Yêu sách đường lưỡi bò

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Elearning Hùng Cường
Ngày gửi: 12h:39' 21-07-2023
Dung lượng: 208.5 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn: st
Người gửi: Elearning Hùng Cường
Ngày gửi: 12h:39' 21-07-2023
Dung lượng: 208.5 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Bản đồ “đường lưỡi bò” trên biển Đông:
Đường yêu sách phi lý của Trung Quốc
* Một yêu sách không có giá trị pháp lý quốc tế
*Một việc làm không phù hợp với xu thế của khu vực
Ngày 7.5 vừa qua, cùng với công hàm gửi Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc phản đối việc
Việt Nam nộp Báo cáo về Ranh giới ngoài thềm lục địa của mình cho Ủy ban Ranh giới
thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc theo quy định của Công ước Luật biển 1982, Trung
Quốc đã gửi kèm một sơ đồ trên đó thể hiện đường yêu sách 9 đoạn của mình trên biển
Đông. Theo lời văn công hàm thì “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với
các đảo ở biển nam Trung Hoa (tức biển Đông - TN) và các vùng nước kế cận, và có
quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển
và lòng đất đáy biển ở đó (xem sơ đồ kèm theo)”. Ngày 8.5.2009, phái đoàn thường trực
Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc đã có Công hàm số 86/HC-2009 gửi Tổng thư ký Liên
Hiệp Quốc bác bỏ công hàm và sơ đồ nói trên. Cùng ngày, người phát ngôn Bộ Ngoại
giao Việt Nam cũng đã trả lời phỏng vấn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và coi đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc thể hiện
trên sơ đồ là “không có giá trị vì không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn”.
Trong bài này tác giả sẽ không trình bày về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ đi sâu phân tích về đường yêu sách 9 đoạn
được Trung Quốc nêu ra trong sơ đồ kèm theo
công hàm nói trên.
Sự hình thành và tồn tại của một đường yêu
sách khó hiểu
Đường “lưỡi bò”, “chữ U” hay “đứt đoạn”... đều
là cách gọi khác nhau mà các học giả trên thế
giới dùng để chỉ yêu sách của Trung Quốc đối
với 80% diện tích của biển Đông, được vẽ sát
vào bờ của các quốc gia ven biển Đông như Việt
Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines.
Lễ chào cờ của chiến sĩ Trường Sa Đường yêu sách này ban đầu có 11 đoạn, do
ảnh: T.T
chính quyền Trung Quốc (Quốc dân đảng) vẽ ra
vào năm 1947 và sau đó được CHND Trung Hoa tiếp tục sử dụng nhưng có sửa đổi (bỏ
bớt 2 đoạn trong vịnh Bắc Bộ nên chỉ còn lại 9 đoạn).
Công hàm ngày 7.5.2009 có lẽ là văn bản đầu tiên trong hơn 60 năm qua, thể hiện quan
điểm chính thức của Trung Quốc về ý nghĩa pháp lý quốc tế của đường yêu sách 9 đoạn
và cũng là lần đầu tiên mà Trung Quốc chính thức công bố sơ đồ đường yêu sách này với
thế giới. Trước đó, mặc dù đường yêu sách này đã được thể hiện nhiều lần trên bản đồ
Trung Quốc, nhưng CHND Trung Hoa chưa bao giờ có một tuyên bố chính thức nào về ý
nghĩa pháp lý quốc tế cũng như quốc gia của đường đứt đoạn này. Thậm chí trong những
văn bản pháp lý quan trọng của CHND Trung Hoa về các vùng biển (như: các Tuyên bố
về Lãnh hải 1958, về Lãnh hải và vùng tiếp giáp 1992, về Đường cơ sở 1996 và về vùng
Đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998...) thì đường yêu sách này cũng không hề được
nhắc đến.
