Tìm kiếm Giáo án
Tuần 22. Tràng giang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 17h:19' 17-03-2023
Dung lượng: 24.8 KB
Số lượt tải: 24
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 17h:19' 17-03-2023
Dung lượng: 24.8 KB
Số lượt tải: 24
Số lượt thích:
0 người
TRÀNG
GIANG
HUY CẬN
Thế giới văn chương nói chung và thơ ca nói riêng là một thế giới đẹp đẽ,
lộng lẫy, phong phú với đủ loại “chất” và điểm riêng biệt. Tuy nhiên, so với văn
chương, thơ ca được đánh giá cao hơn cả: “Đọc một câu thơ hay như đứng trước
một bến đò gió nổi, một khát khao sang sông”; bởi lẽ tuy ngắn gọn nhưng thơ ca
lại khiến độc giả thổn thức hơn bao giờ hết với tiếng lòng của tác phẩm được gửi
gắm qua những câu từ, hình ảnh mà chính những thi sĩ đã dày công lựa chọn. Và
tác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận là một thi phẩm như thế.
Nhắc tới Huy Cận, người ta nhớ ngay đến một người con của vùng đất Hà
Tĩnh với chất thơ hàm súc, giàu chất suy tưởng và triết lý cùng niềm yêu thích thơ
ca Việt, thơ Đường. Ông ra đời năm 1919 với tên đầy đủ là Cù Huy Cận. Ông là
một trong nhiều tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới và trở thành một trong
những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ của ông luôn bám
sát với hiện thực đời sống và thời đại. Tuy cầm bút cùng thời với các nhà thơ trong
phong trào Thơ mới, đặc biệt là cùng tri kỷ Xuân Diệu nhưng Huy Cận là nhà thơ
duy nhất lột xác hoàn toàn về cả phong cách sáng tác và giọng thơ sau khi tham gia
Cách mạng Tháng Tám. Hồi tưởng lại quãng thời gian sáng tác trước Cách mạng,
chính nhà thơ đã tự hoạ chân dung của mình:
“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm,
Nỗi nhớ thương không biết đã tan chưa,
Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa,
Cùng đất nước mà nặng buồn sông núi.”
Thơ của ông trước Cách mạng đều mang màu sắc sầu não, buồn thương khó tả.
Nhưng sau khi biến ngòi bút thành vũ khí chiến đấu trong Cách mạng, quay trở lại
với cuộc sống đời thường, giọng thơ của ông vui tươi và yêu đời với nhựa sống
căng tràn trong từng ý thơ. Trước khi, ông được an táng tại nghĩa trang Mai Dịch
vào ngày 19 tháng 2 năm 2005 (hưởng dương 88 tuổi) tại Hà Nội sau một thời gian
lâm trọng bệnh, ông đã để lại cho nền văn học Việt Nam một kho tàng thơ ca đồ sộ
với những bức tranh sinh động và rõ nét về cuộc sống hàng ngày. Đáng phải nhắc
đến như “Lửa thiêng” (1939), “Vũ trụ ca” (1940 – 1942), “Trời mỗi ngày lại sáng”
(1958), “Đất nở hoa” (1960), …
Thi phẩm “Tràng giang” trích trong tập “Lửa thiêng” là một trong những bài
thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Huy Cận. Theo tác giả, bài thơ được viết vào một
buổi chiều thu 1939 với cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh
mang sóng nước, khi nhà thơ đứng ở bờ nam bến Chèm. Bài thơ được viết theo thể
thơ thất ngôn với bốn khổ tả lại nỗi sầu của một “cái tôi” trước thiên nhiên mênh
mông hiu quạnh, trong đó thấm đượm tấm lòng đối với quê hương đất nước của
người thi sĩ…
Mở đầu bài thơ, một lời đề từ vang lên như một chiếc hải đăng dẫn lối cho
toàn bộ dòng cảm xúc cho bài thơ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”… Bằng
nghệ thuật đảo ngữ, tác giả để tính từ “bâng khuâng” lên đầu câu làm nặng thêm sự
xao xuyến, ngỡ ngàng đến luyến tiếc của nhà thơ. Cái “bâng khuâng” ấy bắt nguồn
từ một con sông dài, một con sông không phải của đời thực mà là dòng sông của
lịch sử, văn hoá đã chảy qua biết bao áng cổ thi – sông Hồng. Hình ảnh “trời rộng”,
“sông dài” mở ra cho độc giả một không gian rộng lớn, mênh mông mang tầm vũ
trụ bao la. Xuôi theo dòng chảy của con sông ấy và hoà vào đất trời một nỗi buồn
sầu nhẹ nhàng mà sâu lắng, nối liền trời đất lại bằng một động từ buồn thương, từ
“nhớ”. Qua cái “bâng khuâng”, cái “nhớ” trong lời đề từ, Huy Cận như để lại đó là
lời tâm tình, là nỗi niềm thế hệ của những nhà thơ vượt qua định kiến “ta” để chạm
tới sự vô hạn và cá thể của “tôi” trong thơ mới. Từ đó hướng dòng chảy cảm xúc
của bài thơ chính là tâm trạng khắc khoải trước vũ trụ bao la, bát ngát, rộng lớn
mênh mông của chính tác giả.
