Việt Bắc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:06' 20-05-2008
Dung lượng: 53.0 KB
Số lượt tải: 173
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:06' 20-05-2008
Dung lượng: 53.0 KB
Số lượt tải: 173
Số lượt thích:
0 người
Việt Bắc
I.Giới thiệu chung về bài thơ:
Đây là 1 bài thơ dài mang dáng dấp của 1 tác phẩm có tính sử thi hoành tráng. Hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên khi Tố Hữu lại dùng tiêu đề của bài thơ này để đặt tên cho cả tập thơ mà ông viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Tên bài thơ là Việt Bắc, nhưng nội dung bài thơ không hề dừng lại ở việc miêu tả cuộc kháng chiến chống Pháp ở 1 miền đất cụ thể. Điều này cũng có thể giải thích được vì Việt Bắc là thủ đô của cuộc kháng chiến, là đầu não của cuộc kháng chiến, bởi thế viết về Việt Bắc cũng có nghĩa là viết về cuộc kháng chiến của cả nước. Cho nên sẽ không ngoa nếu như chúng ta nói rằng Việt Bắc chính là bài thơ mang tính tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp của cả dân tộc ta.
2- Bài thơ ra đời trong không khí chia tay lưu luyến giữa những người cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc, sự kiện này diễn ra vào tháng 11năm 1954. Lúc ấy, bộ máy chính phủ và các cơ quan Đảng chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội.
Suốt bao nhiêu năm trời gắn bó với nhân dân Việt Bắc, bây giờ phải chia tay Tố Hữu bồi hồi xúc động và ông đã viết bài thơ này như là để đáp lại nghĩa tình của đồng bào Việt Bắc đối với ông nói riêng, đối với cuộc kháng chiến nói chung.
Bài thơ có 3 phần rất rõ rệt:
Phần đầu (Không nằm trong phần trích ở SGK) diễn tả lại cuộc chia tay lưu luyến giữa ta với mình, giữa mình với ta.
Phần 2 (11 khổ thơ đầu trong phần trích) là phần quan trọng nhất cũng là phần dài nhất vì nó tái hiện lại những kí ức của Tố Hữu về cuộc sống kháng chiến và hình ảnh những con người kháng chiến ở Việt Bắc.
Phần cuối (còn lại) nhà thơ bày tỏ niềm tin của ông đối với tương lai của Việt Bắc. Ngược lại quê hương CM Việt Bắc qua TH bày tỏ với Bác Hồ, với Đảng niềm tin sắt son, lòng thuỷ chung trước sau như một.
3 – Trích đoạn trong SGK bao gồm 11 khổ thơ nằm ở cuối phần 1 đầu phần 2. Trong đó từ khổ 1 đến khổ 7 nằm ở phần 1 còn từ khổ 8 đến khổ 11 nằm ở phần 2.
II – Phân tích đoạn trích trong sách giáo khoa
1 – Phân tích cuộc chia tay lưu luyến giữa kẻ ở, người đi
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Mình đi chớ những những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?
Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…
* Nhận xét chung về nghệ thuật : Có lẽ bất kì 1 người đọc nào khi đọc thơ Tố Hữu nói chung, bài thơ Việt Bắc nói riêng đều dễ dàng nhận thấy thơ TH rất đậm đà sắc thái ca dao. Chất ca dao này trước hết thể hiện ở độ đậm đặc lối xưng hô ta với mình, mình với ta rất hay thấy trong ca dao. Thậm chí đọc rất nhiều câu của bài Việt Bắc này, ta cứ có cảm giác như nó giống 1 câu ca dao nào đấy. Chẳng hạn khi đọc câu: “Ta về mình có nhớ ta - Ta về ta nhớ những hoa cùng người” của Tố Hữu ta lại chợt nhớ đến câu ca dao: “Mình về có nhớ ta chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Nhưng cũng rất nhiều câu ta lại không xác định được 1 cách chính xác nó giống câu nào. Điều đó chứng tỏ Tố Hữu chỉ tiếp nhận cái phần tinh tuý của ca dao chứ ông không sao chép nó 1 cách máy móc. Tố Hữu vẫn có những sáng tạo riêng của ông.
