Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Sang
Ngày gửi: 16h:28' 15-05-2008
Dung lượng: 180.5 KB
Số lượt tải: 348
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Sang
Ngày gửi: 16h:28' 15-05-2008
Dung lượng: 180.5 KB
Số lượt tải: 348
Số lượt thích:
0 người
LỜI NÓI ĐẦU
Lý luận và thực tiễn chứng minh rằng, không xây dựng và phát triển nền dân chủ, hệ thống chính trị trong đó có nhà nước xã hội chủ nghĩa thì không thể thực hiện quyền lực, quyền làm chủ, quyền dân chủ và mọi lợi ích của nhân dân lao động trên thực tế các lĩnh vực của đời sống xã hội trong xã hội xã hội chủ nghĩa.
Quá trình phát triển của lịch sử chính trị nhân loại theo xu hướng tiến bộ chính là quá trình phát triển của nền dân chủ. Xã hội càng phát triển thì các nhu cầu về dân chủ và quyền con người càng trở thành đòi hỏi bức bách. Nhìn từ phương diện đó, việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là tiền đề, điều kiện quan trọng, góp phần giải quyết hành loạt những vấn dề chính trị - xã hội của đất nước.
Như vậy, dân chủ là gì? Dân chủ thường được tiếp cận ở những khía cạnh nào? Nguồn gốc của nó ra sao? Dân chủ xã hội chủ nghĩa là như thế nào? Tại sao phải phát huy quyền làm củ của nhân dân? Những biện pháp để phát huy quyền làm chủ của nhân dân như thế nao? Những vấn đề đó sẽ được chúng em trình bày trong bài tiểu luận này. Để có thể hiểu rõ thêm về vấn đề dân chủ, làm sao để phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN
XÂY DỰNG NỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA:
Dân chủ là gì?
Các quan niệm về dân chủ:
Khái lược lịch sử của vấn đề dân chủ:
Từ trước công nguyên, cách đây hàng ngàn năm, con người đã biết hợp lục với nhau để sản xuất, để chống thiên tia, chống thú dữ và đã tự tổ chức ra những hoạt động chung mang tính xã hội, trong đó có việc cử ra những người đứng đầu các cộng người để thực thi những quy định chung và phế bỏ những người đó nếu họ không thực hiện những quy định chung theo ý nguyện, lợi ích chung của cộng đồng. Từ thời Hy Lạp cổ đại, khi có ngôn ngữ chữ viết,con người đã biết diễn đạt nội dung dân chủ: trong xã hội nguyên thủy, việc “cử ra và phế bỏ người đứng đầu” là do quyền lực của dân.
Khi xã hội có chế độ tư hữu, có giai cấp – chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp chủ nô đã lập ra nhà nước, lấy tên là nhà nước dân chủ - tức nhà nước dân chủ chủ nô thống trị đa số đại lao động là giai cấp nô lệ. Khi đó nhà nước chủ nô mới chính thức sử dụng từ “dân chủ”, có nghĩa là nhà nước dân chủ chủ nô có “quyền lực của dân”. Nhưng “dân” ở đây là “dân” theo quy định của pháp luậtda giai cấp chủ nô quy định gồm giai cấp chủ nô, tăng lữ, thương gia, một số trí thức và người tự do, còn đại số dân trở thành nô lệ thì không được coi là dân. Về thực chất, đây là giai cấp tư hữu áp bức bóc lột đầu tiên lập ra nhà nước đã dùng pháp luật và nhà nước của nó lợi dụng khái niệm dân chủ để chiếm mất quyền lực thật sự của nhân dân lao động. Sau hàng ngàn năm nay, các giai cấp tư hữu, áp bức bóc lột xã hội (như phong kiến, tư sản) vẫn là những giai cấp chiếm mất quyền lực của nhân dân lao động. Trong chế độ dân chủ tư sản, dù chế độ này có nhiều thành tựu to lớn (chủ yếu là do nhân dân lao động làm ra…), dù chế độ đó có mang tên chế độ dân chủ nhưng, nhà nước dân chủ đó, nhưng thật chất vẫn không phải là nhà nước thực hiện quyền lực thật sự của nhân dân, mà chỉ là nhà nước của giai cấp tư sản.