Bài thơ có tựa đề “Tràng giang”, câu thơ đầu tiên nhắc lại tựa đề ấy:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,”
Mặc dù đều có nghĩa là “sông dài”, nhưng Huy Cận lại sử dụng “tràng giang” thay
vì “trường giang”. Cách lựa chọn ấy của nhà thơ là ngẫu nhiên hay chính là “chi
tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”? Nhờ cách điệp vần “ang”, “tràng giang” góp phần
tạo nên dư âm vang xa, trầm hùng cho câu thơ mở đầu, từ đó hình thành âm hưởng
chung cho giọng điệu của cả bài thơ. Mặt khác, “tràng giang” còn gợi lên được
hình ảnh một con sông không những dài mà còn rộng. Tuy vậy, xét cho cùng, sức
mạnh của câu thơ trên không phải là nghệ thuật miêu tả, mà ở nghệ thuật khơi gợi:
khơi xúc cảm và gợi ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian
(tràng giang) và theo thời gian (điệp điệp). Giống như phần đông các thi sĩ trong
phong trào Thơ mới, Huy Cận cũng chịu ảnh hưởng khá rõ của thơ tượng trưng của
phương Tây. Nhưng với tình yêu thơ Đường và sự trân trọng vốn thơ ca dân gian,
trong sáng tác của ông, những người giải mã tác phẩm là độc giả chúng ta dễ dàng
cảm nhận được dấu ấn của thơ Đường. Điều đáng quý hơn cả chính là sự “hoà
nhập nhưng không hoà tan” của Huy Cận khi dấu ấn thơ Đường ấy đã được Việt
hoá, nói cho đúng hơn là đã được Huy Cận hoá một cách nhuần nhĩ. Sự Việt hoá
thơ Đường ấy được thể hiện rõ nét trong phép đối “Sóng gợn tràng giang buồn điệp
điệp” với “Con thuyền xuôi mái nước song song”. Nghệ thuật đối ý và đối xứng ấy
đã khiến giọng điệu của bài thơ uyển chuyển và linh hoạt, tránh được những khuôn
sáo cứng nhắc cửa thơ Đường. Bên cạnh đó, những từ láy “điệp điệp”, “song song”
nối nhau tạo nên những nỗi buồn chồng chất, kéo dài và luôn đồng hành cùng nhau
khi một bên là sóng nước (sóng gợn tràng giang) một bên là sóng lòng (buồn điệp
điệp) và cứ thế phó mặc, trôi nổi (thuyền xuôi mái nước). Dù có chất liệu cổ kính
nhưng “Tràng giang” một bài thơ hiện đại, nói cụ thể hơn là sản phẩm của phong
trào Thơ mới. Đúng thế, “Tràng giang” hiện đại ở hình ảnh, thi liệu và cảm xúc:
“Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Vào những năm 30 của thế kỉ trước, hai câu thơ ấy được coi là những câu thơ mới
mẻ, bởi trong đó xuất hiện cái tầm thường nhỏ nhoi, vô nghĩa như “củi một cành
khô”. Thơ xưa chủ yếu là địa hạt dành riêng cho những “nhân mặc khách”, nó ít
chấp nhận cái hiện thực thô ráp của đời thường. Nhìn chung, phải chờ đến Thơ
mới, cái tầm thường mới xuất hiện và góp phần tạo nên một “cuộc cách mạng
trong thơ” (Hoài Thanh). Hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ trôi bồng bềnh trên
dòng sông mênh mông sóng nước dễ gọi lên nỗi buồn về kiếp người bé nhỏ, vô
định giữa cái “sầu trăm ngả”…
Đến khổ hai, nỗi buồn đơn lẻ, vô định càng như thấm vào cảnh vậy:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.”