Hãy khoan nói đến những sáng tạo cụ thể của cách gieo vần, cách tạo âm điệu, cách diễn đạt bằng hình ảnh, cách so sánh ví von mà chỉ nói ở mức tổng quát nhất, ta cũng có thể thấy được trong ca dao xưa, tình cảm giữa mình và ta rất thắm thiết. Nhưng đó chỉ là sự thắm thiết trong quan hệ riêng tư. Chẳng hạn: “Mình về ta chẳng cho về – Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ”. Còn ở đây, giữa ta với mình, giữa mình với ta lại biểu hiện cho những tình cảm lớn lao và tự nhiên giữa những người cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc, và ngược lại những tình cảm chung ấy, cuộc chia tay có tính thời đại ấy nhờ được diễn tả dưới hình thức ta mình - mình ta lại như là chuyện riêng tư vậy.
ở 7 khổ thơ đầu của trích đoạn, Tố Hữu viết dưới hình thức đối đáp, lúc thì là ta nói với mình, lúc thì là mình nói với ta. Và nếu như để ý chúng ta sẽ thấy người đi nói nhiều hơn là người ở lại. (Những khổ thơ in chữ nghiêng là lời người ở lại, những khổ còn lại là lời người đi(2/5). Thậm chí chỉ, trong 4 câu lục bát 28 chữ, chỉ có 1 chữ ta trong khi đó lại có tới 4 chữ mình. Sự láy đi láy lại chữ “mình” như thế rõ ràng thể hiện cái nhu cầu được bộc bạch được giãi bày lòng mình của Tố Hữu. Trong khi đây mới bắt đầu là lời của những người ở lại.
Có lẽ điều này cũng là hợp lý bởi một mặt người đi luôn có cảm giác áy náy, luyến tiếc đối với những những ngày đã qua cho nên muốn nói nhiều hơn để bộc lộ tình cảm của mình, nỗi nhớ của mình đối với ở lại. Mặt khác vì người đi là người chủ động rời xa Việt Bắc cho nên họ không muốn người ở lại nghĩ rằng mình bội bạc. Nhưng dẫu là lời của người đi nói với người ở lại hay ngược lại là lời của người ở lại nói với người đi thì chỗ giống nhau vẫn là tình cảm lưu luyến nhớ thương không nỡ dứt. Các chữ nhớ gần như xuất hiện ở tất cả các câu thơ. Nếu làm phép thống kê, cả trích đoạn trong SGK có tới 32 chữ “nhớ” nhưng riêng ở phần đã có tới 24 chữ “nhớ”. Đặc biệt cứ sau mỗi chữ nhớ như thế những kỉ niệm của quá khứ lại lần lượt được tái hiện. Chỉ riêng 1 phép thống kê đơn giản này thôi cũng tự nó cho thấy ban đầu trong cuộc chia tay nỗi nhớ trào lên trong tâm trạng Tố Hữu. Những cảnh, những người cứ ùa về nhưng càng về cuối bài thơ, nỗi nhớ ấy càng lắng xuống có bớt đi cái phần da diết nhưng lại lắng về chiều sâu.
* Phân tích khổ 1:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Hai câu thơ đầu mở ra vừa là câu hỏi vừa là để nhấn mạnh cảm giác chia li đang đến gần. Khoảng thời gian 15 năm so với đời người không phải là nhỏ, thậm chí còn là dài đủ để những cán bộ kháng chiến xây dựng một tình cảm gắn bó thiết tha mặn nồng với những người dân Việt Bắc. Đặc biệt, với cách xưng hô mang đậm màu sắc ca dao, người đọc có thể nhận ngay thấy một thứ tình cảm rất bền chặt sâu sắc giữa người đi kẻ ở. Tất nhiên như đã nói, nếu trong ca dao xưa tình cảm giữa ta với mình hoàn toàn là tình cảm riêng tư giữa 2 con người thì ở đây, trong thơ Tố Hữu nó lại thể hiện tình cảm của tác giả đối với Việt Bắc. Vì vậy thứ tình cảm vừa chung vừa riêng ấy như được nhân lên gấp bội.
