Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Vợ nhặt (Kim Lân)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:34' 19-05-2008
Dung lượng: 93.5 KB
Số lượt tải: 208
Số lượt thích: 0 người
vợ nhặt
Kim Lân

1 Về nhà văn Kim Lân
Kim Lân thuộc lứa nhà văn hthực cuối cùng trước CM, cùng với Ng Hồng, NC, TH ... Những sáng tác của ông trước CM cũng viết về nông thôn và nông dân nhưng ông không viết về những bi kịch thê thảm như NC, như NT Tố mà chỉ viết về những thú chơi của người nhà quê như nuôi gà chọi, luyện chó săn hay bầy núi non bộ. Những thú chơi như thế thường được người ta gọi là phong lưu đồng ruộng. Có lẽ vì vậy mà ông Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Nhà văn hiện đại” đã xếp Kim Lân vào loại các nhân vật phong tục.
Sau cách mạng, KL không viết về những thú chơi của người nhà quê nữa mà lại viết về lòng yêu nước của họ. Truyện ngắn “Làng” đã đánh dấu bước chuyển biến này của ông. Mãi sau khi hoà bình lập lại, KL mới tập hợp tất cả những sáng tác của mình thành 2 tạp truyện ngắn “Nên vợ nên chồng” và “Con chó xấu xí”.
Ngoài viết văn KL còn có cái thú được đóng phim, ông đã từng đóng vai lão Hạc trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy và vai Lý Cựu trong phim chị Dậu.
2 Về truyện ngắn Vợ Nhặt
Theo nhà văn Kim Lân, truyện ngắn “Vợ nhặt” thực ra là một chương đã được viết lại của truyện dài “Xóm ngụ cư” mà ông đang viết dở dang (1946). Đến hòa bình lập lại, nhân kỉ niệm T8 thành công, nhà văn đã dựa vào những gì còn nhớ được ở “Xóm ngụ cư” viết lại thành một truyện ngắn “có màu sắc cách mạng T8. Hiện thực mà ông viết trong tác phẩm này là nạn đói khủng khiếp năm ất Dậu, 1 nạn đói đã cướp đi 2 triệu sinh mạng người VN. Như vậy là độ lùi về mặt thời gian là rất ít. Thế nhưng độ lùi về nhận thức thì rất lớn vì trước khi viết Vợ Nhặt nhà văn KL đã tận mắt chứng kiến cuộc CM long trời lở đất và chính điều này đã khién cho truyện của ông tuy viết về 1 hiện thực rất đen tối nhưng nó lại rất khác xa những TP hiện thực phê phán chỉ ra đời trước đó vài năm.
“Xóm ngụ cư” đã bị mất bản thảo, còn lại một kỉ niệm cho gia đình là cái tên người con trai nhà văn. Khi nhà văn đang đặt bút viết chương 7 thì nghe tin vợ sinh con trai, ông liền đặt luôn tên con là Chương (hiện là họa sĩ của báo Văn nghệ)
II - Truyện ngắn vợ nhặt
1. Đề tài: “Vợ nhặt” viết về mảng đời sống nông thôn trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp diễn ra năm 1945 làm cho 2 triệu đồng bào ta chết đói. Câu truyện diễn ra ở một xóm dân ngụ cư qua cảnh ngộ của một gia đình cụ thể mà cái nghèo khó vốn đeo bám họ suốt cả một đời người.
2. Chủ đề: “Vợ nhặt” không tập trung đi sâu vào nỗi khổ vật chất mặc dù cũng có đủ các biểu hiện của tình trạng thê thảm của sự nghèo đói mà nêu lên một khía cạnh hết sức độc đáo: một tình huống gần như có một không hai, gây bất ngờ sửng sốt đối với tất cả mọi người là hiện tượng “vợ nhặt” như tiêu đề thiên truyện ngắn. Câu truyện hôn nhân thành vợ thành chồng trong lúc ngày mai không biết sống chết ra sao, giữa lúc thiên hạ chết đói đầy đường đầy chợ. Nói cách khác, sự sống ló ra trong cái chết, cái sống và cái chết và cái sống đang tranh chấp với nhau.