Sớm hơn CHND Trung Hoa một chút, năm 1993, trong bản “Giải thích chính sách biển
nam Trung Hoa” do Viện Hành pháp Đài Loan thông qua thì vùng nước nằm bên trong
đường đứt đoạn được coi như “vùng nước lịch sử” của Đài Loan. Như vậy, quan điểm
của Đài Loan về đường đứt đoạn khác với quan điểm của CHND Trung Hoa. Trong khi
Đài Loan coi vùng nước ở trong đường đứt đoạn mà mình yêu sách có quy chế nội thủy
(tức là đòi hỏi có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ) thì, theo công hàm ngày 7.5.2009,
CHND Trung Hoa lại phủ nhận việc Trung Quốc có chủ quyền đối với vùng nước này,
chỉ đòi hỏi “quyền chủ quyền và quyền tài phán” tức là đòi hỏi một vùng biển có quy chế
pháp lý tương tự với quy chế của vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa theo Công
ước Luật biển 1982.
Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên biển Đông
Trước khi Nhà nước Trung Quốc xác định quy chế pháp lý của con đường này, thì tại
nhiều hội thảo quốc tế (ví dụ như “Hội thảo về khống chế xung đột tiềm tàng ở biển
Đông” diễn ra hằng năm từ 1991 đến nay tại Indonesia) các học giả Trung Quốc lại có
những giải thích khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau, về giá trị pháp lý quốc tế của
đường đứt đoạn. Nhưng còn có một điều khác cũng rất quan trọng mà tất cả các học giả
và kể cả Nhà nước Trung Quốc cho đến nay không thể trả lời được là: vậy thì làm sao xác
định được tọa độ cũng như vị trí chính xác của từng đoạn cũng như của toàn bộ 9 đoạn
của đường yêu sách này. Chẳng hề có một văn bản nào (dù là chính thức hay không chính
thức) quy định hoặc giải thích về việc đó. Theo Phan Thạch Anh, một học giả Trung
Quốc có uy tín, thì điều này “để lại khả năng đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong
tương lai” (Pan Shiying, bài đăng trong tạp chí Economic Information & Agency, July
1996).
Có lẽ không cần bình luận gì thêm vì sao một yêu sách được cho là “đã có lịch sử hơn
nửa thế kỷ” mà lại không được các nước trong khu vực tính đến và không ai tôn trọng
trên thực tế. Đường đứt đoạn này không thể là yêu sách nghiêm túc của một quốc gia đối
với một vùng biển rộng lớn vì nó không có một nội dung pháp lý rõ ràng, thậm chí là
mâu thuẫn, và không thể xác định được vị trí của nó trên thực địa.
Một yêu sách không có giá trị pháp lý quốc tế
Lập luận đầu tiên và được sử dụng nhiều nhất của các học giả Trung Quốc khi giải thích
về đường đứt đoạn được vẽ trên bản đồ biển Đông là yêu sách này phải được xem xét
dưới góc độ của “luật pháp quốc tế đương đại” (tức là luật pháp quốc tế vào thời điểm mà
nó được vẽ ra), chứ không thể sử dụng Công ước Luật biển 1982 để xem xét giá trị pháp
lý của nó (“người cũ biện pháp cũ, người mới quy định mới”, câu của Trương Thiệu
Trung trong bài đăng trên báo mạng Nhân Dân (Trung Quốc) ngày 2.4.2009). Chúng ta
sẽ xem xét đường yêu sách của Trung Quốc theo cách này.
Vào thời điểm mà đường đứt đoạn được vẽ ra (1947) những quy định của Luật biển quốc
tế còn tồn tại dưới dạng những quy phạm tập quán, theo đó lãnh hải của quốc gia ven
biển chỉ có chiều rộng 3 hải lý tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất. Ngoài phạm vi lãnh
hải là biển cả hay còn gọi là vùng biển quốc tế, nơi mà mọi quốc gia đều có thể thực hiện
quyền tự do biển cả.