Nhiều người khi phân tích khổ thơ đầu này cứ phân vân với một câu hỏi: Tại sao lại bắt đầu bằng lời của người ở lại? Hoặc tại sao lại không phải là câu hỏi của người đi? Chẳng hạn: “Ta về mình có nhớ ta?”
Thực ra nếu người ra đi tự hỏi thì vô duyên quá. Tự mình đi lại tự mình hỏi người ta có nhớ mình không? Cho nên câu hỏi tế nhị và sâu sắc nhất phải là của những người ở lại. Và cũng phải là người ở lại thì mới hình dung được trạng huống của người đi khi trở về thành phố: “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Như vậy khổ 1 có bốn câu thơ thì đọng lại 2 câu hỏi. Một câu hỏi vào thời gian, một câu hỏi vào không gian. Hai câu hỏi khéo léo cho thấy cả thời gian và không gian Việt Bắc không có gì xa lạ mà chính là thời gian và không gian sống quá quen thuộc của những cán bộ kháng chiến. Nói đúng hơn, nó là một thời cách mạng, một vùng cách mạng của cả người đi kẻ ở.
* Phân tích khổ 2:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Trong khi người ở lại đang rơi vào cảm giác trống vắng, hẫng hụt, thì cảm giác nổi bật của người người ra đi lại là sự bịn rịn lưu luyến. Khổ thơ thứ hai được viết như một lời phúc đáp của những người ra đi đối với người ở lại. Người ra đi đã nghe rõ từng tiếng lòng chân thành của người ở lại, nên lòng đầy cảm xúc và bối rối. Bước đi nặng chĩu tâm trạng. Và nếu phân tích thì đây cũng là một trạng thái tâm lý phổ biến. Vì trong giây phút chia tay lưu luyến ấy, người ra đi phải nói thật lòng mình: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Câu thơ viết: “biết nói gì hôm nay” nhưng người đọc thì hoàn toàn hiểu đó không phải là không có gì để nói mà là có quá nhiều điều muốn nói nhưng không biết nên nói thế nào cho xứng với giây phút chia ly nặng tình nặng nghĩa này. Nhịp thơ lục bát đều đặn, nhịp nhàng ở bốn dòng đầu đến đây cũng vì chút bối rô
I.Giới thiệu chung về bài thơ:
Đây là 1 bài thơ dài mang dáng dấp của 1 tác phẩm có tính sử thi hoành tráng. Hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên khi Tố Hữu lại dùng tiêu đề của bài thơ này để đặt tên cho cả tập thơ mà ông viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Tên bài thơ là Việt Bắc, nhưng nội dung bài thơ không hề dừng lại ở việc miêu tả cuộc kháng chiến chống Pháp ở 1 miền đất cụ thể. Điều này cũng có thể giải thích được vì Việt Bắc là thủ đô của cuộc kháng chiến, là đầu não của cuộc kháng chiến, bởi thế viết về Việt Bắc cũng có nghĩa là viết về cuộc kháng chiến của cả nước. Cho nên sẽ không ngoa nếu như chúng ta nói rằng Việt Bắc chính là bài thơ mang tính tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp của cả dân tộc ta.
2- Bài thơ ra đời trong không khí chia tay lưu luyến giữa những người cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc, sự kiện này diễn ra vào tháng 11năm 1954. Lúc ấy, bộ máy chính phủ và các cơ quan Đảng chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội.
Suốt bao nhiêu năm trời gắn bó với nhân dân Việt Bắc, bây giờ phải chia tay Tố Hữu bồi hồi xúc động và ông đã viết bài thơ này như là để đáp lại nghĩa tình của đồng bào Việt Bắc đối với ông nói riêng, đối với cuộc kháng chiến nói chung.
