Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

vui choi giai tri

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thành
Ngày gửi: 22h:28' 23-04-2008
Dung lượng: 131.5 KB
Số lượt tải: 11
Số lượt thích: 0 người
I. Lý do chọn đề tài
- Do đặc điểm tình hình trường THCS Hải Thanh là một trường tại địa bàn dân cư chủ yếu là đi nghề đánh bắt thuỷ hải sản, lao động tự do. Bởi vậy điều kiện học tập của các em còn hạn chế. Phần đa các bậc phụ huynh còn chưa thật sự đầu tư quan tâm đến quá trình học tập của con em mình. Vì vậy thời gian học tập (tự học) của các em còn ít. Nên ngoài những tiết học trên lớp, tiết học luyện tập trên lớp là quan trọng đối với các em.
1. ý nghĩa thực tiễn:
- Để giúp các em hiểu sâu hơn và vận dụng tốt hơn các kiến thức lý thuyết vào việc giải các bài tập phù hợp với trình độ của bản thân.
- Bồi dưỡng cho các em những bài tập cơ bản và tiêu biểu của môn hình học 7. Trang bị cho các em về kiến thức, kỹ năng lẫn phương pháp suy luận, lập luận để vẽ hình, ghi giả thiết, kết luận và chứng minh theo hệ thống các bài tập có chiều hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Nhằm giúp các em không chỉ giải từng bài mà còn biết cách giải nhiều loại bài tập trong các bài toán hình học 7 vốn đa dạng về thể loại, phong phú về cách giải. Đồng thời luôn gây cho các em hứng thú học môn hình
- Tôi hi vọng rằng trong giảng dạy một tiết luyện tập sẽ mang đến cho các em nhiều điều bổ ích phù hợp với học sinh lớp 7 tại địa bàn này.
- Để đảm bảo tính chặt chẽ chính xác toán học đồng thời lớp 7 hình học là nền móng cơ bản cho môn hình học phẳng mà tôi chọn đề tài này
II. ý nghĩa của đề tài
1. Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục toán học: cụ thể là môn hình học 7. Mà năm học 2005-2006 theo mục tiêu của trường và cấp học đề ra.
- Nhằm giải quyết những vần đề bức xúc của chất lượng giáo dục môn hình học 7
2. Điều kiện thực hiện đề tài:
a, Thận lợi:
- Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn toán 7, nên tôi nắm chắc tình hình năng lực từng học sinh thông qua nội dung quan trọng và chủ yếu của chương trình hình học 7. Để cải cách phương pháp giảng dạy phù hợp nội dung kiến thức bài dạy.
- Học sinh phần đa là học sinh đi học đầy đủ, ngoan, hào hứng xây dựng bài, chú ý tập trung học tập nên tôi dễ dàng đi sâu, đi sát vào từng học sinh, để tìm hiểu năng lực điều kiện học tập nhằm phát huy tính chủ đạo học tập, tính cần cù tích cực và năng động sáng tạo trong mỗi học sinh
- Trường: BGH quan tâm chăm sóc đến quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh.
b, Khó khăn:
- Tài liệu tham khảo của giáo viên và học sinh còn thiếu.
- Học sinh lớp 7 chủ yếu là con em nhà nông, lao động tự do, buôn bán, gia đình thuộc diện nghèo khó do vậy cuộc sống vất vả. Ngoài việc học tập trên lớp ra về nhà các em phải tham ra lao động giúp đỡ gia đình nên thời gian tự học của các em còn quá ít so với chương trình môn học hiện tại.
3. Những biện pháp giáo dục: (hay phương pháp giảng dạy)
- Giáo viên là người truyền thụ kiến thức cho học sinh mà luôn luôn là người đóng vai trò tổ chức cho học sinh tự lực tìm kiếm tiếp cận kiến thức mới, thông qua hoạt động tích cực của học sinh.
- Thông qua các câu hỏi và bài tập mà giáo viên lựa chọn học sinh tự lực tìm hiểu kiến thức.
Học sinh tự thực hành rèn luyện các kỹ năng
Cụ thể: Tiết 27 hình học 7 (H1)