Theo Huy Cận, từ “đìu hiu” ông học được trong bản dịch “Chinh phụ ngâm”: “Non
Kì quạnh quẽ trăng treo – Bến Phì gió đổi đìu hiu mấy gò”. Hơn nữa, cặp từ láy “lơ
thơ” và “đìu hiu” cũng gợi lên sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn,… Câu thơ “Đâu
tiếng làng xa vãn chợ chiều” lâu nay vẫn tồn tại hai cách hiểu xuất phát từ cách
hiểu của từ “đâu” (có và không có tiếng chợ chiều đã vãn). Dẫu hiểu theo cách nào
thì hình ảnh chợ chiều đã vãn trong câu thơ cũng gợi thêm một nét buồn. Ở đây,
dường như Huy Cận muốn phủ nhận tất cả những gì thuộc về con người (“không
tiếng chợ chiều” nằm trong hệ thống “không một chuyến đò” và “không một cây
cầu” ở khổ thơ sau), chỉ còn cảnh vật, đất trời mênh mông, xa vắng…
“Nắng xuôi, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Đây là những câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc. Không gian được mở rộng và đẩy
cao thêm. “Sâu” gợi được ở những người đối thoại với thi phẩm ấn tượng thăm
thẳm, hun hút khôn cùng. “Chót vót” khắc hoạ được chiều cao dường như vô tận.
Càng rộng, càng sâu, càng cao thì cảnh vật càng thêm vắng lặng, chỉ có “sông dài”,
“trời rộng” với bến lẻ loi, xa vắng (cô liêu). Nỗi buồn tựa hồ như thấm vào không
gian ba chiều. Con người ở đây trở nên bé nhỏ, có phần như bị rợn ngợp trước vũ
trụ rộng lớn, vĩnh hằng và không thể không cảm thấy “lạc loài giữa cái mênh mông
của đất trời, cái vắng của thời gian” (Hoài Thanh).
Vẫn trong mạch cảm xúc được gợi ra từ hai khổ thơ đầu, nỗi buồn càng
được khắc sâu qua hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh:
“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”
Bên cạnh những hình ảnh thuyền và nước như cùng về cõi vô biên, hình ảnh cành
củi khô lưu lạc, bập bềnh trên sóng nước ở khổ thứ hai, đến khổ thơ này, ấn tượng
về chia li tan tác được láy một lần nữa càng gợi thêm về một nỗi buồn mênh mông.
Toàn cảnh sông nước, trời rộng tuyệt nhiên không có bóng dáng con người.
“Không một chuyến đò” và cũng không có lấy một cây cầu để có thể tạo nên sự
gần gũi giữa con người với con người; mà chỉ có thiên nhiên (bờ xanh) với thiên
nhiên (bãi vàng) xa vắng, hoang vu. Vì thế nỗi buồn ở bài thơ này không chỉ là nỗi
buồn mênh mông trước cảnh trời rộng sông dài – như nhiều người nhận xét – mà
còn là nỗi buồn cuộc đời về nhân thế. Như vậy, sự cô quạnh đã được thi sĩ đặc tả
độc đáo bằng chính cái không tồn tại. Thực ra, điều này còn có thể nhận thấy ở khổ
thứ hai (“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”) và ở khổ thứ tư (“Không khói hoàng
hôn cũng nhớ nhà”) nhưng có lẽ rõ nhất vẫn là ở khổ thứ ba này. Bởi thế, có thể
nói, thái độ phủ nhận thực tại nằm ngay trong kết cấu của bài thơ.