Bài thơ có 3 phần rất rõ rệt:
Phần đầu (Không nằm trong phần trích ở SGK) diễn tả lại cuộc chia tay lưu luyến giữa ta với mình, giữa mình với ta.
Phần 2 (11 khổ thơ đầu trong phần trích) là phần quan trọng nhất cũng là phần dài nhất vì nó tái hiện lại những kí ức của Tố Hữu về cuộc sống kháng chiến và hình ảnh những con người kháng chiến ở Việt Bắc.
Phần cuối (còn lại) nhà thơ bày tỏ niềm tin của ông đối với tương lai của Việt Bắc. Ngược lại quê hương CM Việt Bắc qua TH bày tỏ với Bác Hồ, với Đảng niềm tin sắt son, lòng thuỷ chung trước sau như một.
3 – Trích đoạn trong SGK bao gồm 11 khổ thơ nằm ở cuối phần 1 đầu phần 2. Trong đó từ khổ 1 đến khổ 7 nằm ở phần 1 còn từ khổ 8 đến khổ 11 nằm ở phần 2.
II – Phân tích đoạn trích trong sách giáo khoa
1 – Phân tích cuộc chia tay lưu luyến giữa kẻ ở, người đi
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Mình đi chớ những những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?
Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…
* Nhận xét chung về nghệ thuật : Có lẽ bất kì 1 người đọc nào khi đọc thơ Tố Hữu nói chung, bài thơ Việt Bắc nói riêng đều dễ dàng nhận thấy thơ TH rất đậm đà sắc thái ca dao. Chất ca dao này trước hết thể hiện ở độ đậm đặc lối xưng hô ta với mình, mình với ta rất hay thấy trong ca dao. Thậm chí đọc rất nhiều câu của bài Việt Bắc này, ta cứ có cảm giác như nó giống 1 câu ca dao nào đấy. Chẳng hạn khi đọc câu: “Ta về mình có nhớ ta - Ta về ta nhớ những hoa cùng người” của Tố Hữu ta lại chợt nhớ đến câu ca dao: “Mình về có nhớ ta chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Nhưng cũng rất nhiều câu ta lại không xác định được 1 cách chính xác nó giống câu nào. Điều đó chứng tỏ Tố Hữu chỉ tiếp nhận cái phần tinh tuý của ca dao chứ ông không sao chép nó 1 cách máy móc. Tố Hữu vẫn có những sáng tạo riêng của ông.
Hãy khoan nói đến những sáng tạo cụ thể của cách gieo vần, cách tạo âm điệu, cách diễn đạt bằng hình ảnh, cách so sánh ví von mà chỉ nói ở mức tổng quát nhất, ta cũng có thể thấy được trong ca dao xưa, tình cảm giữa mình và ta rất thắm thiết. Nhưng đó chỉ là sự thắm thiết trong quan hệ riêng tư. Chẳng hạn: “Mình về ta chẳng cho về – Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ”. Còn ở đây, giữa ta với mình, giữa mình với ta lại biểu hiện cho những tình cảm lớn lao và tự nhiên giữa những người cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc, và ngược lại những tình cảm chung ấy, cuộc chia tay có tính thời đại ấy nhờ được diễn tả dưới hình thức ta mình - mình ta lại như là chuyện riêng tư vậy.
ở 7 khổ thơ đầu của trích đoạn, Tố Hữu viết dưới hình thức đối đáp, lúc thì là ta nói với mình, lúc thì là mình nói với ta. Và nếu như để ý chúng ta sẽ thấy người đi nói nhiều hơn là người ở lại. (Những khổ thơ in chữ nghiêng là lời người ở lại, những khổ còn lại là lời người đi(2/5). Thậm chí chỉ, trong 4 câu lục bát 28 chữ, chỉ có 1 chữ ta trong khi đó lại có tới 4 chữ mình. Sự láy đi láy lại chữ “mình” như thế rõ ràng thể hiện cái nhu cầu được bộc bạch được giãi bày lòng mình của Tố Hữu. Trong khi đây mới bắt đầu là lời của những người ở lại.
