Tuần 10. Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: phạm tân hai
Ngày gửi: 20h:06' 18-10-2023
Dung lượng: 52.6 KB
Số lượt tải: 82
Nguồn:
Người gửi: phạm tân hai
Ngày gửi: 20h:06' 18-10-2023
Dung lượng: 52.6 KB
Số lượt tải: 82
Số lượt thích:
0 người
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
ÔN TẬP “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự đồng hiện những gì gần gũi
nhất, thân thương nhất của mỗi con người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và
tương lai; trong thời gian và không gian, trong lịch sử và truyền thống văn hoá… Ở
Nguyễn Khoa Điềm lòng yêu nước là yêu nhân dân, yêu những con người đã viết
nên lịch sử, đã sản sinh ra văn hóa, đã phát kiến địa lý mà mở rộng biên cương bảo
vệ lãnh thổ. Từ đó nhà thơ đã đi đến đúc kết thành một chân lý vững vàng: “Đất
nước của nhân dân”, tư tưởng này đã chi phối hầu hết các sáng tác của Nguyễn
Khoa Điềm. Vì vậy tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ nói lên những suy
nghĩ cảm nhận của tuổi trẻ trong chiến tranh, mà còn là lời kêu gọi thiết tha: hãy
yêu đất nước – vì “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình”. (Vũ Quần
Phương)
LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN
Đề bài: Phân tích/ cảm nhận đoạn trích “Đất Nước” trong trường ca “Mặt đường
khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm?
1. DÀN Ý
a. Mở bài
- Giới thiều về tác giả: Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biêu
nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ
ông giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng, thể hiện tâm tư, ý thức của một công dân
yêu nước đối với vai trò, trách nhiệm của thệ hệ trẻ Việt Nam trong cuộc chiến đấu
chung của cả dân tộc, thể hiện những nhận thức sâu sắc về nhân dân, đất nước qua
những trải nghiệm của chính mình.
- Giới thiệu về tác phẩm: Đất nước là bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ
các thành thị bị tạm chiến miền Nam, mở rộng ra là sự tự ý thức của tuổi trẻ Việt
Nam, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thê hệ mình trong
cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc.
b. Thân bài
1
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
LĐ 1. Khái quát chung
- Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ: “Đất Nước” thuộc phần đầu của chương V trong
trường ca Mặt đường khát vọng – tác phẩm được hoàn thành ở chiến khu Trị –
Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ vùng đô thị tạm chiếm miền Nam
về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống
đế quốc Mỹ xâm lược.
- Chủ đề
+ Bằng sự vận dụng đầy sáng tạo hình thức thơ trữ tình- chính trị, đoạn trích Đất
Nước đã quy tụ mọi cảm nhận, mọi cái nhìn và vốn liếng sách vở cũng như những
trải nghiệm cá nhân của người nghệ sĩ để làm nên một tuyên ngôn về tư tưởng, về
nhận thức của cả một thế hệ nghệ sĩ, ấy là tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”
Nhận xét về cách sử dụng chất liệu văn hoá dân gian của tác giả (ca dao, tục ngữ,
truyền thuyết, phong tục…), từ đó tìm hiểu những đóng góp riêng của nhà thơ về
nghệ thuật biểu đạt.
+ Chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng rất đa dạng và sáng tạo. Có phong tục,
lối sống, tập quán sinh hoạt, (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột. hạt gạo
xay, giã, dần sàng, hòn than, con cúi…); Có ca dao, dân ca, tục ngữ, có truyền
thuyết Hùng Vương, các truyện cổ tích từ xa xưa. Cách vận dụng của tác giả là
thường là chỉ gợi ra bằng một vài chữ của câu ca dao hay một hình ảnh, một chi
tiết trong truyền thuyết. cổ tích, trừ trường hợp câu dân ca Bình - Trị - Thiên được
lấy lại nguyên vẹn “Con chim phượng hoàng … biển khơi”.
+ Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không
gian nghệ thuật riêng cho đoạn trích: vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu
tưởng tượng, vừa bay bổng, mơ mộng.
LĐ 2. Phần 1: Cảm nhận về Đất Nước
- Đất nước thật dung dị, đời thường: Đất Nước hiện lên qua câu chuyện cổ tích mẹ
kể, miếng trầu bà ăn, những dãy tre làng, “bới” tóc của mẹ, gừng cay, muối mặn,
cái kèo, cái cột, hạt gạo...
2
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
- Đất nước “đã có” từ thủa rất xa xưa và rất gần gũi thân thương đối với mỗi con
người.
- Nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện: Đoạn thơ là sự kết tinh đặc sắc giữa chất
liệu văn hoá dân gian với hình thức thơ trữ tình - chính luận.
- Về không gian địa lý:
+ Đất nước là nơi rất gần gũi với cuộc sống mỗi người ( nơi anh đến trường... nơi
em tắm).
+ Đất Nước tồn tại ngay cả trong những không gian riêng tư của tình yêu đôi lứa :
“Đất Nước là nơi ta hò hẹn. Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ
thầm”.
+ Đất Nước còn là không gian sinh tồn hết sức đời thường của nhân dân qua bao
thế hệ “Những ai đã khuất. Những ai bây giờ. Yêu nhau và sinh con đẻ cái. Gánh
vác phần người đi trước để lại…”).
- Về thời gian lịch sử: Đất Nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ
quá khứ đến hiện tại và tương lai.
+ Đó là một Đất Nước thiêng liêng, hào hùng trong quá khứ (gắn liền với huyền
thoại Lạc Long Quân và u Cơ, truyền thuyết về các vua Hùng dựng nước).
+ Đó là một Đất nước giản dị, gần gũi trong hiện tại (“Trong anh và em hôm nay.
Đều có một phần Đất Nước”)
+ Và một Đất Nước triển vọng sáng tươi trong tương lai (“Mai này con ta lớn lên.
Con sẽ mang Đất Nước đi xa. Đến những tháng ngày mơ mộng”).
- Từ cách cảm nhận và lí giải Đất Nước như thế nhà thơ suy nghĩ về trách
nhiệm của mọi người:
+ Đất nước kết tinh, hoá thân trong cuộc sống của mỗi con người, vì thế mọi người
phải có tinh thần cống hiến, có trách nhiệm đối với sự trường tồn của quê hương,
xứ sở.
+ Cần biết gắn bó biết san sẻ : sự sống của mỗi con người không chỉ là của riêng cá
nhân mà còn thuộc về Đất nước.
3
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
+ Lời nhắn nhủ với thế hệ trẻ, lời tự nhủ với chính bản thân đầy chân thành tha
thiết.
LĐ 3. Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” trong phần 2 của đoạn trích
- Về địa lý: nhà thơ đã nhìn ngắm Đất Nước mình qua các danh thắng trải dài từ
Bắc chí Nam. Tất cả các địa danh được nhắc đến đều gắn liền với một huyền thoại,
huyền tích và sự thật về nhân dân trong lịch sử. Nói cách khác, chính những huyền
thoại, huyền tích và sự thật lịch sử về nhân dân đã làm nên tên tuổi của các địa
danh ấy, biến chúng thành danh thắng, thành di tích lịch sử văn hóa được mọi
người thừa nhận và biết đến:
+ Những người vợ nhớ chồng – núi Vọng Phu;
+ Cặp vợ chồng yêu nhau – hòn Trống Mái;
+ Người học trò nghèo – núi Bút, non Nghiên;
+ Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…
- Trong con mắt của nhà thơ, mỗi danh thắng không chỉ là một nét vẽ tô điểm vào
bức “tranh họa đồ” Đất Nước mà còn ẩn chứa những nét đẹp tâm hồn của nhân dân
trong mấy nghìn năm lịch sử : sự thủy chung; tình nghĩa vợ chồng; tinh thần yêu
nước; ý thức hướng về tổ tông, nguồn cội; tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó vươn
lên; tinh thần xả thân vì cộng đồng, dân tộc… Tựu chung lại, đúng như nhà thơ đã
khái quát : “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi. Chẳng mang một dáng hình,
một ao ước, một lối sống ông cha. Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng
thấy. Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.
- Về lịch sử: khi nhìn vào “bốn nghìn năm Đất Nước”, Nguyễn Khoa Điềm nhấn
mạnh đến “lớp lớp” những con người “giản dị và bình tâm. Không ai nhớ mặt đặt
tên. Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Không ai khác mà chính họ đã gìn giữ và
truyền lại cho các thế hệ mai sau mọi giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của Đất
Nước: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, bản sắc văn hóa các vùng
miền… Cũng chính họ “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm. Có nội thù thì vùng
4
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
lên đánh bại” tạo dựng chủ quyền, đắp nền xây móng cho ngôi nhà Đất Nước để
các thế hệ mai sau kế thừa và tiếp tục dựng xây, phát triển.
- Về văn hóa: khi khẳng định “Đất Nước của Nhân dân”, tác giả đã trở về với ngọn
nguồn phong phú, đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao. Ca
dao chính là diện mạo tinh thần, là nơi lưu giữ đời sống tâm hồn tình cảm của nhân
dân qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn ra từ kho tàng thơ ca dân gian ba
nét đẹp tiêu biểu nhất của tâm hồn Việt, của bản sắc văn hóa Đất Nước: thật say
đắm trong tình yêu, quý trọng tình nghĩa và kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh cho đến
ngày toàn thắng.
