Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Tuần 21. Vội vàng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 17h:21' 17-03-2023
Dung lượng: 24.9 KB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích: 0 người
VỘI VÀNG
XUÂN DIỆU
Nhà thơ Mayakovsky từng nói về sự tuyệt diệu của thơ: “Trên đời có những
thứ chỉ giải quyết được bằng thơ”. Đơn giản thôi: “Thơ ca là sự hiện thân của
những điều thầm kín nhất của con tim, thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và
cho ra những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất”. Những đặc trưng
đó của thơ, ta nhìn thấy rõ ở tác phẩm “Vội vàng” của nhà thơ Xuân Diệu. Thi
phẩm đã mang đến cho người đọc một tư tưởng sống mới và vô cùng cuồng nhiệt
cùng quan niệm nhân sinh mới mẻ của một nhà thơ yêu đời.
Là ông hoàng thơ tình với trái tim nhạy cảm, tâm hồn mong manh và rất sợ
người khác không yêu thương mình, rất sợ cô đơn nên Xuân Diệu (1916 -1985)
được độc giả tặng cho biệt danh “Thiên hạ đệ nhất thảo mai”. Ông tên đầy đủ là
Ngô Xuân Diệu, quê ở Tuy Phước (Bình Định). Xuất thân trong một gia đình có
truyền thống Nho học và luôn “thèm” hưởng thụ cái đẹp, cái vui trong cuộc sống
đã kết thành một Xuân Diệu là người của đời, một người ở giữa loài người với cái
duyên cực bén cùng văn chương, nghệ thuật. Bản thân Xuân Diệu là người nhạy
cảm, ham sống, tư chất thông minh cùng khát khao giao hoá giao cảm với đời.
Sống cả ở ba miền Tổ quốc, ông đi nhiều, biết nhiều nên có cách nhìn đời sâu sắc.
Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới, bởi chỉ tính riêng những tư liệu mới để
xây dựng thi ca Việt Nam đã là nhiều vô kể. Hoạt động văn nghệ của ông phong
phú ở mọi thể loại với 15 tập thơ gồm 450 bài thơ tình, 1 tập truyện ngắn, 6 tập bút
kí, 19 tập sách bình luận văn học và hơn 500 bản bình thơ, dịch thơ nước ngoài đã
làm đậm thêm tài năng của một con người dành cả đời hăng say lao động nghệ
thuật.
Thi phẩm “Vội vàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân
Diệu trước Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm được rút ra từ tập “Thơ thơ” (1938),
viết dưới thể thơ tự do với 39 câu thơ được chia trong bốn khổ thơ là tiếng nói của
một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm
ấy là cả một quan niệm nhân sinh mới ít thấy trong thơ ca truyền thống.
Mùa xuân trong thơ ca là một đề tài vô cùng hấp dẫn, quen thuộc và chưa
bao giờ là cũ. Mùa xuân với đất trời hoa cỏ xinh tươi, tràn trề nhựa sống đã tạo
cảm hứng cho bao bài thơ ngâm vịnh, gợi bao suy nghĩ về con người, cuộc sống.