Chỉ đến khi Cách Mạng Xã Hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, mới bắt đầu một thời đại mới, khi đó nhân dân lao động đã giành lại được chính quyền , tư liệu sản xuất … giành lại quyền lực thật sự của dân- tức là dân chủ thật sự và lập ra Nhà Nước dân chủ xã hội chủ nghĩa, thiết lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để thực hiện quyền lực đó của nhân dân.
Tóm lại, nhân loại từ lâu đời đã có nhu cầu về dân chủ và quan niệm đó là việc thực thi quyền lực của dân (Đây là một khái niệm lịch sử, dân là những ai, còn do bản chất của chế độ xã hội quy dịnh, nhất là từ khi xã hội phân chia giai cấp, thì dân còn do bản chất thống trị xã hội quy định cụ thể trong từng xã hội nhất định).
Quan niệm của chủ nghĩa Mac_ LêNin về dân chủ:
Thứ nhất, chủ nghĩa Mác- LêNin kế thừa những nhân tố hợp lý những hoạt động thực tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ, đặc biệt là việc tán tành cho rằng: dân chủ là một nhu cầu khách quan của nhân dân lao động; dân chủ là quyền lực của nhân dân (hay dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân)
Thứ hai, khi xã hội có giai cấp và nhà nước – tức là một chế độ dân chủ thể hiện chủ yếu qua nhà nước thì khi đó không có “dân chủ chung chung, phi giai cấp, siêu giai cấp”, “dân chủ thuần túy”.Trái lại, mỗi vchees độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất giai cấp thống trị xã hội. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ các kiểu dân chủ: chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ tư sản, chế độ dân chủ vô sản (hay chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa). Riêng chế độ phong kiến là chế độ quân chủ, không phải là chế độ dân chủ, nhưng những nhu cầu dân chủ, những biểu hiện dân chủ trong nhân dân, trong xã hội , thậm chí ngay cả trong một số triều đình phong kiến…của xã hội phong kiến vẫn có. Do đó từ khi có chế độ dân chủ thì thì dân chủ luôn với tư cách một phạm trù lịch sử, phạm trù chính trị.
Thứ ba, từ khi có nhà nước dân chủ, thì dân chủ còn với ý nghĩa là một hình thức nhà nước, trong đó có chế độ bầu cử, bãi miễn các hành viên nhà nước, có quản lý xã hội theo pháp luật nhà nước và thừa nhận ở nhà nước đó “ quyền lực thuộc về nhân dân” ( còn dân là những ai thì do bản chất giai cấp thống trị xã hội quy định), gắn liền với một hệ thônhs chuyên chính của giai cấp thống trị xã hội.
Thứ tư, với một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng, đều do giai cấp thống trị cầm quyền chi phối tất cả các lĩnh vực của toàn xã hội, do vậy tính giai cấp thống trị cũng gắn liền với và chi phối tính dân tộc, tính chất của chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…ở mỗi quốc gia dân tộc cụ thể.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Dân chủ là dân làm chủ, dân làm chủ. Năm 1949, trong báo cáo có tên “Dân vận”, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…
Chính quyền từ xã đến chính Phủ trung ương đều do dân cử ra…
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Dân chủ thường được tiếp cận ở những khía cạnh:
a. Dân chủ với tính cách là một khái niệm chính trị mang tính lịch sử:
Dân chủ với tính cách là một phạm trù khoa học, một khái niệm chính trị, được nẩy sinh và hình thành trong mối quan hệ đối lập với áp bức, chuyên chế, độc tài, độc đoán chuyên quyền. Vì là một khái niệm mang tính lịch sử, dân chủ không xuất hiện tức khắc và cũng không tồn tại bất biến. Nó được phát triển trong tiến trình lịch sử gắn liền với tiến bộ xã hội với đấu tranh để xây dựng nền văn minh.