a, Trường hợp M nằm ngoài K và E
* Xét ( BKM và ( CKM có
BM = CM (gt)
 => (BKM = ( CKM
KM cạnh chung (c.g.c)
* Xét ( BEM và ( CEM có
BM = CM (gt)
 => (BEM = ( CEM
EM cạnh chung (c.g.c)
* Xét ( BKE và ( CKE có
(BKM = ( CKM (c/m trên)
=> BK = CK (2 cạnh tương ứng) (1)
(BEM = ( CEM (c/m trên)
=> BE = CE (2 cạnh tương ứng) (2)
KE là cạnh chung (3)
Từ (1), (2), (3) => ( BKE = ( CKE
(c.c.c)
GV: Treo bảng phụ đề bài
BT: Cho đoạn thẳng BC và đường trung trực của nó, d giao với BC tại M.
Trên d lấy 2 điểm K và E khác điểm M. Nối E với B; E với C, K với B, K với C
Chỉ ra các tam giác bằng nhau trên hình
HS: Đọc đề
H? Đề cho gì? yêu cầu gì?
H? Có mấy trường hợp xảy ra về vị trí của 2điểm K và E so với điểm M?
=> Hãy vẽ hình.
H? Từ hình a hãy chỉ ra các tam giác bằng nhau? Vì sao
H? Từ hình b hãy chỉ ra (tương tự hình a)
HS: Lên làm bài





Lớp nhận xét


(Khi phát vấn học sinh tìm hiểu trả lời => C/M. Trong bài này giáo viên chỉ là người hướng dẫn)
- Các cách khắc phục học sinh yếu kém: 3 cách
+ Thêm dữ kiện hoặc nhiều câu hỏi khai thác học sinh cách vẽ hình, ghi giả thiết, kết luận và chứng minh.
+ Thay đổi việc tìm một cách chứng minh bằng nhiều cách chứng minh như:
C/M bằng lập luận suy luận (từ gt, điều đã biết để đi đến cách C/M)
Hay C/M bằng phản chứng. (đưa một giả sử nào đó rồi c/m cho điều đó là vô lý => điều cần c/m)
+ Luôn tích cực hoá hoạt động của học sinh. Trước mắt làm cho học sinh suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn.
Tích cực hoá hoạt động của học sinh thể hiện qua 4 mức độ (bắt chước những bài mẫu) tái hiện, tìm tòi, sáng tạo.
Tập trung sâu và khả năng tự học, tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề của học sinh.




( AOB (OA = OB)
GT 
KL a, DA = DB
b, OD ( AB
Chứng minh: a, c/mDA = DB
HD:
OA = OB (gt)
 (gt) = (AOD=( BOD(?)
OD cạnh chung 
? = DA = DB ?
b, c/m OD ( AB
HD:
(AOD=( BOD
? = 
mà (vì sao)
? = 
hay OD ( AB
HS: Đọc đề
H? Đề cho giáo viên? yêu cầu gì?
Hãy vẽ hình? ghi gt, kl?
HS: Lên làm?
Lớp làm vào vở ?
Lớp nhận xét?
H? Hai cạnh DA và DB thuộc hai tam giác nào?
H? Để c/m 2 cạnh DA = DB ta cần c/m gì?
H? Để c/m ( AOD = ( BOD ta căn cứ vào điều gì? vì sao?
H? Để c/m AB ( OD ta c/m như thế nào? vì sao?


- Giáo viên đóng vai trò quan sát và chỉ đạo hướng dẫn, nhận xét. Giải quyết những vấn đề mà học sinh còn mắc phải sai lầm
- Giáo viên luôn coi trọng các thao tác cần thiết của học sinh để có được nhận thức toán học cơ bản mà học sinh tự tìm đến nhằm nổi bật các cách giải khác nhau rõ rệt để học sinh có tư duy năng động sáng tạo

VD: Bài 46 (Tr 103 SBT)