Đến văn học lãng mạn, mùa xuân – vẻ đẹp của thiên nhiên – đã tạo xúc cảm cho
bao hồn thơ, cho bao vân thơ đẹp:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lí bóng xuân sang.”
(“Mùa xuân chín” – Hàn Mặc Tử)
“Vội vàng” bắt đầu từ cảm hứng về mùa xuân. Cảm hứng không mới nhưng bài
thơ mới ở cách thể hiện và cường độ cảm xúc. Bài thơ không bắt đầu từ hình ảnh
mùa xuân mà bắt đầu từ niềm khao khát say mê đối với mùa xuân. Nhân vật trữ
tình bộc lộ trực tiếp ý muốn của mình:
“Tôi muốn tắt nắng đi,
Cho màu đừng nhạt mất.
Tôi muốn buộc gió lại,
Cho hương đừng bay đi.”
Quả thật là một ý muốn táo bạo. Bốn câu thơ ngắn với lời lẽ oai nghiêm như mệnh
lệnh. Con người như muốn đoạt quyền của tạo hoá, bắt thiên nhiên phải ngừng lại
để mình được tận hưởng mãi hương sắc của mùa xuân. Hồn thơ thiết tha với đời
đang lo lắng trước sự đổi thay của đất trời nên muốn vũ trụ ngừng quay để giữ lại
tất cả mọi vẻ đẹp. Thiết tha với cái vẻ đẹp, muốn cái đẹp không bao giờ phai tàn, ý
muốn ấy của Xuân Diệu đã gặp gỡ niềm khao khát của bất cứ người nghệ sĩ nào
xưa nay.
Ý muốn của thi sĩ có vẻ là vô lý, nhưng niềm khát khao ấy hoàn toàn có lý,
khi mùa xuân được thi sĩ phát hiện bằng biết bao hương sắc, âm thanh, hình ảnh
tươi đẹp đến mức tuyệt vời. Có thể nói đó là bức tranh xuân đẹp nhất, rực rỡ nhất,
xôn xao nhất trong dòng thơ xuân từ trước đến nay:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,”
Điệp từ “này đây” liên tiếp mở ra bao vẻ đẹp của mùa xuân đến bất tận. Mùa xuân
hiện ra thật cụ thể, vô cùng quyến rũ: có hạnh phúc ngọt ngào trong “tuần tháng
mật” của ong bướm, có cái lộng lẫy “hoa của đồng nội xanh rì”, có cái mơn mởn
trẻ trung “lá của cành tơ phơ phất”, có âm thanh rạo rực nồng nàn trong “khúc tình
si” của yến anh, có cái rực rỡ chan hoà “ánh sáng chớp hàng mi”. Qua “cặp mắt
xanh non biếc rờn” của thi sĩ, cuộc sống trần thế xung quanh bỗng được phát hiện
như một thiên đường, phong phú và giàu có. Mỗi vẻ đẹp của mùa xuân đều tràn

đầy nhựa sống, đều gợi đến tuổi trẻ, tình yêu và hành phúc. Đằng sau bức tranh
xuân là hình ảnh nhân vật trữ tình đang ngỡ ngàng khi phát hiện ra mọi vẻ đẹp,
đang reo vui trong niềm tận hưởng, trong niềm tha thiết với tình yêu và cuộc sống.
Vẻ đẹp của mùa xuân và cảm xúc mãnh liệt của con người đạt đến cực điểm trong
một liên tưởng độc đáo: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”. Xuân Diệu
không nói cả mùa xuân mà chỉ nói mỗi “tháng giêng” – tháng đẹp nhất, tháng mở
đầu của mùa xuân. “Tháng giêng” trở thành hội tụ tất cả những gì đẹp nhất của
mùa xuân, của thiên nhiên, vì vậy nó không còn cái ý nghĩa trìu tượng của thời
gian nữa. Cái hay của câu thơ là đã cụ thể hoá cái trìu tượng (tháng giêng) bằng
một cảm giác có tính vật chật của hành động ăn uống “ngon”. Và hơn nữa, là một
hình ảnh cụ thể của tình yêu: “ngon như một cặp môi gần”. Mùa xuân đẹp được so
sánh với con người. Nếu thơ ca truyền thống lấy chuẩn mực của cái đẹp là thiên
nhiên, thì với Xuân Diệu, chuẩn mực của cái đẹp là là con người – mà phải là con
người đang trong niềm hạnh phúc của tình yêu, con người trong độ đẹp nhất, căng
đầy sức sống nhất của độ xuân thì.
Ở Xuân Diệu, cảm hứng mùa xuân gắn với tuổi trẻ và tình yêu nhưng trong
sâu thẳm của nỗi khao khát được sống, được giao cảm của ông vẫn ẩn chứa một
nỗi lo âu về sự trôi chảy của thời gian. Khi ông muốn “tắt nắng”, “buộc gió” thì
không chỉ là bắt vũ trụ phải đứng lại mà còn là bắt thời gian phải ngừng trôi. Ngay
khi ông đang tận hưởng mùa xuân thì ông cũng đã khắc khoải lo sợ bước đi của
thời gian sẽ làm phai tàn hương sắc. Niềm khắc khoải đó khiến cho nỗi sung sướng
không còn được trọn vẹn: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”. Dấu chấm
bẻ đôi câu thơ ném về hai đầu tâm trạng: một của khao khát say mê, một của âu
sầu u uất. Niềm vui tan biến như một huyền mộng trước một sự thật phũ phàng,
trước cái lạnh lùng nghiệt ngã của thời gian. Thi sĩ đã cảm nhận được cái quy luật
đó:
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là lòng tôi cũng mất.”
Lời thơ nặng nề như một sự thật trần trụi. Cái kết thúc đã hiện ra thấp thoáng ngay
từ lúc mở đầu. Thi sĩ nhận ra giới hạn của thời gian, cái giới hạn mà con người
không thể vượt qua được:
“Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!”