Dân chủ là một nhà nước chuyên chính chính trị của giai cấp. Dân chủ với tư cách là chế độ Nhà Nước. Thực tế trong các xã hội có giai cấp, giai cấp bóc lột cầm quyền thì dân chủ ban đầu “là nó” rồi đến “không phải là nó”. Sự diễn biến nói trên không phải ngẫu nhiên, mà theo tính tất yếu lịch sử là giai cấp nào làm chủ tư liệu sản xuất thì giai cấp đó cũng nắm luôn quyền lực chính trị.
b. Dân chủ alf kết quả của đấu tranh giai cấp gay gắt giữa nhân dân lao động và giai cấp bóc lột nắm tư liệu sản xuất.
Dân chủ đạt được trong đời sống cụ thể là kết quả của hai lực ngược chiều, một mặt là sản phẩm của cuộc đấu tranh của đa số nhân dân lao động chống quyền lực Nhà Nước của giai cấp bóc lột buộc phải thích nghi trong giới hạn lợi ích của nó, nếu không muốn đẩy xung đột đến đỗ vỡ tất cả. Do vậy, dân chủ không phải chỉ đơn thuần là sản phẩm của quyền lực, lợi ích một phía giai cấp bóc lột. Cụ thể chúng ta có thể thấy trong xã hội tư bản:
+ Giai cấp tư sản dù có phát triển tiến bộ thế nào thì cũng là cơ chế bảo vệ lợi ích và quyền lực của giai cấp tư sản, chứ không phải của đa số nhân dân.
+ Cuộc đấu tranh của nhân dân quan nhiều thế kỉ tronh xã hội tư bản đã làm cho nội dung, cơ chế dân chủ ở đây không chỉ đơn thuần do ý muốn thuần túy của giai cấp tư sản.
c. Dân chủ còn phản ánh quan hệ giữa các công dân theo nguyên tắc bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật.
+ Pháp luật là một khái niệm(xét về bản chất) gắn liền với dân chủ. Không thẻ có dân chủ mà lại không có pháp luật, một nước có dân chủ cũng là một nước có pháp luậ, pháp chế; thiếu pháp luật, pháp chế thì không thể có dân chủ đầy đủ. Quyền dân chủ được khẳng định trong hệ thống pháp luật.
+ Dân chủ còn đánh dấu những mức độ khác nhau trong qua trình giải phóng con người và tiến bộ xã hội. Vì dân chủ không chỉ được tạo ra từ phía quyền lực, nó còn được sản sinh ra từ: tiến bộ của lượng sản xuất và cơ cấu sản xuất, tiến bộ khoa học công nghệ, tiến bộ sủa quản lí kinh tế và quản lí xã hội, tiến bộ của thông tin và giao lưu văn hóa, tiến bộ của cơ cấu xã hội – giai cấp...
d. Dân chủ còn là nguyên tắc và phương thức hoạt động của những tổ chức chính trị - xã hội nhất định trong lịch sử.
Đó là vấn đề lãnh đạo và tổ chức xã hội. Nội dung này được đặt ra trong trong lịch sử xã hội loài người từ Đông sang Tây hàng ngàn năm trước – lãnh đạo và tổ chức được giải quyết bằnd hai cách:
+ Một là: Dùng bạo lực để cai trị, quản lí xã hội.
+ Hai là: Dựa vào công dân.
Tóm lại, từ những quan niệm và các cách tiếp nhận khác nhau có thể khái quát như sau: Dân chủ là một phạm trù của chính trị học, dùng để chỉ một chế độ xã hội mà ở đó toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân.
Nguồn gốc của dân chủ:
- Về nhận thức: Dân chủ chỉ có thể hình thành khi con người nhận thức được các mặt đối lập. Vì dân chủ vừa là kết quả của quá trình phát triển tư duy, quá trình nhận thức, vừa là kết quả của cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống mọi ách thống trị độc tài , chuyên chế trong lịch sử. Mặt khác thành tựu của dân chủ còn gắn liền với thàn tựu khoa học, với đấu tranh cho tiến bộ xã hội. Do đó, trình độ dân chủ, quy mô dân chủ, nội dung và hình thức dân chủ… phụ thuộc chặt chẽ vào kết quả của nhậ thức, của đấu tranh.