Người ta vẫn lấy nhau trong bóng tối của tử thần quả là một ngịch lý, nghịch lý mà có thật – dù là hư cấu song vẫn là thật nếu xét tới cội nguồn bản chất của con người.
3. Tư tưởng. – Khẳng định bản chất ham sống của con người. Sự sống mạnh hơn cái chết. Xét cho cùng, đó chính là bản chất lạc quancủa con người trong quá trình tồn tại của mình, thứ bản chất mà văn học dân gian đã từng thể hiện:
“Đừng có chết mất thì thôi
Sống thời có lúc no xôi chán chè”
Hay: “chớ than phận khó ai ơi
Còn da: lông mọc, còn chồi nảy cây”
Cái chồi của lòng ham sống vẫn không bị thui chột trong lòng người ngay trong thời điểm gần như tuyệt vọng.
2. Kết cấu.- Câu truyện được thuật theo một trật tự tự nhiên của thời gian, không có sự sáo trộn nào đặc biệt. Song kết cấu triệt để sử dụng phương pháp tương phản:
Tràng ngày trước là nguồn vui của lũ trẻ nhỏ mỗi khi anh đi làm về qua đem lại tiếng cười cho cái xóm ngụ cư vốn đã im lìm trong mệt mỏi và nghèo khổ thì nay, Tràng lầm lũi và lũ trẻ nhỏ cũng ru rú ở xó nhà chứ không bám níu lấy anh như hồi trước. Một không khí chết chóc đậm nét dần, chìm vào cái im lìm buồn thảm.
Sự tương phản còn thể hiện ở chỗ việc Tràng có vợ như là một nghịch lý gây nên sự ngạc nhiên của hết thảy từ xóm giềng, bà mẹ và cả người trong cuộc là Tràng.
Sự tương phản còn cả trong sự đan xen, đối trọi trong từng chi tiết: cùng với tiếng cười khúc khích của đôi vợ chồng trẻ trong tối tân hôn là tiếng hờ khóc người thân vọng đến, cùng đồng hiện.
* Về phương pháp phân tích:
Về phương diện loại hình mà nói, Vợ nhặt thuộc loại truyện mà giải pháp hợp lý nhất là phải men theo diễn biến của câu chuyện mà PT. Đọc “Vợ nhặt” ta thấy câu chuyện ở đây được chia làm 8 phần rất rõ rệt và được liên kết với nhau theo kiểu hiện tại – qkhứ - hiện tại. Phần 2 SGK không trích giảng do đó trong bài PT này chúng ta chỉ PT phần 1 và phần 3 của truyện mà thôi.
* Kiến thức cơ bản:
Phân tích được tính độc đáo, hấp dẫn của tình huống truyện trong “Vợ nhặt”
Tràng là người có đủ điều kiện để ế vợ hơn là có vợ, vậy mà bỗng nhiên có vợ một cách dễ dàng
Tràng là người đến nuôi thân còn không nổi, lại giữa buổi đói kém, còn đèo bòng chuyện vợ con
Tình huống truyện lạ, dẫn đến tâm trạng ngạc nhiên của mọi người (dân xóm ngụ cư, bà cụ Tứ và chính Tràng)
Phân tích diễn biến tâm trạng và thân phận của các nhân vật
Nhân vật người vợ
Nghèo đói, bị dồn đến bước khó khăn trở nên táo bạo, liều lĩnh, như mất đi vẻ đẹp nữ tính
Nghèo khổ đến mức không có nổi cái tên và tiều tụy cả hình hài
Vì miếng ăn mà trở nên chua chát, chỏng lỏn
Không còn e dè ý tứ (chỉ vài câu bông đùa, một bữa bánh đúc mà theo người đàn ông xa lạ về làm vợ)
Sau khi làm vợ Tràng rồi thì có sự thay đổi tâm lý, tính cách, tìm lại được vẻ đẹp của nữ tính. Không chua chát chỏng lỏn nữa, mà trở thành người đàn bà hiền dịu đúng mực.
