trường Chinh]
“… Nguyễn (tức, Nguyễn Xuân Thiệp – NV) đã gặp các bạn Đinh Cường và Trịnh
Công Sơn rồi Khánh Ly và bao nhiêu người nữa. Giáng sinh, kéo nhau đi uống bia,
rồi về đàn hát ở studio Đinh Cuờng trên đường Roses. Có đêm uống rượu ở kiosque
Dì Ba, hay vào Night Club dưới chân Đài phát thanh nghe Khánh Ly hát.”
ĐÀ LẠT, MỘT THỜI HƯƠNG XA ‒ 29
Đường Hoa Hồng xuất hiện nhiều trong thơ và hồi ký Đinh Cường. Với chàng
trai duy mỹ của một thời, đây là con đường mang lại không gian tĩnh lặng, lý tưởng
cho sáng tạo. Ông hồi tưởng: “Thời tuổi trẻ đã qua, sáng ở đầu sông nhớ núi, đêm
nằm trong núi nhớ sông, những chuyến đi giang hồ chỉ để nhìn thấy cái diệu kỳ của
thiên nhiên, nỗi hoang vu của trời đất… và luôn nuôi ngọn lửa sáng tạo. Thời ngồi
vẽ suốt đêm, một căn phòng có ngọn đèn không tắt trong một biệt thự trên đường
Roses – Đà Lạt”
Hay ở một tùy bút khác, họa sĩ Đinh Cường viết:
“Căn phòng thuê ở đường Roses, suốt mùa là những cánh hoa mong manh ấy,
đủ màu, chen dưới những đốm lá xanh tròn. Căn phòng có cánh cửa không khóa,
có ngọn đèn cháy cả đêm. Cả đêm, tôi say sưa vẽ, và Đỗ Long Vân say sưa dí mắt
cận vào sách. Từng đống vỏ Bastos xanh. Từng khuôn mặt bè bạn: Thiệp, Sơn, Mai,
Christan, Tường, Sâm,…”
Nhà 11 đường Hoa Hồng còn là nơi cư ngụ của vợ chồng nhà thơ,
đạo diễn Hoàng Anh Tuấn16 – Ngô Thy Liên. Ông Hoàng Anh Tuấn là
nhà điện ảnh gốc Hà Nội, du học tại Pháp, chọn Đà Lạt làm nơi phát tr...
 









Các ý kiến mới nhất