LĐ 4. Đặc sắc nghệ thuật
- Thể thơ tự do.
- Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức
gợi
- Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, biến đổi linh hoạt
- Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.
c. Kết bài:
- Khái quát nội dung và nghệ thuật: Đoạn thơ đã cảm nhận, phát hiện về Đất Nước
trong cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn, mang đậm tư tưởng Nhân Dân, đã sử dụng
phong phú các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cách sáng tạo, hòa nhập
trong cách diễn đạt và tư duy hiện đại, đem đến mầu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc,
vừa mới mẻ, phù hợp với tư tưởng cốt lõi của tác phẩm, cũng là tư tưởng bao trùm
văn học 1945 – 1975: tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân.
- Nêu cảm nhận của bản thân.
2. Làm văn
Nền văn học Việt Nam giai đoạn năm 1945 - 1975 là nền văn học mang
khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, bên cạnh các đề tài “lực lượng vũ
trang- chiến tranh cách mạng” thì các đề tài xây dựng đất nước, hoặc ca ngợi đất
nước cũng được nhiều tác giả chọn đưa vào tác phẩm của mình mới những vần thơ,
5
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
lời văn chân thành tha thiết, thấm đẫm hào khí dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm là một
trong những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng
chọn cho mình đề tài đất nước, giữa những năm tháng cuộc chiến đấu của nhân dân
đang vào lúc cao trào sục sôi máu lửa. Thế nhưng Nguyễn Khoa Điềm không đặt
nặng trong tác phẩm của mình màu sắc tuyên truyền, không ồn ào, rộn rã mà ông
cho riêng cho mình một chất giọng êm dịu, thiết tha, gần gũi và thân thuộc.
Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn đất nước bằng một cách rất riêng, bằng một cảm xúc
mới lạ giữa thời chinh chiến “hoa lửa”, ông nhìn nhận Tổ quốc từ những điều giản
dị, từ những con người rất đỗi bình thường. Sử dụng thành công giọng thơ mang
tính triết luận trữ tình, đặc biệt là sự kết hợp với các chất liệu văn hóa dân gian lấy
từ vốn hiểu biết rộng lớn của nhà thơ về văn hóa ngàn đời của dân tộc. Tất cả đã
tạo nên một Đất Nước với vẻ giản dị, thân thương, Đất Nước của nhân dân, một
Đất Nước bước ra từ những câu chuyện kể, những truyền thuyết, những phong tục
tập quán của 4000 năm văn hiến tự hào.
Đoạn trích “Đấtt Nước” thuộc phần đầu chương V có tên Đất Nước của
trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Bình - Trị - Thiên năm 1971,
in lần đầu 1974. Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị bị tạm
chiến miền Nam, mở rộng ra là sự tự ý thức của tuổi trẻ Việt Nam, hướng về nhân
dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thê hệ mình trong cuộc chiến đấu chung
của cả dân tộc.
Phần một đoạn trích đã góp phần lí giải một trong những bình diện đầu
tiên của tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân, đó là quan niệm đất nước hòa
quyện, gắn bó sâu sắc trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân, đất nước của
Nhân Dân, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm đối với Đất Nước.
Những cảm nhận sâu săc về Đất Nước trong mỗi quan hệ gắn bó với cuộc
sống Nhân Dân. Đất Nước được hiểu là nơi cư trú của một cộng đồng dân tộc có
cương giới, lãnh thổ riêng, có sự gắn kết sâu sắc với nhau về văn hóa, phong tục,
tập quán, có tiếng nói, ngôn ngữ riêng, có truyền thống lịch sử văn hiến lâu đời.
6
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Tùy theo thời kì lịch sử, Đất Nước được định nghĩa theo những cách quan niệm
khác nhua, đất nước có thể thiêng liêng khi đó là nơi Nam đế cư, đất nước có thể
hiện ra trong những khái niệm trìu tượng của “Bình Ngô Đại Cáo” thế kỉ XV với
nền văn học hiện đại cũng thường tạo ra một khoảng cách sử thi thiêng liêng, tôn
kính để chiêm ngưỡng Đất Nước thông qua những hình ảnh kì vĩ, tráng lệ, mang
đậm tính biểu tượng. Đất Nước có thể huy hoàng khi Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
Đất Nước cũng có thể đẹp lung linh huyền ảo, xa vời trong so sánh “Đất nước như
vì sao - Cứ đi lên phía trước” (Thanh Hải).
Trong đoạn đầu, Nguyễn Khoa Điềm đã đưa đến một cách cảm nhận vừa
mới mẻ, vừa thấm thía xúc động về Đất Nước trong mối quan hệ với cuộc sống của
Nhân Dân, trong đó, những khái niệm trừu tượng, những tiêu chí thiêng liêng định
hình nên Đất Nước đã được nhà thơ thể hiện qua những hình ảnh cụ thể và bình dị,
quen thuộc và gợi cảm, những hình ảnh luôn thường xuất hiện trong cuộc sống
hàng ngày của Nhân Dân.
Câu thơ mở đầu đưa đến một cảm nhận ấm áp về sự hiện hữu của Đất Nước
đối với mỗi con người:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”
“Ta” là một khái niệm mơ hồ, không xác định, đó có thể là bất cứ người Việt
Nam nào, trong bất cứ thời kì nào, là chúng ta hôm nay, là con cháu sau này, là cha
ông hàng ngàn năm trước…, cứ mỗi người Việt Nam sinh ra là ngay lập tức được
bao bọc nâng niu, được nuôi dưỡng và che chở trong chiếc nôi lớn lao, ấm áp, thân
yêu, đó là Đất Nước. Đất Nước luôn có từ trước đó, như từ thời khai thiên lập địa,
đón đợi những con dân Việt. Với việc lặp lại liên tiếp các thành tố “Đất”, “Nước”
cũng như từ ghép “Đất Nước” trong cả đoạn thơ, tác giả đã đưa đến một cảm giác
rất rõ nét: Đất Nước không ở đâu xa lạ, Đất Nước luôn gắn bó thân thiết trong cuộc
sông hàng ngày của nhân dân, Đất Nước có mặt ở mọi nơi, hiện hữu trong mọi
hình hài, dù là con người với ông bà cha mẹ, với anh và em, dù là cảnh vật dông
núi biển khơi, Đất Nước có thể hữu hình với cái kèo cái cột, hạt gạo, miếng trầu
7
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
hay vô hình sau những nghĩa tình của muối mặn gừng cay, sau những nhớ nhung
của tình yêu đôi lứa khi khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất..
Trong đoạn thơ của Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước không được định nghĩa
trong các khái niệm xa xôi, trừu tượng mà hiện ra qua những chi tiết đời thường
gần gũi và bình dị của cuộc sống nhân dân, trong sự xưa cũ vô cùng của thời gian,
năm tháng. Mỗi câu thơ đều chứa đựng một ý, một tứ nào đó của ca dao, thành
ngữ, tục ngữ, một hình ảnh quen thuộc nào đó của truyền thuyết, thần thoại, cổ
tích. Những chất liệu của văn hóa dân gian qua sự chọn lọc tinh tế của nhà thơ hiện
đại đã làm hiện lên phong tục, những thói quen sinh hoạt hàng ngày như miếng
trầu bây giờ bà ăn hay hình ảnh óc mẹ thì bới sau đầu, thói quen đặt tên con một
cách mộc mạc theo những sự vật, vật dụng hàng ngày để cái kèo cái cột thành tên,
trong những ngôi nhà tranh với hạt gạo một nắng hai sương say sã giần sàng…;
truyền thống đánh giặc ngoại xâm tỏng hình ảnh cây tre làng Gióng, văn hóa ứng
xử của cha mẹ gừng cay muối mặn,… Tất cả những hình ảnh gần gũi bình dị ấy đã
đưa người đọc liên tưởng đến một phương diện nào đó của Đất Nước, đều thể hiện
sâu đậm, lâu bền nhất trong những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, lịch
sử của Đất Nước khiến cho cái vĩnh hằng của Đất Nước luôn tồn tại, luôn hiện hữu
trong cái hàng ngày của cuộc sống mỗi con người.
Qua cảm nhận có vẻ như tản mạn, tùy hứng của cuộc trò chuyện tâm tình,
qua những hình ảnh goi nhắc đến ca dao, tục ngữ, thần thoại, cổ tích… nhà thơ đã
đưa người đọc dần đến một nhận thức giản dị mà sâu săc thấm thía: Đất Nước có
một lịch sử lâu đời, Đất nước không hề xa lạ hay trìu tượng, Đất Nước là những gì
gần gũi, thân yêu vô cùng luôn hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân,
Đất Nước làm nên vóc dáng hình hài, làm nên tâm hồn cốt cách , làm nên lối sống,
lối nghĩ của mỗi con người, Đất Nước làm nên cuộc sống Nhân Dân.
Bên cạnh những cảm nhận sâu sắc về Đất Nước trong mối quan hệ gắn bó
với cuộc sống Nhân Dân, nhà thơ còn đặt Đất Nước trong cái nhìn toàn vẹn, tổng
8
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
hợp, nhiều chiều, nhiều phương diện để có thể trả lời thấu đáo câu hỏi: Đất Nước
là gì?