Cho đến năm 1958 các chính quyền khác nhau của Trung Quốc (triều đình nhà Thanh,
Cộng hòa Trung Hoa và cả CHND Trung Hoa) đều công nhận hoặc không công khai
phản đối chiều rộng của lãnh hải là 3 hải lý (xem Hungdah Chiu, “China and the question
of Territorial Sea” International Trade Law Journal, số 1975 - 6). Như vậy, ngay cả theo
luật pháp quốc tế đương đại thì một đường đòi hỏi không rõ ràng đối với một vùng biển
rộng lớn như vậy không thể nào được coi là hợp pháp. Tiến sĩ Djalal, một chuyên gia luật
biển nổi tiếng người Indonesia đã viết: “Không thể chấp nhận được rằng vào năm 1947,
khi luật quốc tế nói chung chỉ ghi nhận lãnh hải 3 hải lý, Trung Quốc lại có thể yêu sách
toàn bộ biển Đông” (Djatal, H.Shouthe China Sea Island Disputes, The Raffes Bulletin of
Zoology, Supplement No.8/2000).
Vậy đối với yêu sách về một đường xác định phạm vi “quyền chủ quyền và quyền tài
phán” trên biển Đông như công hàm ngày 7.5.2009 của Trung Quốc nêu ra thì sao? Câu
trả lời cũng sẽ là tương tự như trên. Vì vào thời điểm này các quốc gia ven biển không có
quyền mở rộng các quyền liên quan đến chủ quyền ra ngoài phạm vi lãnh hải của mình.
Cũng cần nhấn mạnh là Luật biển quốc tế thời kỳ này hoàn toàn không điều chỉnh “đáy
biển và lòng đất dưới đáy biển” ngoài phạm vi lãnh hải, vì vậy Trung Quốc càng không
thể đòi hỏi quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với một vùng biển rộng lớn nằm trong
đường đứt đoạn.
Lập luận thứ hai được các học giả Trung Quốc sử dụng để giải thích về đường đứt đoạn
là: do đường này được vẽ ra từ 1947, nên Trung Quốc có thể đòi hỏi đối với vùng biển
nằm trong đường này một “danh nghĩa lịch sử” nào đó hoặc, như yêu sách của chính
quyền Đài Loan, coi đây là “vùng nước lịch sử”. Theo Phan Thạch Anh cũng như hai học
giả Đài Loan Lý Tấn Minh và Lý Đức Hu (Li Jinming &?Li Dexia, The dotted line on
the Chinese map of the SCS, Ocean Development & International Law, 2003) thì do con
đường này đã tồn tại hơn nửa thế kỷ và không quốc gia nào phản đối nên đã tạo ra một
danh nghĩa lịch sử cho Trung Quốc.
Cần phải nhắc lại rằng, tại Hội nghị Luật biển của Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 các quốc gia
đã không nhất trí được việc đưa vào Công ước Luật biển 1982 những quy định cũng như
định nghĩa về vùng nước lịch sử. Tuy vậy, từ những tranh luận tại hội nghị, có thể rút ra
những tiêu chí để một vùng nước có thể được xem xét danh nghĩa lịch sử gồm: Yêu sách
phải công khai; quốc gia yêu sách phải thực hiện quyền lực nhà nước một cách hiệu quả,
liên tục và hòa bình trong một thời gian dài; yêu sách phải được các quốc gia liên quan
công nhận.
Dù rằng luật pháp cũng như thực tiễn quốc tế từ cổ chí kim chưa bao giờ công nhận
“danh nghĩa lịch sử” hoặc quy chế “vùng nước lịch sử” đối với vùng biển rộng lớn như
yêu sách của Trung Quốc, nhưng cứ thử xem xét một cách khách quan liệu Trung Quốc
có thể đáp ứng được những tiêu chí nêu trên hay không. Thứ nhất, rất dễ thấy là tất cả các
hoạt động hàng hải, dầu khí và nghề cá... của các quốc gia trong và ngoài khu vực biển
Đông đều không hề vấp phải bất kỳ sự ngăn cản nào từ phía Trung Quốc ít nhất là cho
mãi đến tận những năm 1990 của thế kỷ trước. Do vậy cũng là dễ hiểu khi mọi người đều
nghi ngờ về việc Trung Quốc có thể đáp ứng được tiêu chí thực hiện chủ quyền thực sự
một cách liên tục và hòa bình trong một khoảng thời gian dài từ sau năm 1947. Thứ hai,
các quốc gia trong khu vực đều không thừa nhận cái gọi là “các quyền lịch sử của Trung
Quốc”. Trái lại, họ đều đã đưa ra những quy định của mình về các vùng biển và cùng
nhau ký kết các hiệp định phân định các vùng biển chồng lấn cũng như các thỏa thuận
hợp tác khác trong biển Đông bất chấp sự phản đối của Trung Quốc... Đó là chưa nói đến
những tranh chấp về chủ quyền đối với các quần đảo trên biển Đông.