Mặc dù nhà thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường nhưng vẫn giữ
được nét riêng biệt của Thơ mới và vẫn thể hiện khá rõ nét độc đáo của hồn thơ
Huy Cận:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Ở đây thiên nhiên tuy buồn, nhưng thật tráng lệ. Mùa thu, những đám may trắng
đùng lên trùng điệp ở phía chân trời. Ánh dương phản chiếu vào làm những đám
mây đó lấp lánh như những ngọn núi bạc. Nét đặc trưng này của mùa thu đã được
Đỗ Phủ miêu tả trong bài thơ “Thu hứng”:
“Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa”.
Lấy lại ý thơ của người xưa, hình ảnh “mây cao đùn núi bạc” tạo ấn tượng về sự
hùng vĩ của thiên nhiên. Trước cảnh sông nước, mây trời bao la và hùng vĩ ấy,
bỗng hiện lên một cánh chim bé bỏng, nó chỉ cần nghiêng cánh là cả bóng chiều sa
xuống. Hình ảnh cánh chim đơn lẻ trong buổi chiều tà thường dễ gợi lên nỗi buồn
xa vắng. Nhưng điều đáng nói ở đây chính là hiệu quả của nghệ thuật đối lập. Đối
lập giữa cánh chim nhỏ bé với vũ trụ bao la, hùng vĩ. Phải chăng, điều này đã làm
cho cảnh thiên nhiên rộng hơn, thoáng hơn, hùng vĩ hơn và đặc biệt là cũng buồn
hơn? Xuyên suốt bài thơ là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn ấy không chỉ
có trong thơ Huy Cận mà tràn sang cả những trang thơ khác trong phong trào Thơ
mới, mà trước hết là nỗi buồn của thế hệ Huy Cận, của cả dân tộc Việt Nam trong
những năm ngột ngạt khói bom cùng máu tanh dưới thời thuộc Pháp. Theo họ, “cái
đẹp” thường đi sóng đôi với cái buồn”. Cái buồn của Huy Cận trong bài thơ này
trước sau đều trong sáng, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn những người nối
dài sức sống của tác phẩm. Vậy thì có hay không cái nguồn cội của nỗi buồn khi
đó xuất phát từ chính quan niệm mĩ học của nhà thơ lãng mạn đương thời?
Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo được những vang hưởng kì lạ do tác giả đã chọn
được thể thơ thích hợp, vận dụng tự nhiên lối đối, sử dụng có hiệu quả với tần số
cao hệ thống từ láy (10 lần trong 16 dòng thơ) và cách ngắt nhịp truyền thống
(4/3). Chất cổ điển ấy của bài thơ đặc biệt rõ ở câu kết. Thôi Hiệu nhìn khói sương
nhớ đến quê hương (“Nhật mộ hương quan hà xứ thị? – Yên ba giang thượng sử
nhân sầu” – “Hoàng Hạc lâu”). Huy Cận không cần có khói sóng – tức là không
cần có cái gợi nhớ - mà lòng vẫn dờn dợn nhớ nhà. Rõ ràng, nỗi nhớ ấy của ông da
diết hơn, thường trực hơn và cháy bỏng hơn. Đó chính là nét hiện đại của Huy Cận.
Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi nhưng “Tràng giang” vẫn là một
bài thơ rất Việt Nam. Nhưng hình ảnh con sóng uốn lượn, con thuyền xuôi mái
chèo, cành củi khô bồng bềnh, cánh bèo lênh đênh, chợ chiều làng quê, cánh chim
chiều tà,… thật gần gũi với người Việt Nam ta, khiến ta dù chỉ đọc qua thôi cũng
đã trào lên từ cõi lòng một nỗi nhớ nhà khôn tả. Và xét ở một phương diện nào
đấy, “Tràng giang” đúng là một bài thơ “ca hát non sông đất nước; do đó dọn
đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc” (Xuân Diệu).