Trước hết, Đất Nước được đặt trong chiều dài miên viễn của thời kì lịch sử.
Sau lời khẳng định tự hào và ấm áp:
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”
Cảm giác về lịch sử lâu đời của Đất Nước được tô đậm hơn trong sự khám
phá: Đất Nước có trong cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể Ngày xửa gày
xưa là câu mở đầu quen thuộc trong truyện cổ tích - thế giới cổ tích là thế giới xa
xăm vô cùng trong tâm thức của con người, vậy mà trong thế giới ấy, Đất Nước
của chúng ta đã hiện hữu, tưởng như “Từ có vũ trụ - Đã có giang sơn” (Trương
Hán Siêu). Đất Nước như đã có tự thuở hồng hoang trong những câu chuyện ngày
xửa ngày xưa của mẹ, từ sử thi Đẻ đất đẻ nước, Sự tích trăm trứng, truyền thuyết
về An Dương Vương hay Sơn Tinh Thủy Tinh…Nhắc tới ngày xửa ngày xưa cũng
là nhắc tới những cách lí giải hồn nhiên của dân gian về sự hình thành và phát triển
Đất Nước, về quá trình dựng nước và giũ nước, qua đó, Nkđ đã thể hiện niềm tự
hào sâu sắc về truyền thồng cha ông, về bề dày lịch sử của một đất nước bốn ngàn
năm.
Những cụm từ liên tiếp lặp lại từ đầu tới cuối đoạn thơ: Đất Nước đã có
rồi… Đất Nước bắt đầu… Đất Nước lớn lên… Đất Nước có từ ngày đó… đã gợi ra
chiều dài thăm thẳm của lịch sử Đất Nước trong quá trình hình thành và phát triển.
Lời khẳng định: Đất Nước có từ ngày đó…đã tiếp tục đưa đến cảm nhận về lịch sử
lâu đời của Đất Nước. “Ngày đó” là một khái niệm thật mơ hồ về thời gian, tính
chất mơi hồ không xác định khiến sự ra đời của Đất Nước càng trở nên xa xăm.
Ngày đó cũng là ngày xửa ngày xưa, khi dân mình biết trồng trê mà đánh giặc, khi
tóc mẹ thì bới sau đầu, khi cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn…. câu
thơ đã giúp người đọc nhận ra Đất Nước bắt đầu, Đất Nước lớn lên,… Đất Nước
hình thành và phát triển chính từ những phong tục tập quán , những truyền thống
văn hóa, lịch sử lâu đời. Nếu sự nối tiếp các triều đại, các chế độ mới chỉ cho thấy
9
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
bề mặt của lịch sử Đất Nước thì chính những phong tục tập quán mới thực sự chỉ
ra chiều sâu văn hóa- lịch sử, nền tảng vững chắc của Đất Nước.
Thời gian lịch sử của Đất Nước trước hết hiện ra trong những huyền thoại
đẹp đẽ và bay bổng về buổi đầu lập nước khi:
“Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”
Đây là một huyền thoại đầy ý nghĩa đem lại niềm tự hào về lịch sử xa xăm
vô cùng của Đất Nước, niềm tự hào về dòng dõi con Rồng cháu Tiên, huyền thoại
gợi niềm thương mến, ấm áp về nghĩa tình đồng bào thiêng liêng, ruột thịt. Thời
gian lịch sử của Đất Nước cũng hiện ra qua những câu thơ gợi nhớ về truyền
thuyết Vua Hùng Vương và ngày giỗ Tổ, câu chuyện về chú bé làng Gióng cầm
gậy tre đánh giặc, câu chuyện về lớp lớp thế hệ người Việt Nam với những ai đã
khuất trong quá khứ, những ai bây giờ trong hiện tại, mai nàu con ta lớn lên trong
tương lai.
Những thế hệ người Việt Nam ấy cứ nối tiếp từ đời này sang đời khác:
“Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau…”
Nguyễn Khoa Điềm đã làm hiện lên trong suy tưởng của người đọc một
chiều dài thời gian đằng đẵng của lịch sử Đất Nước. Qua đó, Đất Nước được cảm
nhận như một sự thống nhất, hài hòa các phương tiện văn hóa, lịch sử, đạo lí…vừa
cao cả, thiêng liêng vừa gần gũi gắn bó với cuộc sống hàng ngày của NHÂN DÂN.
Những giá trị tinh thần bèn vững như lòng yêu nước, căm thù giặc, ý chí bất khuất
kiên cường chống giặc ngoại xâm, đạo lí thủy chung tình nghĩa, truyền thống nhân
ái…, những giá trị vật chất quý giá của Đất Nước như ngôi nhà, cánh đồng, hạt lúa
được hình thành, nuôi dưỡng, được bảo vệ, gìn giữu qua các thế hệ tạo nên sự gắn
kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Vậy là nếu nhìn từ bình diện thời gian, có
10
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
thế thấy Đất Nước hình thành và phát triển qua cuộc chạy tiếp sức lớn lao, vĩ đại,
vĩnh hằng của các thế hệ người VN trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.
Không tách rời khỏi thời gian, Đất Nước đồng thời được đặt trong chiều
rộng của không gian địa lí.
Không gian nguồn cội đầu tiên từ thuở lập nước là không gian nơi Chim về,
Rồng ở, nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ, đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng. Câu
chuyện về bố Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ sinh ra một trăm con, 50 người theo
cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên non, khai hoang lập nước…, khiến cho núi
rừng sông biển không còn đơn thuần là cảnh sắc thiên nhiên mà là những không
gian thiêng liêng, gần gũi trong tiềm thức người dân Việt, trở thành chứng tích của
tổ tiên xa xăm, trở thành nguồn cội ấm áp, thân yêu cho tình nghĩa đồng bào.
Đất Nước cũng là nơi dân mình đoàn tụ, là không gian sinh tồn của cả cộng
đồng dân tộc, là ngôi nhà lớn của đại gia đình người Việt Nam qua các thế hệ dân
tộc với những ai đã khuất, những ai bây giờ , là nơi dân Việt Hàng năm ăn đâu
làm đâu - Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ, không chỉ hiện ra trong những không
gian kì vĩ với núi rừng sông biển, nơi con chim phượng hoàng bay về hồn núi
bạc…con cá Ngư Ông móng nước biển khơi, Đất Nước còn hiện hữu thân yêu sau
những lũy tre làng, những mái nhà tranh… Trong đoạn thơ đầu, quấn quýt đan xen
với từ ghép Đất Nước, với các thành tố Đất và Nước là các danh từ chỉ những
người thân yêu cho gia đình, điều đó khiến Đất Nước thực sự trở thành một không
gian ấm áp, bình yên với ông bà, cha mẹ, cháu con. Và trong cảm nhận của tuổi
trẻ, của anh và em, Đất Nước cũng là một cõi thơ mộng ngọt ngào với những
không gian tuyệt diệu dành cho tình yêu lứa đôi:
“Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ thầm.”
11
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Mái trường là nơi anh học, dòng sông là nơi e tắm, giếng nước gốc đá nơi ta
hò hẹn.., những không gian chứa đừng bao tình thương nỗi nhớ ấu đều là sự hiện
hữu cụ thể nhất, gần gũi nhất của những giá trị tinh thần, đạo lí góp phần làm nên
Đất Nước, những nghĩa tình không phải chỉ anh và em trong hiện tại mà còn của
bao thế hệ đã qua trong quá khứ, bao thế hệ sắp tới trong tương lai.
Đất Nước hiện ra trong những không gian thân thuộc mà hào hùng của làng
quê Việt Nam khi những rặng tre ngà, những ao đầm làng Gióng, những đá Vọng
Phu…đều trở thành dấu tích oanh liệt và đau thương của những cuộc chiến tranh
vệ quốc để lại trên thân mình Đất Nước.
Đất Nước cũng là không gian lao động với những cánh đồng mênh mông
của nền văn minh lúa nước, nơi bao thế hệ người Việt một nắng hai sương xay giã
rần sàng làm nên hạt lúa.
Qua sự dẫn dắt của nhà thơ, người đọc nhận ra một điều giản dị và sâu sắc.
Nhìn ở bình diện không gian, Đất Nước là nơi những thế hệ người Việt Nam sinh
ra, lớn lên, “yêu nhau rồi sinh con đẻ cái”, lao động dựng xây và chiến đấu bảo vệ
Tổ Quốc thân yêu. Trên chiều rộng của không gian địa lí, chiều dài của thời gian
lịch sử, Đất Nước được cảm nhận như sự thống nhất của các phương tiện văn hóa,
truyền thống, phong tục, đạo lí…
Qua việc khai thác ý nghĩa của các thành tố Đất và Nước cũng như từ ghép
Đất Nước trong mối quan hệ giữa thời gian và không gian, giữa lịch sử và địa lý,
giưa quá khứ, hiện tại và tương lai; giữa cá nhân và cộng đồng, gữa cái hằng ngày
với cái vĩnh hằng.., bằng những chất liệu văn hóa dân gian như ca dao, thành ngữ,
tục ngữ, từ thần thoại. truyền thuyết cổ tích…tời những thói quen trong sinh hoạt
đời sống hàng ngày, Nguyễn Khoa Điềm đã làm hiện lên hình ảnh Đất Nước với
nghìn năm văn hiến, với truyền thống yêu nước và ý chí bất khuất đánh giặc ngoại
xâm khi đan mình biết trồng tre mà đánh giặc, với truyền thống lao động cần cù
chăm chỉ khi làm ra hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã giần sàng, với truyền
thống đạp đức cuẩ những con người thủy chung tình nghĩa luôn dặn nhau:
12
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
“Tay bưng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Với những thuần phong mĩ tục đẹp đẽ, thiêng liêng từ miếng trầu là đầu câu
chuyện, miếng trầu nên dâu nhà người…đến lời nhắc: Dù ai đi ngược về xuôi-Nhớ
ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba… Cần cù trong lao động dựng nước, dũng cảm
kiên cường trong chiến đấu giữ nước, nhân hậu nghĩa tình trong ứng xử của cuộc
sông hàng ngày là chiều sâu văn hóa tạo nên nền tảng vững chắc cho một Đất
Nước.