Đường 9 khúc đứt đoạn được Trung Quốc thể hiện trong sơ đồ đính kèm công hàm ngày
7.5.2009 cũng không thể mang lại cho Trung Quốc quyền chủ quyền và quyền tài phán
đối với vùng biển nằm phía trong đường này theo quy chế của Vùng đặc quyền về kinh tế
và thềm lục địa của Công ước Luật biển 1982. Vì bản chất tiến bộ của Công ước Luật
biển 1982 là sự công nhận và mở rộng quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển được
bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên gắn liền với lãnh thổ của mình. Một con đường không
rõ ràng nằm cách xa lục địa Trung Quốc hàng ngàn cây số liệu có thể đáp ứng quy định
của Công ước Luật biển 1982.
Trong một tài liệu nghiên cứu về các tranh chấp trên biển Đông, Brice M.Claget, một luật
sư người Mỹ đã nhận định: “Yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền “lịch sử” và quyền
đối với hầu hết biển Đông và/hoặc đối với đáy biển và lòng đất của nó là trái với sự phát
triển toàn diện của luật biển quốc tế hiện đại và không thể coi là một vấn đề luật pháp
nghiêm chỉnh” (“Competing Claims of Vietnam and China in the Vanguard Bank and
Blue Dragon areas of the SCS” Journal Oil and Gas Law & Taxation Review, vol. 13
issue 10 Oct, 1995 và vol. 13 issue 11 Nov. 1995).
Như vậy, xét theo luật pháp quốc tế hiện đại cũng như luật pháp quốc tế cổ điển thì yêu
sách đường đứt đoạn 9 khúc của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở khoa học, không
có giá trị pháp lý quốc tế và không ai có thể chấp nhận được.
Một việc làm không phù hợp với xu thế của khu vực
Người ta có thể hiểu được vì sao mà Trung Quốc trong nhiều năm đã in các bản đồ có thể
hiện đường đứt đoạn 9 khúc, nhưng lại không công bố chính thức yêu sách của mình trên
biển Đông theo con đường này. Ngoài những lý do đã phân tích ở trên thì có lẽ sự thận
trọng của Trung Quốc xuất phát từ sự cân nhắc đến tác động của việc đưa ra yêu sách này
sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hình ảnh về một đất nước Trung Quốc đối với các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới. Liệu hình ảnh mà nhân dân Trung Quốc đã dày công xây
dựng về một đất nước Trung Quốc yêu chuộng hòa bình, hữu nghị và hợp tác có còn
được nguyên vẹn trong con mắt của nhân dân các nước láng giềng sau khi Trung Quốc
chính thức đưa ra yêu sách đối với 80% diện tích của biển Đông? Liệu việc làm này sẽ
ảnh hưởng như thế nào đến sự đánh giá của các nước ASEAN đối với những chính sách
và việc làm phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về ứng xử trên biển Đông (DOC) trước
đó của Trung Quốc?
Với vị trí địa chính trị, cấu tạo tự nhiên và hoạt động kinh tế - xã hội liên kết giữa các
quốc gia, biển Đông là ngôi nhà chung của các quốc gia trong khu vực. Các nước
ASEAN và Trung Quốc đã có nhiều cố gắng để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển
hợp tác quốc tế trên biển Đông. Việc công khai đưa ra yêu sách về đường đứt đoạn vào
lúc này chỉ làm cho tình hình trên biển Đông thêm phức tạp, đi ngược lại xu thế và nỗ lực
của các nước trong khu vực cũng như cộng đồng quốc tế muốn tìm kiếm một giải pháp
ổn định lâu dài cho những tranh chấp biển Đông. Các vấn đề trên biển Đông cần được
các nước trong khu vực, trên tinh thần tôn trọng chủ quyền và lợi ích chính đáng của
nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế, tìm ra một giải pháp công bằng mà các bên có thể chấp
nhận được.