- Dân chủ với tư cách là quyền lực: nội dung – tính chất dân chủ về thực chất phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào, nó bảo vệ lợi ích của giai cấp nào. Đó là quan hệ có tính quy luật khách quan cảu đời sống xã hội, chúng ta không thể
Lý luận và thực tiễn chứng minh rằng, không xây dựng và phát triển nền dân chủ, hệ thống chính trị trong đó có nhà nước xã hội chủ nghĩa thì không thể thực hiện quyền lực, quyền làm chủ, quyền dân chủ và mọi lợi ích của nhân dân lao động trên thực tế các lĩnh vực của đời sống xã hội trong xã hội xã hội chủ nghĩa.
Quá trình phát triển của lịch sử chính trị nhân loại theo xu hướng tiến bộ chính là quá trình phát triển của nền dân chủ. Xã hội càng phát triển thì các nhu cầu về dân chủ và quyền con người càng trở thành đòi hỏi bức bách. Nhìn từ phương diện đó, việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là tiền đề, điều kiện quan trọng, góp phần giải quyết hành loạt những vấn dề chính trị - xã hội của đất nước.
Như vậy, dân chủ là gì? Dân chủ thường được tiếp cận ở những khía cạnh nào? Nguồn gốc của nó ra sao? Dân chủ xã hội chủ nghĩa là như thế nào? Tại sao phải phát huy quyền làm củ của nhân dân? Những biện pháp để phát huy quyền làm chủ của nhân dân như thế nao? Những vấn đề đó sẽ được chúng em trình bày trong bài tiểu luận này. Để có thể hiểu rõ thêm về vấn đề dân chủ, làm sao để phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN
XÂY DỰNG NỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA:
Dân chủ là gì?
Các quan niệm về dân chủ:
Khái lược lịch sử của vấn đề dân chủ:
Từ trước công nguyên, cách đây hàng ngàn năm, con người đã biết hợp lục với nhau để sản xuất, để chống thiên tia, chống thú dữ và đã tự tổ chức ra những hoạt động chung mang tính xã hội, trong đó có việc cử ra những người đứng đầu các cộng người để thực thi những quy định chung và phế bỏ những người đó nếu họ không thực hiện những quy định chung theo ý nguyện, lợi ích chung của cộng đồng. Từ thời Hy Lạp cổ đại, khi có ngôn ngữ chữ viết,con người đã biết diễn đạt nội dung dân chủ: trong xã hội nguyên thủy, việc “cử ra và phế bỏ người đứng đầu” là do quyền lực của dân.
Khi xã hội có chế độ tư hữu, có giai cấp – chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp chủ nô đã lập ra nhà nước, lấy tên là nhà nước dân chủ - tức nhà nước dân chủ chủ nô thống trị đa số đại lao động là giai cấp nô lệ. Khi đó nhà nước chủ nô mới chính thức sử dụng từ “dân chủ”, có nghĩa là nhà nước dân chủ chủ nô có “quyền lực của dân”. Nhưng “dân” ở đây là “dân” theo quy định của pháp luậtda giai cấp chủ nô quy định gồm giai cấp chủ nô, tăng lữ, thương gia, một số trí thức và người tự do, còn đại số dân trở thành nô lệ thì không được coi là dân. Về thực chất, đây là giai cấp tư hữu áp bức bóc lột đầu tiên lập ra nhà nước đã dùng pháp luật và nhà nước của nó lợi dụng khái niệm dân chủ để chiếm mất quyền lực thật sự của nhân dân lao động. Sau hàng ngàn năm nay, các giai cấp tư hữu, áp bức bóc lột xã hội (như phong kiến, tư sản) vẫn là những giai cấp chiếm mất quyền lực của nhân dân lao động. Trong chế độ dân chủ tư sản, dù chế độ này có nhiều thành tựu to lớn (chủ yếu là do nhân dân lao động làm ra…), dù chế độ đó có mang tên chế độ dân chủ nhưng, nhà nước dân chủ đó, nhưng thật chất vẫn không phải là nhà nước thực hiện quyền lực thật sự của nhân dân, mà chỉ là nhà nước của giai cấp tư sản.