Trong đoạn một, Đất Nước xuất hiện trong những gì bình dị thân thuộc nhất
của cuộc sống hằng ngày, rồi mở rộng ra trong nhiều chiều của thời gian, không
gian, lịch sử và địa lí; cuối cùng, cảm nhận của Đất Nước trở lại với những phát
hiện về sự hiện hữu củ Đất Nước trong mỗi con người để từ đó nhắc nhở trách
nhiệm của mỗi con người với Đất Nước.
Sau những cảm nhận, suy ngẫm, những định nghĩa, liên tưởng, những cái
nhìn nhiều chiều, nhiều phương diện, cuộc trò chuyện của đôi lứa đã dẫn đến một
phát hiện giản dị mà sâu sắc:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Hôm nay luôn là sự kết tinh của hôm qua. Sự sống mỗi cá nhân luôn là sự
thể hiện cụ thể sinh động hình ảnh của Đất Nước trong mọi giá trị, mỗi con người
Việt Nam luôn thừa hưởng, tiếp nối và phát triển những giá trị văn hóa, tinh thần,
vật chất của cộng đồng từ hạt gạo ta ăn, ngôi nhà ta ở, ngôn ngữ ta trò chuyện tâm
tình, những đạo lí nghĩa tình khi ứng xử… một phần Đất Nước còn được nhà thơ
biểu hiện qua một cảm nhận sâu sắc, thiêng liêng:
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình”
Máu xương được hiểu theo nghĩa cụ thể và nghĩa ẩn dụ. Đất Nước được xây
dựng, bảo vệ bằng máu xương của biết bao những thế hệ người Việt Nam; Đất
Nước cho chúng ta cách sống và cách nghĩ; chính những truyền thống văn hóa, đạo
13
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
lí được hình thành qua lịch sử dựng nước và giữ nước đã lm nên tâm hồn cốt cách
nguời Việt Nam, trong đó có anh và em hôm nay.
Quan hệ giữa Đất Nước với mỗi cá nhân, sự hiện hữu những giá trị vĩnh
hằng của Đất Nước trong cuộc sống hằng ngày của mỗi cá nhân, trong cách sống,
cách nghĩ, cách ứng xử của con người với con người…còn được biểu hiện qua hai
hình ảnh thật sâu sắc:
Khi hai đứa mình cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn to lớn.
Có thể hình ảnh cầm tay là sự biểu hiện cụ thể của mối quan hệ gắn bó giữa
cá nhân và cộng đồng “Khi chúng ta cầm tay mọi người”. Tiếp nhận những giá trị
bèn vững, thiêng liêng trong đời sông tinh thần, tình cảm ấy nghìn năm Đất Nước,
tình yêu lứa đôi của anh và em luôn hài hòa, nồng thắm với những thủy chung son
sắt. Đất Nước luôn lớn lao, thiêng liêng trong những lời dạy thiết tha mà nghiêm
khắc về mối quan hệ giữa tình yêu cá nhân với số phận cộng động qua truyền
thuyết Mị Châu Trọng Thủy…
Trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Có thể thấy cái hằng ngày với cái vĩnh hằng, cá nhân và cộng đồng, quá khứ, hiện
tại và tương lai luôn là những phạm trù không thể tách rời. Nhận của thế hệ trước,
mỗi cá nhân phải có trách nhiệm giữ gìn, phát triển và truyền những giá trị vật
chất, tinh thần cao quý cho đời sau:
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Tuy nhiên, mỗi con người không chỉ có trách nhiệm với quá khứ khi “gánh
vác”…, với tương lai khi “dặn dò”…, điều quan trọng nhất để lịch sử Đất Nước
vận động cà phát triển là trong từng khoảnh khắc của hiện tại phải “biết gắn bó và
14
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
san sẻ” để “làm nên Đất Nước muôn đời”, đó là trách nhiệm với Đất Nước, cũng
đồng thời là trách nhiệm với chính bản thân mình.
Viễn cảnh của Đất Nước, sự phát triển phồn thịnh của Đất Nước trong tương
lai, vị trì, tầm vóc của Đất Nước trên trường quốc tế…đã được nhà thơ thể hiện
trog một ẩn dụ đẹp đẽ và lãng mạn:
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Đất Nước nhọc nhằn, nghèo khó hôm qua và hôm nay, Đất Nước đau
thương, vất vả trong những cuộc chiến tranh hqu và hn, Đất Nước ấy sẽ được đàng
hoàng hơn, to đẹp hn trong ngày maikhi con ta lớn lên, mang trong mình những
phẩm chất tốt đẹp của bao thế hệ người Việt trong lịch sử dựng nước và giữ nước,
con sẽ mang Đất Nước đi xa, sẽ đưa Đất Nước tới những bến bờ mà hqu và hn chỉ
mới khát khao, khẳng định những giá trị vật chất quý giá, những giá trị tinh thần
đẹp đẽ của Đất Nước để Đất Nước có thể tự hào sánh vai với các cường quốc năm
châu.
Phần 2 Những cách cảm nhận mới mẻ, những phát hiện độc đáo về
không gian địa lí của Đất Nước trong mối quan hệ với Nhân Dân
Những chất liệu văn hóa dân gian: Đoạn thơ quan sát không gian địa lí của
Đất Nước qua các di tích văn hóa, lịch sử như đền Hùng, núi Vọng Phu…các địa
danh như làng Gióng, sông Cửu Long…, những thắng cảnh như hòn Trống Mái,
núi Bút non Nghiên… hoặc đơn giản chỉ là những ruộng đồng gò bãi, núi sông…
trên khắp mọi miền tổ quốc…
Điều đáng nói là tất cả những không gian địa lí đều hiện ra qua một câu
chuyện ngày xửa ngày xưa nào đó của văn hoa dân gian như Sự tích núi Vọng Phu,
truyền thuyết Thánh Gióng - những câu chuyện gắn liền với những huyền thoại,
huyền tích hoặc sự thật về Nhân Dân đã biến những cảnh quan bình dị của Đất
Nước thành những danh thắng, những di tích văn hóa, lịch sử vừa thiêng liêng, vừa
15
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
thân yêu, gần gũi trong tâm thức người Việt bởi sự gắn liền với cuộc sống của
Nhân Dân, được cảm nhận qua tâm hồn Nhân Dân, được soi chiếu qua lịch sử dân
tộc. Cuộc sống của Nhân Dân trong dòng chảy lịch sử dân tộc hòa với hình hài
sông núi đã trở thành chất liệu phong phú, xúc động cho những thần toại, cổ tích,
truyền thuyết trong văn hóa dân gian.
Chọn từ những chất liệu nghệ thuật tiêu biểu của văn hoá dân gian, Nguyễn
Khoa Điềm giúp người đọc cảm nhận xúc động và thấm thía những nỗi đau trong
cuộc đời, thân phận, những vẻ đẹp trong tâm hồn, tính cách người Việt: sự tích hòn
Vọng Phu không chỉ gơi ra nỗi xót xa cho cảnh li tán, sự chờ đợi mòn mỏi trong
chiến tranh mà còn ca ngợi tình nghĩa thủy chung của những người vợ nhớ chồng;
cách gọi tên hòn Trống Mái của dân gian qua cái nhìn của nhà thơ hiện đại đã tt
biểu tượng cho vẻ đẹp phồn thực của cuôc đời, cho sự sắt son vĩnh hằng của tình
yêu đôi lứa; những quả đồi thấp bao quanh núi Hi Cương, nơi có đến thờ các vua
Hùng qua cách nhìn của nhân dân đã trở thành chứng tích của đàn voi chín mươi
chín on quây quần thuần phục, trở thành biểu tượng của lòng dân đồng thuận
hướng ề tổ quốc thống nhất; tên gọi núi Bút non Nghiên gợi hình ảnh của một đất
nước nghìn năm văn hiến, với truyền thống hiếu học lâu đời, hình ảnh của một
“Đất Nước lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa…” (Huy Cận).
Những câu chuyện về sự tích núi Vọng Phu, truyền thuyết Thánh Gióng, về
miền đất Tổ Hùng Vương; những cách nhìn sông dáng núi để dặt tên như hòn
Trống Mái, núi bút non Nghiên… đương nhiên chỉ là những hư cấu nghệ thuật, là
những liên tưởng hoặc sâu xa, hoặc hồn nhiên, thú vị của cha ông để lí giải hình
sông dáng núi, đồng thời phản ánh chân thực và cảm động những cảnh ngộ, những
thân phận, những tâm nguyện, mơ ước và nhất là những vẻ đẹp trong tâm hồ...