Quốc Pháp
Đường yêu sách phi lý của Trung Quốc
* Một yêu sách không có giá trị pháp lý quốc tế
*Một việc làm không phù hợp với xu thế của khu vực
Ngày 7.5 vừa qua, cùng với công hàm gửi Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc phản đối việc
Việt Nam nộp Báo cáo về Ranh giới ngoài thềm lục địa của mình cho Ủy ban Ranh giới
thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc theo quy định của Công ước Luật biển 1982, Trung
Quốc đã gửi kèm một sơ đồ trên đó thể hiện đường yêu sách 9 đoạn của mình trên biển
Đông. Theo lời văn công hàm thì “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với
các đảo ở biển nam Trung Hoa (tức biển Đông - TN) và các vùng nước kế cận, và có
quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển
và lòng đất đáy biển ở đó (xem sơ đồ kèm theo)”. Ngày 8.5.2009, phái đoàn thường trực
Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc đã có Công hàm số 86/HC-2009 gửi Tổng thư ký Liên
Hiệp Quốc bác bỏ công hàm và sơ đồ nói trên. Cùng ngày, người phát ngôn Bộ Ngoại
giao Việt Nam cũng đã trả lời phỏng vấn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và coi đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc thể hiện
trên sơ đồ là “không có giá trị vì không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn”.
Trong bài này tác giả sẽ không trình bày về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ đi sâu phân tích về đường yêu sách 9 đoạn
được Trung Quốc nêu ra trong sơ đồ kèm theo
công hàm nói trên.
Sự hình thành và tồn tại của một đường yêu
sách khó hiểu
Đường “lưỡi bò”, “chữ U” hay “đứt đoạn”... đều
là cách gọi khác nhau mà các học giả trên thế
giới dùng để chỉ yêu sách của Trung Quốc đối
với 80% diện tích của biển Đông, được vẽ sát
vào bờ của các quốc gia ven biển Đông như Việt
Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines.
Lễ chào cờ của chiến sĩ Trường Sa Đường yêu sách này ban đầu có 11 đoạn, do
ảnh: T.T
chính quyền Trung Quốc (Quốc dân đảng) vẽ ra
vào năm 1947 và sau đó được CHND Trung Hoa tiếp tục sử dụng nhưng có sửa đổi (bỏ
bớt 2 đoạn trong vịnh Bắc Bộ nên chỉ còn lại 9 đoạn).
Công hàm ngày 7.5.2009 có lẽ là văn bản đầu tiên trong hơn 60 năm qua, thể hiện quan
điểm chính thức của Trung Quốc về ý nghĩa pháp lý quốc tế của đường yêu sách 9 đoạn
và cũng là lần đầu tiên mà Trung Quốc chính thức công bố sơ đồ đường yêu sách này với
thế giới. Trước đó, mặc dù đường yêu sách này đã được thể hiện nhiều lần trên bản đồ
Trung Quốc, nhưng CHND Trung Hoa chưa bao giờ có một tuyên bố chính thức nào về ý
nghĩa pháp lý quốc tế cũng như quốc gia của đường đứt đoạn này. Thậm chí trong những
văn bản pháp lý quan trọng của CHND Trung Hoa về các vùng biển (như: các Tuyên bố
về Lãnh hải 1958, về Lãnh hải và vùng tiếp giáp 1992, về Đường cơ sở 1996 và về vùng
Đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998...) thì đường yêu sách này cũng không hề được
nhắc đến.
Sớm hơn CHND Trung Hoa một chút, năm 1993, trong bản “Giải thích chính sách biển
nam Trung Hoa” do Viện Hành pháp Đài Loan thông qua thì vùng nước nằm bên trong
đường đứt đoạn được coi như “vùng nước lịch sử” của Đài Loan. Như vậy, quan điểm
của Đài Loan về đường đứt đoạn khác với quan điểm của CHND Trung Hoa. Trong khi
Đài Loan coi vùng nước ở trong đường đứt đoạn mà mình yêu sách có quy chế nội thủy
(tức là đòi hỏi có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ) thì, theo công hàm ngày 7.5.2009,
CHND Trung Hoa lại phủ nhận việc Trung Quốc có chủ quyền đối với vùng nước này,
chỉ đòi hỏi “quyền chủ quyền và quyền tài phán” tức là đòi hỏi một vùng biển có quy chế
pháp lý tương tự với quy chế của vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa theo Công
ước Luật biển 1982.
Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên biển Đông
Trước khi Nhà nước Trung Quốc xác định quy chế pháp lý của con đường này, thì tại
nhiều hội thảo quốc tế (ví dụ như “Hội thảo về khống chế xung đột tiềm tàng ở biển
Đông” diễn ra hằng năm từ 1991 đến nay tại Indonesia) các học giả Trung Quốc lại có
những giải thích khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau, về giá trị pháp lý quốc tế của
đường đứt đoạn. Nhưng còn có một điều khác cũng rất quan trọng mà tất cả các học giả
và kể cả Nhà nước Trung Quốc cho đến nay không thể trả lời được là: vậy thì làm sao xác
định được tọa độ cũng như vị trí chính xác của từng đoạn cũng như của toàn bộ 9 đoạn
của đường yêu sách này. Chẳng hề có một văn bản nào (dù là chính thức hay không chính
thức) quy định hoặc giải thích về việc đó. Theo Phan Thạch Anh, một học giả Trung
Quốc có uy tín, thì điều này “để lại khả năng đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong
tương lai” (Pan Shiying, bài đăng trong tạp chí Economic Information & Agency, July
1996).
Có lẽ không cần bình luận gì thêm vì sao một yêu sách được cho là “đã có lịch sử hơn
nửa thế kỷ” mà lại không được các nước trong khu vực tính đến và không ai tôn trọng
trên thực tế. Đường đứt đoạn này không thể là yêu sách nghiêm túc của một quốc gia đối
với một vùng biển rộng lớn vì nó không có một nội dung pháp lý rõ ràng, thậm chí là
mâu thuẫn, và không thể xác định được vị trí của nó trên thực địa.
Một yêu sách không có giá trị pháp lý quốc tế
Lập luận đầu tiên và được sử dụng nhiều nhất của các học giả Trung Quốc khi giải thích
về đường đứt đoạn được vẽ trên bản đồ biển Đông là yêu sách này phải được xem xét
dưới góc độ của “luật pháp quốc tế đương đại” (tức là luật pháp quốc tế vào thời điểm mà
nó được vẽ ra), chứ không thể sử dụng Công ước Luật biển 1982 để xem xét giá trị pháp
lý của nó (“người cũ biện pháp cũ, người mới quy định mới”, câu của Trương Thiệu
Trung trong bài đăng trên báo mạng Nhân Dân (Trung Quốc) ngày 2.4.2009). Chúng ta
sẽ xem xét đường yêu sách của Trung Quốc theo cách này.
Vào thời điểm mà đường đứt đoạn được vẽ ra (1947) những quy định của Luật biển quốc
tế còn tồn tại dưới dạng những quy phạm tập quán, theo đó lãnh hải của quốc gia ven
biển chỉ có chiều rộng 3 hải lý tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất. Ngoài phạm vi lãnh
hải là biển cả hay còn gọi là vùng biển quốc tế, nơi mà mọi quốc gia đều có thể thực hiện
quyền tự do biển cả.
Cho đến năm 1958 các chính quyền khác nhau của Trung Quốc (triều đình nhà Thanh,
Cộng hòa Trung Hoa và cả CHND Trung Hoa) đều công nhận hoặc không công khai
phản đối chiều rộng của lãnh hải là 3 hải lý (xem Hungdah Chiu, “China and the question
of Territorial Sea” International Trade Law Journal, số 1975 - 6). Như vậy, ngay cả theo
luật pháp quốc tế đương đại thì một đường đòi hỏi không rõ ràng đối với một vùng biển
rộng lớn như vậy không thể nào được coi là hợp pháp. Tiến sĩ Djalal, một chuyên gia luật
biển nổi tiếng người Indonesia đã viết: “Không thể chấp nhận được rằng vào năm 1947,
khi luật quốc tế nói chung chỉ ghi nhận lãnh hải 3 hải lý, Trung Quốc lại có thể yêu sách
toàn bộ biển Đông” (Djatal, H.Shouthe China Sea Island Disputes, The Raffes Bulletin of
Zoology, Supplement No.8/2000).