GIANG
HUY CẬN
Thế giới văn chương nói chung và thơ ca nói riêng là một thế giới đẹp đẽ,
lộng lẫy, phong phú với đủ loại “chất” và điểm riêng biệt. Tuy nhiên, so với văn
chương, thơ ca được đánh giá cao hơn cả: “Đọc một câu thơ hay như đứng trước
một bến đò gió nổi, một khát khao sang sông”; bởi lẽ tuy ngắn gọn nhưng thơ ca
lại khiến độc giả thổn thức hơn bao giờ hết với tiếng lòng của tác phẩm được gửi
gắm qua những câu từ, hình ảnh mà chính những thi sĩ đã dày công lựa chọn. Và
tác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận là một thi phẩm như thế.
Nhắc tới Huy Cận, người ta nhớ ngay đến một người con của vùng đất Hà
Tĩnh với chất thơ hàm súc, giàu chất suy tưởng và triết lý cùng niềm yêu thích thơ
ca Việt, thơ Đường. Ông ra đời năm 1919 với tên đầy đủ là Cù Huy Cận. Ông là
một trong nhiều tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới và trở thành một trong
những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ của ông luôn bám
sát với hiện thực đời sống và thời đại. Tuy cầm bút cùng thời với các nhà thơ trong
phong trào Thơ mới, đặc biệt là cùng tri kỷ Xuân Diệu nhưng Huy Cận là nhà thơ
duy nhất lột xác hoàn toàn về cả phong cách sáng tác và giọng thơ sau khi tham gia
Cách mạng Tháng Tám. Hồi tưởng lại quãng thời gian sáng tác trước Cách mạng,
chính nhà thơ đã tự hoạ chân dung của mình:
“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm,
Nỗi nhớ thương không biết đã tan chưa,
Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa,
Cùng đất nước mà nặng buồn sông núi.”
Thơ của ông trước Cách mạng đều mang màu sắc sầu não, buồn thương khó tả.
Nhưng sau khi biến ngòi bút thành vũ khí chiến đấu trong Cách mạng, quay trở lại
với cuộc sống đời thường, giọng thơ của ông vui tươi và yêu đời với nhựa sống
căng tràn trong từng ý thơ. Trước khi, ông được an táng tại nghĩa trang Mai Dịch
vào ngày 19 tháng 2 năm 2005 (hưởng dương 88 tuổi) tại Hà Nội sau một thời gian
lâm trọng bệnh, ông đã để lại cho nền văn học Việt Nam một kho tàng thơ ca đồ sộ
với những bức tranh sinh động và rõ nét về cuộc sống hàng ngày. Đáng phải nhắc
đến như “Lửa thiêng” (1939), “Vũ trụ ca” (1940 – 1942), “Trời mỗi ngày lại sáng”
(1958), “Đất nở hoa” (1960), …
Thi phẩm “Tràng giang” trích trong tập “Lửa thiêng” là một trong những bài
thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Huy Cận. Theo tác giả, bài thơ được viết vào một
buổi chiều thu 1939 với cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh
mang sóng nước, khi nhà thơ đứng ở bờ nam bến Chèm. Bài thơ được viết theo thể
thơ thất ngôn với bốn khổ tả lại nỗi sầu của một “cái tôi” trước thiên nhiên mênh
mông hiu quạnh, trong đó thấm đượm tấm lòng đối với quê hương đất nước của
người thi sĩ…
Mở đầu bài thơ, một lời đề từ vang lên như một chiếc hải đăng dẫn lối cho
toàn bộ dòng cảm xúc cho bài thơ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”… Bằng
nghệ thuật đảo ngữ, tác giả để tính từ “bâng khuâng” lên đầu câu làm nặng thêm sự
xao xuyến, ngỡ ngàng đến luyến tiếc của nhà thơ. Cái “bâng khuâng” ấy bắt nguồn
từ một con sông dài, một con sông không phải của đời thực mà là dòng sông của
lịch sử, văn hoá đã chảy qua biết bao áng cổ thi – sông Hồng. Hình ảnh “trời rộng”,
“sông dài” mở ra cho độc giả một không gian rộng lớn, mênh mông mang tầm vũ
trụ bao la. Xuôi theo dòng chảy của con sông ấy và hoà vào đất trời một nỗi buồn
sầu nhẹ nhàng mà sâu lắng, nối liền trời đất lại bằng một động từ buồn thương, từ
“nhớ”. Qua cái “bâng khuâng”, cái “nhớ” trong lời đề từ, Huy Cận như để lại đó là
lời tâm tình, là nỗi niềm thế hệ của những nhà thơ vượt qua định kiến “ta” để chạm
tới sự vô hạn và cá thể của “tôi” trong thơ mới. Từ đó hướng dòng chảy cảm xúc
của bài thơ chính là tâm trạng khắc khoải trước vũ trụ bao la, bát ngát, rộng lớn
mênh mông của chính tác giả.