ÔN TẬP “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự đồng hiện những gì gần gũi
nhất, thân thương nhất của mỗi con người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và
tương lai; trong thời gian và không gian, trong lịch sử và truyền thống văn hoá… Ở
Nguyễn Khoa Điềm lòng yêu nước là yêu nhân dân, yêu những con người đã viết
nên lịch sử, đã sản sinh ra văn hóa, đã phát kiến địa lý mà mở rộng biên cương bảo
vệ lãnh thổ. Từ đó nhà thơ đã đi đến đúc kết thành một chân lý vững vàng: “Đất
nước của nhân dân”, tư tưởng này đã chi phối hầu hết các sáng tác của Nguyễn
Khoa Điềm. Vì vậy tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ nói lên những suy
nghĩ cảm nhận của tuổi trẻ trong chiến tranh, mà còn là lời kêu gọi thiết tha: hãy
yêu đất nước – vì “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình”. (Vũ Quần
Phương)
LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN
Đề bài: Phân tích/ cảm nhận đoạn trích “Đất Nước” trong trường ca “Mặt đường
khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm?
1. DÀN Ý
a. Mở bài
- Giới thiều về tác giả: Nguyễn Khoa Điềm là một trong số những nhà thơ tiêu biêu
nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ
ông giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng, thể hiện tâm tư, ý thức của một công dân
yêu nước đối với vai trò, trách nhiệm của thệ hệ trẻ Việt Nam trong cuộc chiến đấu
chung của cả dân tộc, thể hiện những nhận thức sâu sắc về nhân dân, đất nước qua
những trải nghiệm của chính mình.
- Giới thiệu về tác phẩm: Đất nước là bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ
các thành thị bị tạm chiến miền Nam, mở rộng ra là sự tự ý thức của tuổi trẻ Việt
Nam, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thê hệ mình trong
cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc.
b. Thân bài
1
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
LĐ 1. Khái quát chung
- Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ: “Đất Nước” thuộc phần đầu của chương V trong
trường ca Mặt đường khát vọng – tác phẩm được hoàn thành ở chiến khu Trị –
Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ vùng đô thị tạm chiếm miền Nam
về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống
đế quốc Mỹ xâm lược.
- Chủ đề
+ Bằng sự vận dụng đầy sáng tạo hình thức thơ trữ tình- chính trị, đoạn trích Đất
Nước đã quy tụ mọi cảm nhận, mọi cái nhìn và vốn liếng sách vở cũng như những
trải nghiệm cá nhân của người nghệ sĩ để làm nên một tuyên ngôn về tư tưởng, về
nhận thức của cả một thế hệ nghệ sĩ, ấy là tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”
Nhận xét về cách sử dụng chất liệu văn hoá dân gian của tác giả (ca dao, tục ngữ,
truyền thuyết, phong tục…), từ đó tìm hiểu những đóng góp riêng của nhà thơ về
nghệ thuật biểu đạt.
+ Chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng rất đa dạng và sáng tạo. Có phong tục,
lối sống, tập quán sinh hoạt, (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột. hạt gạo
xay, giã, dần sàng, hòn than, con cúi…); Có ca dao, dân ca, tục ngữ, có truyền
thuyết Hùng Vương, các truyện cổ tích từ xa xưa. Cách vận dụng của tác giả là
thường là chỉ gợi ra bằng một vài chữ của câu ca dao hay một hình ảnh, một chi
tiết trong truyền thuyết. cổ tích, trừ trường hợp câu dân ca Bình - Trị - Thiên được
lấy lại nguyên vẹn “Con chim phượng hoàng … biển khơi”.
+ Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không
gian nghệ thuật riêng cho đoạn trích: vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu
tưởng tượng, vừa bay bổng, mơ mộng.
LĐ 2. Phần 1: Cảm nhận về Đất Nước
- Đất nước thật dung dị, đời thường: Đất Nước hiện lên qua câu chuyện cổ tích mẹ
kể, miếng trầu bà ăn, những dãy tre làng, “bới” tóc của mẹ, gừng cay, muối mặn,
cái kèo, cái cột, hạt gạo...
2
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
- Đất nước “đã có” từ thủa rất xa xưa và rất gần gũi thân thương đối với mỗi con
người.
- Nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện: Đoạn thơ là sự kết tinh đặc sắc giữa chất
liệu văn hoá dân gian với hình thức thơ trữ tình - chính luận.
- Về không gian địa lý:
+ Đất nước là nơi rất gần gũi với cuộc sống mỗi người ( nơi anh đến trường... nơi
em tắm).
+ Đất Nước tồn tại ngay cả trong những không gian riêng tư của tình yêu đôi lứa :
“Đất Nước là nơi ta hò hẹn. Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ
thầm”.
+ Đất Nước còn là không gian sinh tồn hết sức đời thường của nhân dân qua bao
thế hệ “Những ai đã khuất. Những ai bây giờ. Yêu nhau và sinh con đẻ cái. Gánh
vác phần người đi trước để lại…”).
- Về thời gian lịch sử: Đất Nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ
quá khứ đến hiện tại và tương lai.
+ Đó là một Đất Nước thiêng liêng, hào hùng trong quá khứ (gắn liền với huyền
thoại Lạc Long Quân và u Cơ, truyền thuyết về các vua Hùng dựng nước).
+ Đó là một Đất nước giản dị, gần gũi trong hiện tại (“Trong anh và em hôm nay.
Đều có một phần Đất Nước”)
+ Và một Đất Nước triển vọng sáng tươi trong tương lai (“Mai này con ta lớn lên.
Con sẽ mang Đất Nước đi xa. Đến những tháng ngày mơ mộng”).
- Từ cách cảm nhận và lí giải Đất Nước như thế nhà thơ suy nghĩ về trách
nhiệm của mọi người:
+ Đất nước kết tinh, hoá thân trong cuộc sống của mỗi con người, vì thế mọi người
phải có tinh thần cống hiến, có trách nhiệm đối với sự trường tồn của quê hương,
xứ sở.
+ Cần biết gắn bó biết san sẻ : sự sống của mỗi con người không chỉ là của riêng cá
nhân mà còn thuộc về Đất nước.
3
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
+ Lời nhắn nhủ với thế hệ trẻ, lời tự nhủ với chính bản thân đầy chân thành tha
thiết.
LĐ 3. Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” trong phần 2 của đoạn trích
- Về địa lý: nhà thơ đã nhìn ngắm Đất Nước mình qua các danh thắng trải dài từ
Bắc chí Nam. Tất cả các địa danh được nhắc đến đều gắn liền với một huyền thoại,
huyền tích và sự thật về nhân dân trong lịch sử. Nói cách khác, chính những huyền
thoại, huyền tích và sự thật lịch sử về nhân dân đã làm nên tên tuổi của các địa
danh ấy, biến chúng thành danh thắng, thành di tích lịch sử văn hóa được mọi
người thừa nhận và biết đến:
+ Những người vợ nhớ chồng – núi Vọng Phu;
+ Cặp vợ chồng yêu nhau – hòn Trống Mái;
+ Người học trò nghèo – núi Bút, non Nghiên;
+ Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…
- Trong con mắt của nhà thơ, mỗi danh thắng không chỉ là một nét vẽ tô điểm vào
bức “tranh họa đồ” Đất Nước mà còn ẩn chứa những nét đẹp tâm hồn của nhân dân
trong mấy nghìn năm lịch sử : sự thủy chung; tình nghĩa vợ chồng; tinh thần yêu
nước; ý thức hướng về tổ tông, nguồn cội; tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó vươn
lên; tinh thần xả thân vì cộng đồng, dân tộc… Tựu chung lại, đúng như nhà thơ đã
khái quát : “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi. Chẳng mang một dáng hình,
một ao ước, một lối sống ông cha. Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng
thấy. Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.
- Về lịch sử: khi nhìn vào “bốn nghìn năm Đất Nước”, Nguyễn Khoa Điềm nhấn
mạnh đến “lớp lớp” những con người “giản dị và bình tâm. Không ai nhớ mặt đặt
tên. Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Không ai khác mà chính họ đã gìn giữ và
truyền lại cho các thế hệ mai sau mọi giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của Đất
Nước: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, bản sắc văn hóa các vùng
miền… Cũng chính họ “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm. Có nội thù thì vùng
4
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
lên đánh bại” tạo dựng chủ quyền, đắp nền xây móng cho ngôi nhà Đất Nước để
các thế hệ mai sau kế thừa và tiếp tục dựng xây, phát triển.
- Về văn hóa: khi khẳng định “Đất Nước của Nhân dân”, tác giả đã trở về với ngọn
nguồn phong phú, đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao. Ca
dao chính là diện mạo tinh thần, là nơi lưu giữ đời sống tâm hồn tình cảm của nhân
dân qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn ra từ kho tàng thơ ca dân gian ba
nét đẹp tiêu biểu nhất của tâm hồn Việt, của bản sắc văn hóa Đất Nước: thật say
đắm trong tình yêu, quý trọng tình nghĩa và kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh cho đến
ngày toàn thắng.
LĐ 4. Đặc sắc nghệ thuật
- Thể thơ tự do.
- Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức
gợi
- Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, biến đổi linh hoạt
- Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.
c. Kết bài:
- Khái quát nội dung và nghệ thuật: Đoạn thơ đã cảm nhận, phát hiện về Đất Nước
trong cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn, mang đậm tư tưởng Nhân Dân, đã sử dụng
phong phú các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cách sáng tạo, hòa nhập
trong cách diễn đạt và tư duy hiện đại, đem đến mầu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc,
vừa mới mẻ, phù hợp với tư tưởng cốt lõi của tác phẩm, cũng là tư tưởng bao trùm
văn học 1945 – 1975: tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân.
- Nêu cảm nhận của bản thân.
2. Làm văn
Nền văn học Việt Nam giai đoạn năm 1945 - 1975 là nền văn học mang
khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, bên cạnh các đề tài “lực lượng vũ
trang- chiến tranh cách mạng” thì các đề tài xây dựng đất nước, hoặc ca ngợi đất
nước cũng được nhiều tác giả chọn đưa vào tác phẩm của mình mới những vần thơ,
5
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
lời văn chân thành tha thiết, thấm đẫm hào khí dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm là một
trong những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng
chọn cho mình đề tài đất nước, giữa những năm tháng cuộc chiến đấu của nhân dân
đang vào lúc cao trào sục sôi máu lửa. Thế nhưng Nguyễn Khoa Điềm không đặt
nặng trong tác phẩm của mình màu sắc tuyên truyền, không ồn ào, rộn rã mà ông
cho riêng cho mình một chất giọng êm dịu, thiết tha, gần gũi và thân thuộc.
Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn đất nước bằng một cách rất riêng, bằng một cảm xúc
mới lạ giữa thời chinh chiến “hoa lửa”, ông nhìn nhận Tổ quốc từ những điều giản
dị, từ những con người rất đỗi bình thường. Sử dụng thành công giọng thơ mang
tính triết luận trữ tình, đặc biệt là sự kết hợp với các chất liệu văn hóa dân gian lấy
từ vốn hiểu biết rộng lớn của nhà thơ về văn hóa ngàn đời của dân tộc. Tất cả đã
tạo nên một Đất Nước với vẻ giản dị, thân thương, Đất Nước của nhân dân, một
Đất Nước bước ra từ những câu chuyện kể, những truyền thuyết, những phong tục
tập quán của 4000 năm văn hiến tự hào.
Đoạn trích “Đấtt Nước” thuộc phần đầu chương V có tên Đất Nước của
trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Bình - Trị - Thiên năm 1971,
in lần đầu 1974. Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị bị tạm
chiến miền Nam, mở rộng ra là sự tự ý thức của tuổi trẻ Việt Nam, hướng về nhân
dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thê hệ mình trong cuộc chiến đấu chung
của cả dân tộc.
Phần một đoạn trích đã góp phần lí giải một trong những bình diện đầu
tiên của tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân, đó là quan niệm đất nước hòa
quyện, gắn bó sâu sắc trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân, đất nước của
Nhân Dân, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm đối với Đất Nước.
Những cảm nhận sâu săc về Đất Nước trong mỗi quan hệ gắn bó với cuộc
sống Nhân Dân. Đất Nước được hiểu là nơi cư trú của một cộng đồng dân tộc có
cương giới, lãnh thổ riêng, có sự gắn kết sâu sắc với nhau về văn hóa, phong tục,
tập quán, có tiếng nói, ngôn ngữ riêng, có truyền thống lịch sử văn hiến lâu đời.
6
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Tùy theo thời kì lịch sử, Đất Nước được định nghĩa theo những cách quan niệm
khác nhua, đất nước có thể thiêng liêng khi đó là nơi Nam đế cư, đất nước có thể
hiện ra trong những khái niệm trìu tượng của “Bình Ngô Đại Cáo” thế kỉ XV với
nền văn học hiện đại cũng thường tạo ra một khoảng cách sử thi thiêng liêng, tôn
kính để chiêm ngưỡng Đất Nước thông qua những hình ảnh kì vĩ, tráng lệ, mang
đậm tính biểu tượng. Đất Nước có thể huy hoàng khi Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
Đất Nước cũng có thể đẹp lung linh huyền ảo, xa vời trong so sánh “Đất nước như
vì sao - Cứ đi lên phía trước” (Thanh Hải).
Trong đoạn đầu, Nguyễn Khoa Điềm đã đưa đến một cách cảm nhận vừa
mới mẻ, vừa thấm thía xúc động về Đất Nước trong mối quan hệ với cuộc sống của
Nhân Dân, trong đó, những khái niệm trừu tượng, những tiêu chí thiêng liêng định
hình nên Đất Nước đã được nhà thơ thể hiện qua những hình ảnh cụ thể và bình dị,
quen thuộc và gợi cảm, những hình ảnh luôn thường xuất hiện trong cuộc sống
hàng ngày của Nhân Dân.
Câu thơ mở đầu đưa đến một cảm nhận ấm áp về sự hiện hữu của Đất Nước
đối với mỗi con người:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”
“Ta” là một khái niệm mơ hồ, không xác định, đó có thể là bất cứ người Việt
Nam nào, trong bất cứ thời kì nào, là chúng ta hôm nay, là con cháu sau này, là cha
ông hàng ngàn năm trước…, cứ mỗi người Việt Nam sinh ra là ngay lập tức được
bao bọc nâng niu, được nuôi dưỡng và che chở trong chiếc nôi lớn lao, ấm áp, thân
yêu, đó là Đất Nước. Đất Nước luôn có từ trước đó, như từ thời khai thiên lập địa,
đón đợi những con dân Việt. Với việc lặp lại liên tiếp các thành tố “Đất”, “Nước”
cũng như từ ghép “Đất Nước” trong cả đoạn thơ, tác giả đã đưa đến một cảm giác
rất rõ nét: Đất Nước không ở đâu xa lạ, Đất Nước luôn gắn bó thân thiết trong cuộc
sông hàng ngày của nhân dân, Đất Nước có mặt ở mọi nơi, hiện hữu trong mọi
hình hài, dù là con người với ông bà cha mẹ, với anh và em, dù là cảnh vật dông
núi biển khơi, Đất Nước có thể hữu hình với cái kèo cái cột, hạt gạo, miếng trầu
7
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
hay vô hình sau những nghĩa tình của muối mặn gừng cay, sau những nhớ nhung
của tình yêu đôi lứa khi khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất..
Trong đoạn thơ của Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước không được định nghĩa
trong các khái niệm xa xôi, trừu tượng mà hiện ra qua những chi tiết đời thường
gần gũi và bình dị của cuộc sống nhân dân, trong sự xưa cũ vô cùng của thời gian,
năm tháng. Mỗi câu thơ đều chứa đựng một ý, một tứ nào đó của ca dao, thành
ngữ, tục ngữ, một hình ảnh quen thuộc nào đó của truyền thuyết, thần thoại, cổ
tích. Những chất liệu của văn hóa dân gian qua sự chọn lọc tinh tế của nhà thơ hiện
đại đã làm hiện lên phong tục, những thói quen sinh hoạt hàng ngày như miếng
trầu bây giờ bà ăn hay hình ảnh óc mẹ thì bới sau đầu, thói quen đặt tên con một
cách mộc mạc theo những sự vật, vật dụng hàng ngày để cái kèo cái cột thành tên,
trong những ngôi nhà tranh với hạt gạo một nắng hai sương say sã giần sàng…;
truyền thống đánh giặc ngoại xâm tỏng hình ảnh cây tre làng Gióng, văn hóa ứng
xử của cha mẹ gừng cay muối mặn,… Tất cả những hình ảnh gần gũi bình dị ấy đã
đưa người đọc liên tưởng đến một phương diện nào đó của Đất Nước, đều thể hiện
sâu đậm, lâu bền nhất trong những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, lịch
sử của Đất Nước khiến cho cái vĩnh hằng của Đất Nước luôn tồn tại, luôn hiện hữu
trong cái hàng ngày của cuộc sống mỗi con người.
Qua cảm nhận có vẻ như tản mạn, tùy hứng của cuộc trò chuyện tâm tình,
qua những hình ảnh goi nhắc đến ca dao, tục ngữ, thần thoại, cổ tích… nhà thơ đã
đưa người đọc dần đến một nhận thức giản dị mà sâu săc thấm thía: Đất Nước có
một lịch sử lâu đời, Đất nước không hề xa lạ hay trìu tượng, Đất Nước là những gì
gần gũi, thân yêu vô cùng luôn hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân,
Đất Nước làm nên vóc dáng hình hài, làm nên tâm hồn cốt cách , làm nên lối sống,
lối nghĩ của mỗi con người, Đất Nước làm nên cuộc sống Nhân Dân.
Bên cạnh những cảm nhận sâu sắc về Đất Nước trong mối quan hệ gắn bó
với cuộc sống Nhân Dân, nhà thơ còn đặt Đất Nước trong cái nhìn toàn vẹn, tổng
8
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
hợp, nhiều chiều, nhiều phương diện để có thể trả lời thấu đáo câu hỏi: Đất Nước
là gì?
Trước hết, Đất Nước được đặt trong chiều dài miên viễn của thời kì lịch sử.