Vậy đối với yêu sách về một đường xác định phạm vi “quyền chủ quyền và quyền tài
phán” trên biển Đông như công hàm ngày 7.5.2009 của Trung Quốc nêu ra thì sao? Câu
trả lời cũng sẽ là tương tự như trên. Vì vào thời điểm này các quốc gia ven biển không có
quyền mở rộng các quyền liên quan đến chủ quyền ra ngoài phạm vi lãnh hải của mình.
Cũng cần nhấn mạnh là Luật biển quốc tế thời kỳ này hoàn toàn không điều chỉnh “đáy
biển và lòng đất dưới đáy biển” ngoài phạm vi lãnh hải, vì vậy Trung Quốc càng không
thể đòi hỏi quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với một vùng biển rộng lớn nằm trong
đường đứt đoạn.
Lập luận thứ hai được các học giả Trung Quốc sử dụng để giải thích về đường đứt đoạn
là: do đường này được vẽ ra từ 1947, nên Trung Quốc có thể đòi hỏi đối với vùng biển
nằm trong đường này một “danh nghĩa lịch sử” nào đó hoặc, như yêu sách của chính
quyền Đài Loan, coi đây là “vùng nước lịch sử”. Theo Phan Thạch Anh cũng như hai học
giả Đài Loan Lý Tấn Minh và Lý Đức Hu (Li Jinming &?Li Dexia, The dotted line on
the Chinese map of the SCS, Ocean Development & International Law, 2003) thì do con
đường này đã tồn tại hơn nửa thế kỷ và không quốc gia nào phản đối nên đã tạo ra một
danh nghĩa lịch sử cho Trung Quốc.
Cần phải nhắc lại rằng, tại Hội nghị Luật biển của Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 các quốc gia
đã không nhất trí được việc đưa vào Công ước Luật biển 1982 những quy định cũng như
định nghĩa về vùng nước lịch sử. Tuy vậy, từ những tranh luận tại hội nghị, có thể rút ra
những tiêu chí để một vùng nước có thể được xem xét danh nghĩa lịch sử gồm: Yêu sách
phải công khai; quốc gia yêu sách phải thực hiện quyền lực nhà nước một cách hiệu quả,
liên tục và hòa bình trong một thời gian dài; yêu sách phải được các quốc gia liên quan
công nhận.
Dù rằng luật pháp cũng như thực tiễn quốc tế từ cổ chí kim chưa bao giờ công nhận
“danh nghĩa lịch sử” hoặc quy chế “vùng nước lịch sử” đối với vùng biển rộng lớn như
yêu sách của Trung Quốc, nhưng cứ thử xem xét một cách khách quan liệu Trung Quốc
có thể đáp ứng được những tiêu chí nêu trên hay không. Thứ nhất, rất dễ thấy là tất cả các
hoạt động hàng hải, dầu khí và nghề cá... của các quốc gia trong và ngoài khu vực biển
Đông đều không hề vấp phải bất kỳ sự ngăn cản nào từ phía Trung Quốc ít nhất là cho
mãi đến tận những năm 1990 của thế kỷ trước. Do vậy cũng là dễ hiểu khi mọi người đều
nghi ngờ về việc Trung Quốc có thể đáp ứng được tiêu chí thực hiện chủ quyền thực sự
một cách liên tục và hòa bình trong một khoảng thời gian dài từ sau năm 1947. Thứ hai,
các quốc gia trong khu vực đều không thừa nhận cái gọi là “các quyền lịch sử của Trung
Quốc”. Trái lại, họ đều đã đưa ra những quy định của mình về các vùng biển và cùng
nhau ký kết các hiệp định phân định các vùng biển chồng lấn cũng như các thỏa thuận
hợp tác khác trong biển Đông bất chấp sự phản đối của Trung Quốc... Đó là chưa nói đến
những tranh chấp về chủ quyền đối với các quần đảo trên biển Đông.