Bài thơ có tựa đề “Tràng giang”, câu thơ đầu tiên nhắc lại tựa đề ấy:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,”
Mặc dù đều có nghĩa là “sông dài”, nhưng Huy Cận lại sử dụng “tràng giang” thay
vì “trường giang”. Cách lựa chọn ấy của nhà thơ là ngẫu nhiên hay chính là “chi
tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”? Nhờ cách điệp vần “ang”, “tràng giang” góp phần
tạo nên dư âm vang xa, trầm hùng cho câu thơ mở đầu, từ đó hình thành âm hưởng
chung cho giọng điệu của cả bài thơ. Mặt khác, “tràng giang” còn gợi lên được
hình ảnh một con sông không những dài mà còn rộng. Tuy vậy, xét cho cùng, sức
mạnh của câu thơ trên không phải là nghệ thuật miêu tả, mà ở nghệ thuật khơi gợi:
khơi xúc cảm và gợi ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian
(tràng giang) và theo thời gian (điệp điệp). Giống như phần đông các thi sĩ trong
phong trào Thơ mới, Huy Cận cũng chịu ảnh hưởng khá rõ của thơ tượng trưng của
phương Tây. Nhưng với tình yêu thơ Đường và sự trân trọng vốn thơ ca dân gian,
trong sáng tác của ông, những người giải mã tác phẩm là độc giả chúng ta dễ dàng
cảm nhận được dấu ấn của thơ Đường. Điều đáng quý hơn cả chính là sự “hoà
nhập nhưng không hoà tan” của Huy Cận khi dấu ấn thơ Đường ấy đã được Việt
hoá, nói cho đúng hơn là đã được Huy Cận hoá một cách nhuần nhĩ. Sự Việt hoá
thơ Đường ấy được thể hiện rõ nét trong phép đối “Sóng gợn tràng giang buồn điệp
điệp” với “Con thuyền xuôi mái nước song song”. Nghệ thuật đối ý và đối xứng ấy
đã khiến giọng điệu của bài thơ uyển chuyển và linh hoạt, tránh được những khuôn
sáo cứng nhắc cửa thơ Đường. Bên cạnh đó, những từ láy “điệp điệp”, “song song”
nối nhau tạo nên những nỗi buồn chồng chất, kéo dài và luôn đồng hành cùng nhau
khi một bên là sóng nước (sóng gợn tràng giang) một bên là sóng lòng (buồn điệp
điệp) và cứ thế phó mặc, trôi nổi (thuyền xuôi mái nước). Dù có chất liệu cổ kính
nhưng “Tràng giang” một bài thơ hiện đại, nói cụ thể hơn là sản phẩm của phong
trào Thơ mới. Đúng thế, “Tràng giang” hiện đại ở hình ảnh, thi liệu và cảm xúc:
“Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Vào những năm 30 của thế kỉ trước, hai câu thơ ấy được coi là những câu thơ mới
mẻ, bởi trong đó xuất hiện cái tầm thường nhỏ nhoi, vô nghĩa như “củi một cành
khô”. Thơ xưa chủ yếu là địa hạt dành riêng cho những “nhân mặc khách”, nó ít
chấp nhận cái hiện thực thô ráp của đời thường. Nhìn chung, phải chờ đến Thơ
mới, cái tầm thường mới xuất hiện và góp phần tạo nên một “cuộc cách mạng
trong thơ” (Hoài Thanh). Hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ trôi bồng bềnh trên
dòng sông mênh mông sóng nước dễ gọi lên nỗi buồn về kiếp người bé nhỏ, vô
định giữa cái “sầu trăm ngả”…
Đến khổ hai, nỗi buồn đơn lẻ, vô định càng như thấm vào cảnh vậy:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.”