Sau lời khẳng định tự hào và ấm áp:
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”
Cảm giác về lịch sử lâu đời của Đất Nước được tô đậm hơn trong sự khám
phá: Đất Nước có trong cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể Ngày xửa gày
xưa là câu mở đầu quen thuộc trong truyện cổ tích - thế giới cổ tích là thế giới xa
xăm vô cùng trong tâm thức của con người, vậy mà trong thế giới ấy, Đất Nước
của chúng ta đã hiện hữu, tưởng như “Từ có vũ trụ - Đã có giang sơn” (Trương
Hán Siêu). Đất Nước như đã có tự thuở hồng hoang trong những câu chuyện ngày
xửa ngày xưa của mẹ, từ sử thi Đẻ đất đẻ nước, Sự tích trăm trứng, truyền thuyết
về An Dương Vương hay Sơn Tinh Thủy Tinh…Nhắc tới ngày xửa ngày xưa cũng
là nhắc tới những cách lí giải hồn nhiên của dân gian về sự hình thành và phát triển
Đất Nước, về quá trình dựng nước và giũ nước, qua đó, Nkđ đã thể hiện niềm tự
hào sâu sắc về truyền thồng cha ông, về bề dày lịch sử của một đất nước bốn ngàn
năm.
Những cụm từ liên tiếp lặp lại từ đầu tới cuối đoạn thơ: Đất Nước đã có
rồi… Đất Nước bắt đầu… Đất Nước lớn lên… Đất Nước có từ ngày đó… đã gợi ra
chiều dài thăm thẳm của lịch sử Đất Nước trong quá trình hình thành và phát triển.
Lời khẳng định: Đất Nước có từ ngày đó…đã tiếp tục đưa đến cảm nhận về lịch sử
lâu đời của Đất Nước. “Ngày đó” là một khái niệm thật mơ hồ về thời gian, tính
chất mơi hồ không xác định khiến sự ra đời của Đất Nước càng trở nên xa xăm.
Ngày đó cũng là ngày xửa ngày xưa, khi dân mình biết trồng trê mà đánh giặc, khi
tóc mẹ thì bới sau đầu, khi cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn…. câu
thơ đã giúp người đọc nhận ra Đất Nước bắt đầu, Đất Nước lớn lên,… Đất Nước
hình thành và phát triển chính từ những phong tục tập quán , những truyền thống
văn hóa, lịch sử lâu đời. Nếu sự nối tiếp các triều đại, các chế độ mới chỉ cho thấy
9
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
bề mặt của lịch sử Đất Nước thì chính những phong tục tập quán mới thực sự chỉ
ra chiều sâu văn hóa- lịch sử, nền tảng vững chắc của Đất Nước.
Thời gian lịch sử của Đất Nước trước hết hiện ra trong những huyền thoại
đẹp đẽ và bay bổng về buổi đầu lập nước khi:
“Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”
Đây là một huyền thoại đầy ý nghĩa đem lại niềm tự hào về lịch sử xa xăm
vô cùng của Đất Nước, niềm tự hào về dòng dõi con Rồng cháu Tiên, huyền thoại
gợi niềm thương mến, ấm áp về nghĩa tình đồng bào thiêng liêng, ruột thịt. Thời
gian lịch sử của Đất Nước cũng hiện ra qua những câu thơ gợi nhớ về truyền
thuyết Vua Hùng Vương và ngày giỗ Tổ, câu chuyện về chú bé làng Gióng cầm
gậy tre đánh giặc, câu chuyện về lớp lớp thế hệ người Việt Nam với những ai đã
khuất trong quá khứ, những ai bây giờ trong hiện tại, mai nàu con ta lớn lên trong
tương lai.
Những thế hệ người Việt Nam ấy cứ nối tiếp từ đời này sang đời khác:
“Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau…”
Nguyễn Khoa Điềm đã làm hiện lên trong suy tưởng của người đọc một
chiều dài thời gian đằng đẵng của lịch sử Đất Nước. Qua đó, Đất Nước được cảm
nhận như một sự thống nhất, hài hòa các phương tiện văn hóa, lịch sử, đạo lí…vừa
cao cả, thiêng liêng vừa gần gũi gắn bó với cuộc sống hàng ngày của NHÂN DÂN.
Những giá trị tinh thần bèn vững như lòng yêu nước, căm thù giặc, ý chí bất khuất
kiên cường chống giặc ngoại xâm, đạo lí thủy chung tình nghĩa, truyền thống nhân
ái…, những giá trị vật chất quý giá của Đất Nước như ngôi nhà, cánh đồng, hạt lúa
được hình thành, nuôi dưỡng, được bảo vệ, gìn giữu qua các thế hệ tạo nên sự gắn
kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Vậy là nếu nhìn từ bình diện thời gian, có
10
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
thế thấy Đất Nước hình thành và phát triển qua cuộc chạy tiếp sức lớn lao, vĩ đại,
vĩnh hằng của các thế hệ người VN trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.
Không tách rời khỏi thời gian, Đất Nước đồng thời được đặt trong chiều
rộng của không gian địa lí.
Không gian nguồn cội đầu tiên từ thuở lập nước là không gian nơi Chim về,
Rồng ở, nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ, đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng. Câu
chuyện về bố Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ sinh ra một trăm con, 50 người theo
cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên non, khai hoang lập nước…, khiến cho núi
rừng sông biển không còn đơn thuần là cảnh sắc thiên nhiên mà là những không
gian thiêng liêng, gần gũi trong tiềm thức người dân Việt, trở thành chứng tích của
tổ tiên xa xăm, trở thành nguồn cội ấm áp, thân yêu cho tình nghĩa đồng bào.
Đất Nước cũng là nơi dân mình đoàn tụ, là không gian sinh tồn của cả cộng
đồng dân tộc, là ngôi nhà lớn của đại gia đình người Việt Nam qua các thế hệ dân
tộc với những ai đã khuất, những ai bây giờ , là nơi dân Việt Hàng năm ăn đâu
làm đâu - Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ, không chỉ hiện ra trong những không
gian kì vĩ với núi rừng sông biển, nơi con chim phượng hoàng bay về hồn núi
bạc…con cá Ngư Ông móng nước biển khơi, Đất Nước còn hiện hữu thân yêu sau
những lũy tre làng, những mái nhà tranh… Trong đoạn thơ đầu, quấn quýt đan xen
với từ ghép Đất Nước, với các thành tố Đất và Nước là các danh từ chỉ những
người thân yêu cho gia đình, điều đó khiến Đất Nước thực sự trở thành một không
gian ấm áp, bình yên với ông bà, cha mẹ, cháu con. Và trong cảm nhận của tuổi
trẻ, của anh và em, Đất Nước cũng là một cõi thơ mộng ngọt ngào với những
không gian tuyệt diệu dành cho tình yêu lứa đôi:
“Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ thầm.”
11
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Mái trường là nơi anh học, dòng sông là nơi e tắm, giếng nước gốc đá nơi ta
hò hẹn.., những không gian chứa đừng bao tình thương nỗi nhớ ấu đều là sự hiện
hữu cụ thể nhất, gần gũi nhất của những giá trị tinh thần, đạo lí góp phần làm nên
Đất Nước, những nghĩa tình không phải chỉ anh và em trong hiện tại mà còn của
bao thế hệ đã qua trong quá khứ, bao thế hệ sắp tới trong tương lai.
Đất Nước hiện ra trong những không gian thân thuộc mà hào hùng của làng
quê Việt Nam khi những rặng tre ngà, những ao đầm làng Gióng, những đá Vọng
Phu…đều trở thành dấu tích oanh liệt và đau thương của những cuộc chiến tranh
vệ quốc để lại trên thân mình Đất Nước.
Đất Nước cũng là không gian lao động với những cánh đồng mênh mông
của nền văn minh lúa nước, nơi bao thế hệ người Việt một nắng hai sương xay giã
rần sàng làm nên hạt lúa.
Qua sự dẫn dắt của nhà thơ, người đọc nhận ra một điều giản dị và sâu sắc.
Nhìn ở bình diện không gian, Đất Nước là nơi những thế hệ người Việt Nam sinh
ra, lớn lên, “yêu nhau rồi sinh con đẻ cái”, lao động dựng xây và chiến đấu bảo vệ
Tổ Quốc thân yêu. Trên chiều rộng của không gian địa lí, chiều dài của thời gian
lịch sử, Đất Nước được cảm nhận như sự thống nhất của các phương tiện văn hóa,
truyền thống, phong tục, đạo lí…
Qua việc khai thác ý nghĩa của các thành tố Đất và Nước cũng như từ ghép
Đất Nước trong mối quan hệ giữa thời gian và không gian, giữa lịch sử và địa lý,
giưa quá khứ, hiện tại và tương lai; giữa cá nhân và cộng đồng, gữa cái hằng ngày
với cái vĩnh hằng.., bằng những chất liệu văn hóa dân gian như ca dao, thành ngữ,
tục ngữ, từ thần thoại. truyền thuyết cổ tích…tời những thói quen trong sinh hoạt
đời sống hàng ngày, Nguyễn Khoa Điềm đã làm hiện lên hình ảnh Đất Nước với
nghìn năm văn hiến, với truyền thống yêu nước và ý chí bất khuất đánh giặc ngoại
xâm khi đan mình biết trồng tre mà đánh giặc, với truyền thống lao động cần cù
chăm chỉ khi làm ra hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã giần sàng, với truyền
thống đạp đức cuẩ những con người thủy chung tình nghĩa luôn dặn nhau:
12
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
“Tay bưng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Với những thuần phong mĩ tục đẹp đẽ, thiêng liêng từ miếng trầu là đầu câu
chuyện, miếng trầu nên dâu nhà người…đến lời nhắc: Dù ai đi ngược về xuôi-Nhớ
ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba… Cần cù trong lao động dựng nước, dũng cảm
kiên cường trong chiến đấu giữ nước, nhân hậu nghĩa tình trong ứng xử của cuộc
sông hàng ngày là chiều sâu văn hóa tạo nên nền tảng vững chắc cho một Đất
Nước.