Nhân vật Tràng
Ngay cái tên cũng gợi đến sự lam lũ, sự đẽo gọt, sơ sài của tạo hóa – một sự sơ sài cả nhân dạng và nhân tính
Nghèo khổ bỗng nhiên có vợ nên sung sướng bàng hoàng, hạnh phúc quá lớn nên quên cả âu lo (quên cả cái đói cái nghèo, không hiểu nổi vì sao mình có vợ mẹ mình lại khóc).
Có vợ Tràng thay đổi cả tâm trạng, cả tính cách (trước đây ít chú ý đến gia đình, sống vô tâm vô tư, sau khi có vợ cảm thấy mình nên người, gắn bó với gia đình, có bổn phận với vợ con.
Nhân vật bà cụ Tứ
Xuất hiện muộn nhưng được tác giả tập trung khắc họa để làm nổi bật tính cách (người mẹ nông dân nghèo khổ, từng trải, hiểu biết, thương con hết mực
Bà có diễn biến tâm trạng rất phong phú, phức tạp , nhưng nhất quán
Diễn biến tâm trạng của bà cụ theo 3 nấc thang tâm lý:
Khởi đầu là sự ngạc nhiên
Tiếp đó là trạng thái tình cảm đan xen: Vui mừng – buồn tủi – lo âu. mà cái gốc của những trạng thái đan xen này là tình cảm thương con của người mẹ
Vượt lên trên tất cả là niềm vui, hi vọng, tin vào ngày mai (vui trong ý nghĩ, trong hành động, trong cách nói)
* Hạnh phúc không thể cứu con người khỏi cái đói cái chết nhưng nó giúp con người thoát khỏi tình trạng mất nhân tính.
Phân tích được giá trị hiện thực và nhân đạo của TP
Giá trị hiện thực
Phản ánh tình cảnh thê thảm của người dân LĐ trong nạn đói 1945, đẩy thân phận con người tới chỗ rẻ mạt (thân phận người vợ nhặt rẻ rúng như cọng rơm cái rác, có thể nhặt được nơi đầu đường góc chợ) nhà văn muốn nói tới một hiện thực là chuyện trăm năm của đời người mà đơn giản đến xót xa tội nghiệp.
Về hiện thực cái đói, cái nghèo, nhà văn KL thừa nhận: những truyện ông thích và cũng là những truyện nhiều người thích như Làng, Vợ nhặt.. đều là những truyện ông viết về xóm mình, người thân mình. Làng ông có chợ, có sông nên ông hay viết về chợ, về sông. Mẹ ông là dân ngụ cư, nên hình ảnh xóm ngụ cư cũng in đậm trong tâm trí ông: “tính tình số phận của nhân vật Tràng cũng là tính tính, số phận tôi... Tôi với nhà tôi cũng từ nhà quê ra Hà Nội bán cám, cũng đẩy xe bò, cũng cầm đòn gánh canh chừng những người ăn mày, những người đói cướp cám... cảnh ăn cháo cám, tôi với nhà tôi cũng đã từng, cho nên tất cả những cái đó tự nhiên lúc viết tự dưng cứ nhớ lại mà ghi ra rồi thành truyện.
II. Thân bài:
Phân tích nhân vật
a) Anh Tràng và cô vợ “nhặt” – hai kiếp người nghèo khổ mà giàu khát vọng sống khát vọng hạnh phúc
* Cảnh ngộ của 2 người: đều đói khổ, sống vất vưởng lưu lạc nơi đất khách, vỉa hè giữa thời kì tối tăm xanh xám, cả đất nước vẩn lên mùi gây gây xác chết.
- Tràng: Ngay cái tên cũng gợi đến sự lam lũ, sự đẽo gọt, sơ sài của tạo hóa – một sự sơ sài cả nhân dạng và nhân tính.
+ Tràng được miêu tả rất kĩ: là một người lao động ngụ cư, kiếm sống bằng nghề phu phen, người thô kệch, vập vạp, có cái lưng như lưng gấu, bản tính hiền khô đến lũ trẻ còn dám bâu vào anh như một thú vu
 
Gửi ý kiến