Đó là sự đối kháng giữa con người và thiên nhiên, giữa “lòng tôi” với “lượng trời”.
Mùa xuân của đất trời sẽ tuần hoàn, nhưng mùa xuân của con người thì “chẳng hai
lần thắm lại”. Trời đất mãi mãi còn nhưng con người không còn.
Nhận thức sâu sắc được điều ấy, cảm xúc của thi sĩ về mùa xuân bỗng tan
biến mất vẻ đẹp và niềm vui như ban đầu. Vẫn là mùa xuân ấy, nhưng bây giờ hiện
ra trong vẻ tàn phai, buồn bã. Rất tinh tế khi Xuân Diệu cảm nhận sự phai tàn trong
“mùi tháng năm”, nếm được “vị chia phôi”, nghe được lời “tiễn biệt” của sông núi.
“Cơn gió xinh thì thào” những lời chia tay với cành tơ lá biếc, chim đang rạo rực
“khúc tình si” bỗng “đứt tiếng reo thi”. Đoạn thơ khép lại một lời than não ruột,
tuyệt vọng: “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”
Nếu bài thơ ngừng lại ở niềm tuyệt vọng thì đã không phải Xuân Diệu. Với
niềm kháo khát vô biên không bao giờ đầu hàng thời gian, ông hoàng thơ tình của
thi ca Việt Nam đã hối hả, vội vàng: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,”. Lời
thơ giục giã như bao lần Xuân Diệu đã “giục giã”:
“Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em em ơi, tình non sắp già rồi.
Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,
Mau với chứ, thời gian không đứng đợi.”
“Vội vàng” trở thành phương thức khắc phục giới hạn của thời gian, khắc phục
bằng tốc độ sống mau lên, sống thật mau để tận hưởng được nhiều hơn. Thi sĩ còn
muốn khắc phục bằng cách dồn nén cường độ sống, muốn thu gom tất cả vẻ đẹp
của cuộc đời trong một phút. Khao khát của nhà thơ thật nhiều, thật sôi nổi và
mạnh mẽ trong nhịp điệu dồn dập của những dòng thơ bắt đầu bằng “ta muốn”:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hồn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hời xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Trong niềm khao khát ấy, thiên nhiên lại được hồi sinh với biết bao hình ảnh, âm
thanh, hương sắc. Xuân Diệu ham sống, khát khao giao cảm với đời nên sợ khoảng
cách. Ông muốn thu ngắn khoảng cách bằng vòng tay “ôm”, “riết”, muốn “say”,
muốn “hôn”, muốn “thâu”. Và cuối cùng, tình yêu cuồng nhiệt dâng trào đến tột độ
khi nhà thơ bật lên tiếng kêu đầy khao khát: “Hời xuân hồng, ta muốn cắn vào
ngươi!”. Xuân vừa như một thứ trái chín ngon lành, vừa như một người tình căng

đầy nhựa sống, đắm say mơn mởn, rạo rực. Và tình yêu của Xuân Diệu mang đầy
màu sắc nhục cảm mà cường tráng, lành mạnh.
Thái độ sống của Xuân Diệu là một thái độ sống tích cực của con người yêu
đời, yêu tuổi trẻ, yêu mùa xuân. Trong lúc các nhà thơ lãng mạn thoát li thực tại
bằng nhiều con đường, Chế Lan Viên chối bỏ mùa xuân để làm “một cánh chim
thu lạc cuối ngàn”, Hàn Mặc Tử hướng hồn thơ điên lên thượng giới, Huy Cận ôm
nỗi đau đời thoát ra ngoài cõi tục với niềm vui “vũ trụ ca”. Xuân Diệu vẫn gắn bó
với cuộc sống trần thế. Đó là chỗ độc đáo và tích cực cảu thi sĩ. Nhà thơ đã dứt
khoát và say sưa phát biểu thẳng những ước muốn riêng tư, những khát khao
hưởng thụ của mình. Đến với Xuân Diệu, đến với những thi phẩm về tình yêu và
cuộc sống của ông, “cái tôi” cá nhân ngang nhiên đòi hỏi được thoả mãn một cách
tối đa những nhu cầu của cuộc sống, của tình cảm, cảm giác phức tạp và mãnh liệt.
“Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu cho nhiều mặt của hồn thơ Xuân Diệu, một
nhà thơ mới nhất trong các thơ mới. Bài thơ có giá trị nhân văn khiến cho bao
người đọc biết yêu cuộc sống trần thế, biết tận hưởng hạnh phúc và biết quý trọng
tuổi thanh xuân.
 
Gửi ý kiến