Trong đoạn một, Đất Nước xuất hiện trong những gì bình dị thân thuộc nhất
của cuộc sống hằng ngày, rồi mở rộng ra trong nhiều chiều của thời gian, không
gian, lịch sử và địa lí; cuối cùng, cảm nhận của Đất Nước trở lại với những phát
hiện về sự hiện hữu củ Đất Nước trong mỗi con người để từ đó nhắc nhở trách
nhiệm của mỗi con người với Đất Nước.
Sau những cảm nhận, suy ngẫm, những định nghĩa, liên tưởng, những cái
nhìn nhiều chiều, nhiều phương diện, cuộc trò chuyện của đôi lứa đã dẫn đến một
phát hiện giản dị mà sâu sắc:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Hôm nay luôn là sự kết tinh của hôm qua. Sự sống mỗi cá nhân luôn là sự
thể hiện cụ thể sinh động hình ảnh của Đất Nước trong mọi giá trị, mỗi con người
Việt Nam luôn thừa hưởng, tiếp nối và phát triển những giá trị văn hóa, tinh thần,
vật chất của cộng đồng từ hạt gạo ta ăn, ngôi nhà ta ở, ngôn ngữ ta trò chuyện tâm
tình, những đạo lí nghĩa tình khi ứng xử… một phần Đất Nước còn được nhà thơ
biểu hiện qua một cảm nhận sâu sắc, thiêng liêng:
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình”
Máu xương được hiểu theo nghĩa cụ thể và nghĩa ẩn dụ. Đất Nước được xây
dựng, bảo vệ bằng máu xương của biết bao những thế hệ người Việt Nam; Đất
Nước cho chúng ta cách sống và cách nghĩ; chính những truyền thống văn hóa, đạo
13
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
lí được hình thành qua lịch sử dựng nước và giữ nước đã lm nên tâm hồn cốt cách
nguời Việt Nam, trong đó có anh và em hôm nay.
Quan hệ giữa Đất Nước với mỗi cá nhân, sự hiện hữu những giá trị vĩnh
hằng của Đất Nước trong cuộc sống hằng ngày của mỗi cá nhân, trong cách sống,
cách nghĩ, cách ứng xử của con người với con người…còn được biểu hiện qua hai
hình ảnh thật sâu sắc:
Khi hai đứa mình cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn to lớn.
Có thể hình ảnh cầm tay là sự biểu hiện cụ thể của mối quan hệ gắn bó giữa
cá nhân và cộng đồng “Khi chúng ta cầm tay mọi người”. Tiếp nhận những giá trị
bèn vững, thiêng liêng trong đời sông tinh thần, tình cảm ấy nghìn năm Đất Nước,
tình yêu lứa đôi của anh và em luôn hài hòa, nồng thắm với những thủy chung son
sắt. Đất Nước luôn lớn lao, thiêng liêng trong những lời dạy thiết tha mà nghiêm
khắc về mối quan hệ giữa tình yêu cá nhân với số phận cộng động qua truyền
thuyết Mị Châu Trọng Thủy…
Trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Có thể thấy cái hằng ngày với cái vĩnh hằng, cá nhân và cộng đồng, quá khứ, hiện
tại và tương lai luôn là những phạm trù không thể tách rời. Nhận của thế hệ trước,
mỗi cá nhân phải có trách nhiệm giữ gìn, phát triển và truyền những giá trị vật
chất, tinh thần cao quý cho đời sau:
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Tuy nhiên, mỗi con người không chỉ có trách nhiệm với quá khứ khi “gánh
vác”…, với tương lai khi “dặn dò”…, điều quan trọng nhất để lịch sử Đất Nước
vận động cà phát triển là trong từng khoảnh khắc của hiện tại phải “biết gắn bó và
14
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
san sẻ” để “làm nên Đất Nước muôn đời”, đó là trách nhiệm với Đất Nước, cũng
đồng thời là trách nhiệm với chính bản thân mình.
Viễn cảnh của Đất Nước, sự phát triển phồn thịnh của Đất Nước trong tương
lai, vị trì, tầm vóc của Đất Nước trên trường quốc tế…đã được nhà thơ thể hiện
trog một ẩn dụ đẹp đẽ và lãng mạn:
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Đất Nước nhọc nhằn, nghèo khó hôm qua và hôm nay, Đất Nước đau
thương, vất vả trong những cuộc chiến tranh hqu và hn, Đất Nước ấy sẽ được đàng
hoàng hơn, to đẹp hn trong ngày maikhi con ta lớn lên, mang trong mình những
phẩm chất tốt đẹp của bao thế hệ người Việt trong lịch sử dựng nước và giữ nước,
con sẽ mang Đất Nước đi xa, sẽ đưa Đất Nước tới những bến bờ mà hqu và hn chỉ
mới khát khao, khẳng định những giá trị vật chất quý giá, những giá trị tinh thần
đẹp đẽ của Đất Nước để Đất Nước có thể tự hào sánh vai với các cường quốc năm
châu.
Phần 2 Những cách cảm nhận mới mẻ, những phát hiện độc đáo về
không gian địa lí của Đất Nước trong mối quan hệ với Nhân Dân
Những chất liệu văn hóa dân gian: Đoạn thơ quan sát không gian địa lí của
Đất Nước qua các di tích văn hóa, lịch sử như đền Hùng, núi Vọng Phu…các địa
danh như làng Gióng, sông Cửu Long…, những thắng cảnh như hòn Trống Mái,
núi Bút non Nghiên… hoặc đơn giản chỉ là những ruộng đồng gò bãi, núi sông…
trên khắp mọi miền tổ quốc…
Điều đáng nói là tất cả những không gian địa lí đều hiện ra qua một câu
chuyện ngày xửa ngày xưa nào đó của văn hoa dân gian như Sự tích núi Vọng Phu,
truyền thuyết Thánh Gióng - những câu chuyện gắn liền với những huyền thoại,
huyền tích hoặc sự thật về Nhân Dân đã biến những cảnh quan bình dị của Đất
Nước thành những danh thắng, những di tích văn hóa, lịch sử vừa thiêng liêng, vừa
15
ÔN TẬP ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
thân yêu, gần gũi trong tâm thức người Việt bởi sự gắn liền với cuộc sống của
Nhân Dân, được cảm nhận qua tâm hồn Nhân Dân, được soi chiếu qua lịch sử dân
tộc. Cuộc sống của Nhân Dân trong dòng chảy lịch sử dân tộc hòa với hình hài
sông núi đã trở thành chất liệu phong phú, xúc động cho những thần toại, cổ tích,
truyền thuyết trong văn hóa dân gian.
Chọn từ những chất liệu nghệ thuật tiêu biểu của văn hoá dân gian, Nguyễn
Khoa Điềm giúp người đọc cảm nhận xúc động và thấm thía những nỗi đau trong
cuộc đời, thân phận, những vẻ đẹp trong tâm hồn, tính cách người Việt: sự tích hòn
Vọng Phu không chỉ gơi ra nỗi xót xa cho cảnh li tán, sự chờ đợi mòn mỏi trong
chiến tranh mà còn ca ngợi tình nghĩa thủy chung của những người vợ nhớ chồng;
cách gọi tên hòn Trống Mái của dân gian qua cái nhìn của nhà thơ hiện đại đã tt
biểu tượng cho vẻ đẹp phồn thực của cuôc đời, cho sự sắt son vĩnh hằng của tình
yêu đôi lứa; những quả đồi thấp bao quanh núi Hi Cương, nơi có đến thờ các vua
Hùng qua cách nhìn của nhân dân đã trở thành chứng tích của đàn voi chín mươi
chín on quây quần thuần phục, trở thành biểu tượng của lòng dân đồng thuận
hướng ề tổ quốc thống nhất; tên gọi núi Bút non Nghiên gợi hình ảnh của một đất
nước nghìn năm văn hiến, với truyền thống hiếu học lâu đời, hình ảnh của một
“Đất Nước lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa…” (Huy Cận).
Những câu chuyện về sự tích núi Vọng Phu, truyền thuyết Thánh Gióng, về
miền đất Tổ Hùng Vương; những cách nhìn sông dáng núi để dặt tên như hòn
Trống Mái, núi bút non Nghiên… đương nhiên chỉ là những hư cấu nghệ thuật, là
những liên tưởng hoặc sâu xa, hoặc hồn nhiên, thú vị của cha ông để lí giải hình
sông dáng núi, đồng thời phản ánh chân thực và cảm động những cảnh ngộ, những
thân phận, những tâm nguyện, mơ ước và nhất là những vẻ đẹp trong tâm hồ...
 








Các ý kiến mới nhất