( ABC nhọn
AD ( AB, AD = AB
GT AE ( AC, AE = AC
KL DC = BE
D C( BE
Chứng minh: a, c/m DC = BE
Xét ( ABC và ( ABE có
AD = AB (gt) (1)
 mà

=>  (2)
AE = AC (gt) (3)
Từ (1), (2) và (3)
=> (ADC = ( ABE (c.g.c)
=> DC = BE (2 cạnh tương ứng)
b, chứng minh DC ( BE
Ta có (ADC = ( ABE (c/m trên)
=>  (2 góc tương ứng) (4)
Gọi H là giao điểm của AB và DC
=>  (đối đỉnh ) (5)
I là giao điểm của DC và BE
Xét ( AND và ( IBH có
=>  (đối đỉnh )
 (c/m trên) => 
=> DC ( BE (đpcm)
HS: Đọc đề
H? Đề cho gì? yêu càu gì?
HS: Lên bảng làm bài
Lớp ở dưới làm bài vào vở





























Lớp nhận xét?


- Sau mỗi bài tập giáo viên nên khắc sâu kỹ năng cũng như phương pháp làm bài chặt chẽ cho học sinh
- Đối với những học sinh khá giỏi cần đưa ra những bài tập có tính khái quát mở rộng vận dụng thông qua thực tế cuộc sống nhằm khắc sâu kiến thức trọng tâm của bài học. Vạch cho học sinh thấy rõ giữa các mối quan hệ kiến thức liên quan trọng của bài làm

VD: Bài 48 (Tr 103 SBT)





( ABC
AK = KB; AE = EC
GT KM = KC; EN = EB
KL A là trung điểm của MN
Chứng minh:
HS: Đọc đề
H? Đề cho gì?
Yêu cầu gì?
HS: Hãy vẽ hình và ghi gt, kl bài toán
Lớp nhận xét?
Lớp suy nghĩ chứng minh?
H? Muốn chứng minh cho A là trung điểm của MN ta phải c/m như thế nào?






Xét ( AKM và ( AKM có
KA = KB (gt)
(đối đỉnh) => (AKM=(BKC
KM = KC (gt) (c.g.c)
=> AM = BC (1)(2 cạnh tương ứng)
- c/m tương tự ta được
( AEN = ( CEB (c.g.c)
=> AN = BC (2) (2 cạnh tương ứng)
Từ (1) và (2)
=> AM = AN (*) (t/c bắc cầu)
- Ta có (AKM=(BKC (c/m trên)
=>  (2 góc tương ứng)
AM // BC (1) (sole trong bằng nhau)
(AEN = (CEB
=>  (2 góc tương ứng)
AN ((BC (2) (sole trong bằng nhau)
Từ (3) và (4) => M, A, N thẳng hàng
Theo tiên đề Ơ clít (**)
Từ (*) và (**)
=> A là trung điểm MN (đpcm)
+ 3 điểm A, M, N thẳng hàng
+ AM = AN
H? Nêu dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng / / và tiên đề Ơ clít?

- Vậy thông qua tiết luyện tập này giáo viên cần vạch cho học sinh thấy rõ mối quan hệ giữa hình học phẳng lớp 7 cho các tiết học sau này cũng như môn học khác và trong thực tế cuộc sống
4. Kết quả cuối cùng:
- Tóm lại qua tiết luyện tập giáo viên luôn dùng phương pháp vấn đáp, đàm thoại, phương pháp phân tích và tổng hợp để chỉ đạo học sinh làm bài
Đối với học sinh luôn là người chủ đạo học tập, tự giải quyết vấn đề bài học
- Học sinh có được hứng thú sôi nổi trong quá trình học tiết luyện tập hình học 7 thông qua thảo luận theo tổ, lớp. Học sinh có hứng thú phấn đấu vươn lên tới đỉnh cao của môn học. Biết vận dụng vào khả năng, năng lực học tập của bạn để làm bàn đà cho mình bật nhảy cao hơn về trình độ và năng lực của bản thân
- Tiết học luyện tập luôn sôi nổi hào hứng, đầy hứng thú khiến học sinh ham học và học tập có kết quả tốt hơn
- Thô
 
Gửi ý kiến