Chỉ đến khi Cách Mạng Xã Hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, mới bắt đầu một thời đại mới, khi đó nhân dân lao động đã giành lại được chính quyền , tư liệu sản xuất … giành lại quyền lực thật sự của dân- tức là dân chủ thật sự và lập ra Nhà Nước dân chủ xã hội chủ nghĩa, thiết lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để thực hiện quyền lực đó của nhân dân.
Tóm lại, nhân loại từ lâu đời đã có nhu cầu về dân chủ và quan niệm đó là việc thực thi quyền lực của dân (Đây là một khái niệm lịch sử, dân là những ai, còn do bản chất của chế độ xã hội quy dịnh, nhất là từ khi xã hội phân chia giai cấp, thì dân còn do bản chất thống trị xã hội quy định cụ thể trong từng xã hội nhất định).
Quan niệm của chủ nghĩa Mac_ LêNin về dân chủ:
Thứ nhất, chủ nghĩa Mác- LêNin kế thừa những nhân tố hợp lý những hoạt động thực tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ, đặc biệt là việc tán tành cho rằng: dân chủ là một nhu cầu khách quan của nhân dân lao động; dân chủ là quyền lực của nhân dân (hay dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân)
Thứ hai, khi xã hội có giai cấp và nhà nước – tức là một chế độ dân chủ thể hiện chủ yếu qua nhà nước thì khi đó không có “dân chủ chung chung, phi giai cấp, siêu giai cấp”, “dân chủ thuần túy”.Trái lại, mỗi vchees độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất giai cấp thống trị xã hội. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ các kiểu dân chủ: chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ tư sản, chế độ dân chủ vô sản (hay chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa). Riêng chế độ phong kiến là chế độ quân chủ, không phải là chế độ dân chủ, nhưng những nhu cầu dân chủ, những biểu hiện dân chủ trong nhân dân, trong xã hội , thậm chí ngay cả trong một số triều đình phong kiến…của xã hội phong kiến vẫn có. Do đó từ khi có chế độ dân chủ thì thì dân chủ luôn với tư cách một phạm trù lịch sử, phạm trù chính trị.
Thứ ba, từ khi có nhà nước dân chủ, thì dân chủ còn với ý nghĩa là một hình thức nhà nước, trong đó có chế độ bầu cử, bãi miễn các hành viên nhà nước, có quản lý xã hội theo pháp luật nhà nước và thừa nhận ở nhà nước đó “ quyền lực thuộc về nhân dân” ( còn dân là những ai thì do bản chất giai cấp thống trị xã hội quy định), gắn liền với một hệ thônhs chuyên chính của giai cấp thống trị xã hội.
Thứ tư, với một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng, đều do giai cấp thống trị cầm quyền chi phối tất cả các lĩnh vực của toàn xã hội, do vậy tính giai cấp thống trị cũng gắn liền với và chi phối tính dân tộc, tính chất của chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…ở mỗi quốc gia dân tộc cụ thể.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Dân chủ là dân làm chủ, dân làm chủ. Năm 1949, trong báo cáo có tên “Dân vận”, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…
Chính quyền từ xã đến chính Phủ trung ương đều do dân cử ra…
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Dân chủ thường được tiếp cận ở những khía cạnh:
a. Dân chủ với tính cách là một khái niệm chính trị mang tính lịch sử:
Dân chủ với tính cách là một phạm trù khoa học, một khái niệm chính trị, được nẩy sinh và hình thành trong mối quan hệ đối lập với áp bức, chuyên chế, độc tài, độc đoán chuyên quyền. Vì là một khái niệm mang tính lịch sử, dân chủ không xuất hiện tức khắc và cũng không tồn tại bất biến. Nó được phát triển trong tiến trình lịch sử gắn liền với tiến bộ xã hội với đấu tranh để xây dựng nền văn minh.
Dân chủ là một nhà nước chuyên chính chính trị của giai cấp. Dân chủ với tư cách là chế độ Nhà Nước. Thực tế trong các xã hội có giai cấp, giai cấp bóc lột cầm quyền thì dân chủ ban đầu “là nó” rồi đến “không phải là nó”. Sự diễn biến nói trên không phải ngẫu nhiên, mà theo tính tất yếu lịch sử là giai cấp nào làm chủ tư liệu sản xuất thì giai cấp đó cũng nắm luôn quyền lực chính trị.
b. Dân chủ alf kết quả của đấu tranh giai cấp gay gắt giữa nhân dân lao động và giai cấp bóc lột nắm tư liệu sản xuất.