Theo Huy Cận, từ “đìu hiu” ông học được trong bản dịch “Chinh phụ ngâm”: “Non
Kì quạnh quẽ trăng treo – Bến Phì gió đổi đìu hiu mấy gò”. Hơn nữa, cặp từ láy “lơ
thơ” và “đìu hiu” cũng gợi lên sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn,… Câu thơ “Đâu
tiếng làng xa vãn chợ chiều” lâu nay vẫn tồn tại hai cách hiểu xuất phát từ cách
hiểu của từ “đâu” (có và không có tiếng chợ chiều đã vãn). Dẫu hiểu theo cách nào
thì hình ảnh chợ chiều đã vãn trong câu thơ cũng gợi thêm một nét buồn. Ở đây,
dường như Huy Cận muốn phủ nhận tất cả những gì thuộc về con người (“không
tiếng chợ chiều” nằm trong hệ thống “không một chuyến đò” và “không một cây
cầu” ở khổ thơ sau), chỉ còn cảnh vật, đất trời mênh mông, xa vắng…
“Nắng xuôi, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Đây là những câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc. Không gian được mở rộng và đẩy
cao thêm. “Sâu” gợi được ở những người đối thoại với thi phẩm ấn tượng thăm
thẳm, hun hút khôn cùng. “Chót vót” khắc hoạ được chiều cao dường như vô tận.
Càng rộng, càng sâu, càng cao thì cảnh vật càng thêm vắng lặng, chỉ có “sông dài”,
“trời rộng” với bến lẻ loi, xa vắng (cô liêu). Nỗi buồn tựa hồ như thấm vào không
gian ba chiều. Con người ở đây trở nên bé nhỏ, có phần như bị rợn ngợp trước vũ
trụ rộng lớn, vĩnh hằng và không thể không cảm thấy “lạc loài giữa cái mênh mông
của đất trời, cái vắng của thời gian” (Hoài Thanh).
Vẫn trong mạch cảm xúc được gợi ra từ hai khổ thơ đầu, nỗi buồn càng
được khắc sâu qua hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh:
“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”
Bên cạnh những hình ảnh thuyền và nước như cùng về cõi vô biên, hình ảnh cành
củi khô lưu lạc, bập bềnh trên sóng nước ở khổ thứ hai, đến khổ thơ này, ấn tượng
về chia li tan tác được láy một lần nữa càng gợi thêm về một nỗi buồn mênh mông.
Toàn cảnh sông nước, trời rộng tuyệt nhiên không có bóng dáng con người.
“Không một chuyến đò” và cũng không có lấy một cây cầu để có thể tạo nên sự
gần gũi giữa con người với con người; mà chỉ có thiên nhiên (bờ xanh) với thiên
nhiên (bãi vàng) xa vắng, hoang vu. Vì thế nỗi buồn ở bài thơ này không chỉ là nỗi
buồn mênh mông trước cảnh trời rộng sông dài – như nhiều người nhận xét – mà
còn là nỗi buồn cuộc đời về nhân thế. Như vậy, sự cô quạnh đã được thi sĩ đặc tả
độc đáo bằng chính cái không tồn tại. Thực ra, điều này còn có thể nhận thấy ở khổ
thứ hai (“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”) và ở khổ thứ tư (“Không khói hoàng
hôn cũng nhớ nhà”) nhưng có lẽ rõ nhất vẫn là ở khổ thứ ba này. Bởi thế, có thể
nói, thái độ phủ nhận thực tại nằm ngay trong kết cấu của bài thơ.