Đường 9 khúc đứt đoạn được Trung Quốc thể hiện trong sơ đồ đính kèm công hàm ngày
7.5.2009 cũng không thể mang lại cho Trung Quốc quyền chủ quyền và quyền tài phán
đối với vùng biển nằm phía trong đường này theo quy chế của Vùng đặc quyền về kinh tế
và thềm lục địa của Công ước Luật biển 1982. Vì bản chất tiến bộ của Công ước Luật
biển 1982 là sự công nhận và mở rộng quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển được
bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên gắn liền với lãnh thổ của mình. Một con đường không
rõ ràng nằm cách xa lục địa Trung Quốc hàng ngàn cây số liệu có thể đáp ứng quy định
của Công ước Luật biển 1982.
Trong một tài liệu nghiên cứu về các tranh chấp trên biển Đông, Brice M.Claget, một luật
sư người Mỹ đã nhận định: “Yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền “lịch sử” và quyền
đối với hầu hết biển Đông và/hoặc đối với đáy biển và lòng đất của nó là trái với sự phát
triển toàn diện của luật biển quốc tế hiện đại và không thể coi là một vấn đề luật pháp
nghiêm chỉnh” (“Competing Claims of Vietnam and China in the Vanguard Bank and
Blue Dragon areas of the SCS” Journal Oil and Gas Law & Taxation Review, vol. 13
issue 10 Oct, 1995 và vol. 13 issue 11 Nov. 1995).
Như vậy, xét theo luật pháp quốc tế hiện đại cũng như luật pháp quốc tế cổ điển thì yêu
sách đường đứt đoạn 9 khúc của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở khoa học, không
có giá trị pháp lý quốc tế và không ai có thể chấp nhận được.
Một việc làm không phù hợp với xu thế của khu vực
Người ta có thể hiểu được vì sao mà Trung Quốc trong nhiều năm đã in các bản đồ có thể
hiện đường đứt đoạn 9 khúc, nhưng lại không công bố chính thức yêu sách của mình trên
biển Đông theo con đường này. Ngoài những lý do đã phân tích ở trên thì có lẽ sự thận
trọng của Trung Quốc xuất phát từ sự cân nhắc đến tác động của việc đưa ra yêu sách này
sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hình ảnh về một đất nước Trung Quốc đối với các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới. Liệu hình ảnh mà nhân dân Trung Quốc đã dày công xây
dựng về một đất nước Trung Quốc yêu chuộng hòa bình, hữu nghị và hợp tác có còn
được nguyên vẹn trong con mắt của nhân dân các nước láng giềng sau khi Trung Quốc
chính thức đưa ra yêu sách đối với 80% diện tích của biển Đông? Liệu việc làm này sẽ
ảnh hưởng như thế nào đến sự đánh giá của các nước ASEAN đối với những chính sách
và việc làm phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về ứng xử trên biển Đông (DOC) trước
đó của Trung Quốc?
Với vị trí địa chính trị, cấu tạo tự nhiên và hoạt động kinh tế - xã hội liên kết giữa các
quốc gia, biển Đông là ngôi nhà chung của các quốc gia trong khu vực. Các nước
ASEAN và Trung Quốc đã có nhiều cố gắng để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển
hợp tác quốc tế trên biển Đông. Việc công khai đưa ra yêu sách về đường đứt đoạn vào
lúc này chỉ làm cho tình hình trên biển Đông thêm phức tạp, đi ngược lại xu thế và nỗ lực
của các nước trong khu vực cũng như cộng đồng quốc tế muốn tìm kiếm một giải pháp
ổn định lâu dài cho những tranh chấp biển Đông. Các vấn đề trên biển Đông cần được
các nước trong khu vực, trên tinh thần tôn trọng chủ quyền và lợi ích chính đáng của
nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế, tìm ra một giải pháp công bằng mà các bên có thể chấp
nhận được.
Quốc Pháp
 









Các ý kiến mới nhất