Dân chủ đạt được trong đời sống cụ thể là kết quả của hai lực ngược chiều, một mặt là sản phẩm của cuộc đấu tranh của đa số nhân dân lao động chống quyền lực Nhà Nước của giai cấp bóc lột buộc phải thích nghi trong giới hạn lợi ích của nó, nếu không muốn đẩy xung đột đến đỗ vỡ tất cả. Do vậy, dân chủ không phải chỉ đơn thuần là sản phẩm của quyền lực, lợi ích một phía giai cấp bóc lột. Cụ thể chúng ta có thể thấy trong xã hội tư bản:
+ Giai cấp tư sản dù có phát triển tiến bộ thế nào thì cũng là cơ chế bảo vệ lợi ích và quyền lực của giai cấp tư sản, chứ không phải của đa số nhân dân.
+ Cuộc đấu tranh của nhân dân quan nhiều thế kỉ tronh xã hội tư bản đã làm cho nội dung, cơ chế dân chủ ở đây không chỉ đơn thuần do ý muốn thuần túy của giai cấp tư sản.
c. Dân chủ còn phản ánh quan hệ giữa các công dân theo nguyên tắc bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật.
+ Pháp luật là một khái niệm(xét về bản chất) gắn liền với dân chủ. Không thẻ có dân chủ mà lại không có pháp luật, một nước có dân chủ cũng là một nước có pháp luậ, pháp chế; thiếu pháp luật, pháp chế thì không thể có dân chủ đầy đủ. Quyền dân chủ được khẳng định trong hệ thống pháp luật.
+ Dân chủ còn đánh dấu những mức độ khác nhau trong qua trình giải phóng con người và tiến bộ xã hội. Vì dân chủ không chỉ được tạo ra từ phía quyền lực, nó còn được sản sinh ra từ: tiến bộ của lượng sản xuất và cơ cấu sản xuất, tiến bộ khoa học công nghệ, tiến bộ sủa quản lí kinh tế và quản lí xã hội, tiến bộ của thông tin và giao lưu văn hóa, tiến bộ của cơ cấu xã hội – giai cấp...
d. Dân chủ còn là nguyên tắc và phương thức hoạt động của những tổ chức chính trị - xã hội nhất định trong lịch sử.
Đó là vấn đề lãnh đạo và tổ chức xã hội. Nội dung này được đặt ra trong trong lịch sử xã hội loài người từ Đông sang Tây hàng ngàn năm trước – lãnh đạo và tổ chức được giải quyết bằnd hai cách:
+ Một là: Dùng bạo lực để cai trị, quản lí xã hội.
+ Hai là: Dựa vào công dân.
Tóm lại, từ những quan niệm và các cách tiếp nhận khác nhau có thể khái quát như sau: Dân chủ là một phạm trù của chính trị học, dùng để chỉ một chế độ xã hội mà ở đó toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân.
Nguồn gốc của dân chủ:
- Về nhận thức: Dân chủ chỉ có thể hình thành khi con người nhận thức được các mặt đối lập. Vì dân chủ vừa là kết quả của quá trình phát triển tư duy, quá trình nhận thức, vừa là kết quả của cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống mọi ách thống trị độc tài , chuyên chế trong lịch sử. Mặt khác thành tựu của dân chủ còn gắn liền với thàn tựu khoa học, với đấu tranh cho tiến bộ xã hội. Do đó, trình độ dân chủ, quy mô dân chủ, nội dung và hình thức dân chủ… phụ thuộc chặt chẽ vào kết quả của nhậ thức, của đấu tranh.
- Dân chủ với tư cách là quyền lực: nội dung – tính chất dân chủ về thực chất phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào, nó bảo vệ lợi ích của giai cấp nào. Đó là quan hệ có tính quy luật khách quan cảu đời sống xã hội, chúng ta không thể








kemn wa !