Mặc dù nhà thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường nhưng vẫn giữ
được nét riêng biệt của Thơ mới và vẫn thể hiện khá rõ nét độc đáo của hồn thơ
Huy Cận:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Ở đây thiên nhiên tuy buồn, nhưng thật tráng lệ. Mùa thu, những đám may trắng
đùng lên trùng điệp ở phía chân trời. Ánh dương phản chiếu vào làm những đám
mây đó lấp lánh như những ngọn núi bạc. Nét đặc trưng này của mùa thu đã được
Đỗ Phủ miêu tả trong bài thơ “Thu hứng”:
“Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa”.
Lấy lại ý thơ của người xưa, hình ảnh “mây cao đùn núi bạc” tạo ấn tượng về sự
hùng vĩ của thiên nhiên. Trước cảnh sông nước, mây trời bao la và hùng vĩ ấy,
bỗng hiện lên một cánh chim bé bỏng, nó chỉ cần nghiêng cánh là cả bóng chiều sa
xuống. Hình ảnh cánh chim đơn lẻ trong buổi chiều tà thường dễ gợi lên nỗi buồn
xa vắng. Nhưng điều đáng nói ở đây chính là hiệu quả của nghệ thuật đối lập. Đối
lập giữa cánh chim nhỏ bé với vũ trụ bao la, hùng vĩ. Phải chăng, điều này đã làm
cho cảnh thiên nhiên rộng hơn, thoáng hơn, hùng vĩ hơn và đặc biệt là cũng buồn
hơn? Xuyên suốt bài thơ là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn ấy không chỉ
có trong thơ Huy Cận mà tràn sang cả những trang thơ khác trong phong trào Thơ
mới, mà trước hết là nỗi buồn của thế hệ Huy Cận, của cả dân tộc Việt Nam trong
những năm ngột ngạt khói bom cùng máu tanh dưới thời thuộc Pháp. Theo họ, “cái
đẹp” thường đi sóng đôi với cái buồn”. Cái buồn của Huy Cận trong bài thơ này
trước sau đều trong sáng, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn những người nối
dài sức sống của tác phẩm. Vậy thì có hay không cái nguồn cội của nỗi buồn khi
đó xuất phát từ chính quan niệm mĩ học của nhà thơ lãng mạn đương thời?
Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo được những vang hưởng kì lạ do tác giả đã chọn
được thể thơ thích hợp, vận dụng tự nhiên lối đối, sử dụng có hiệu quả với tần số
cao hệ thống từ láy (10 lần trong 16 dòng thơ) và cách ngắt nhịp truyền thống
(4/3). Chất cổ điển ấy của bài thơ đặc biệt rõ ở câu kết. Thôi Hiệu nhìn khói sương
nhớ đến quê hương (“Nhật mộ hương quan hà xứ thị? – Yên ba giang thượng sử
nhân sầu” – “Hoàng Hạc lâu”). Huy Cận không cần có khói sóng – tức là không
cần có cái gợi nhớ - mà lòng vẫn dờn dợn nhớ nhà. Rõ ràng, nỗi nhớ ấy của ông da
diết hơn, thường trực hơn và cháy bỏng hơn. Đó chính là nét hiện đại của Huy Cận.
Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi nhưng “Tràng giang” vẫn là một
bài thơ rất Việt Nam. Nhưng hình ảnh con sóng uốn lượn, con thuyền xuôi mái
chèo, cành củi khô bồng bềnh, cánh bèo lênh đênh, chợ chiều làng quê, cánh chim
chiều tà,… thật gần gũi với người Việt Nam ta, khiến ta dù chỉ đọc qua thôi cũng
đã trào lên từ cõi lòng một nỗi nhớ nhà khôn tả. Và xét ở một phương diện nào
đấy, “Tràng giang” đúng là một bài thơ “ca hát non sông đất nước; do đó dọn
đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc” (Xuân Diệu).
 









Các ý kiến mới nhất