Có lẽ điều này cũng là hợp lý bởi một mặt người đi luôn có cảm giác áy náy, luyến tiếc đối với những những ngày đã qua cho nên muốn nói nhiều hơn để bộc lộ tình cảm của mình, nỗi nhớ của mình đối với ở lại. Mặt khác vì người đi là người chủ động rời xa Việt Bắc cho nên họ không muốn người ở lại nghĩ rằng mình bội bạc. Nhưng dẫu là lời của người đi nói với người ở lại hay ngược lại là lời của người ở lại nói với người đi thì chỗ giống nhau vẫn là tình cảm lưu luyến nhớ thương không nỡ dứt. Các chữ nhớ gần như xuất hiện ở tất cả các câu thơ. Nếu làm phép thống kê, cả trích đoạn trong SGK có tới 32 chữ “nhớ” nhưng riêng ở phần đã có tới 24 chữ “nhớ”. Đặc biệt cứ sau mỗi chữ nhớ như thế những kỉ niệm của quá khứ lại lần lượt được tái hiện. Chỉ riêng 1 phép thống kê đơn giản này thôi cũng tự nó cho thấy ban đầu trong cuộc chia tay nỗi nhớ trào lên trong tâm trạng Tố Hữu. Những cảnh, những người cứ ùa về nhưng càng về cuối bài thơ, nỗi nhớ ấy càng lắng xuống có bớt đi cái phần da diết nhưng lại lắng về chiều sâu.
* Phân tích khổ 1:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Hai câu thơ đầu mở ra vừa là câu hỏi vừa là để nhấn mạnh cảm giác chia li đang đến gần. Khoảng thời gian 15 năm so với đời người không phải là nhỏ, thậm chí còn là dài đủ để những cán bộ kháng chiến xây dựng một tình cảm gắn bó thiết tha mặn nồng với những người dân Việt Bắc. Đặc biệt, với cách xưng hô mang đậm màu sắc ca dao, người đọc có thể nhận ngay thấy một thứ tình cảm rất bền chặt sâu sắc giữa người đi kẻ ở. Tất nhiên như đã nói, nếu trong ca dao xưa tình cảm giữa ta với mình hoàn toàn là tình cảm riêng tư giữa 2 con người thì ở đây, trong thơ Tố Hữu nó lại thể hiện tình cảm của tác giả đối với Việt Bắc. Vì vậy thứ tình cảm vừa chung vừa riêng ấy như được nhân lên gấp bội.
Nhiều người khi phân tích khổ thơ đầu này cứ phân vân với một câu hỏi: Tại sao lại bắt đầu bằng lời của người ở lại? Hoặc tại sao lại không phải là câu hỏi của người đi? Chẳng hạn: “Ta về mình có nhớ ta?”
Thực ra nếu người ra đi tự hỏi thì vô duyên quá. Tự mình đi lại tự mình hỏi người ta có nhớ mình không? Cho nên câu hỏi tế nhị và sâu sắc nhất phải là của những người ở lại. Và cũng phải là người ở lại thì mới hình dung được trạng huống của người đi khi trở về thành phố: “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Như vậy khổ 1 có bốn câu thơ thì đọng lại 2 câu hỏi. Một câu hỏi vào thời gian, một câu hỏi vào không gian. Hai câu hỏi khéo léo cho thấy cả thời gian và không gian Việt Bắc không có gì xa lạ mà chính là thời gian và không gian sống quá quen thuộc của những cán bộ kháng chiến. Nói đúng hơn, nó là một thời cách mạng, một vùng cách mạng của cả người đi kẻ ở.
* Phân tích khổ 2:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Trong khi người ở lại đang rơi vào cảm giác trống vắng, hẫng hụt, thì cảm giác nổi bật của người người ra đi lại là sự bịn rịn lưu luyến. Khổ thơ thứ hai được viết như một lời phúc đáp của những người ra đi đối với người ở lại. Người ra đi đã nghe rõ từng tiếng lòng chân thành của người ở lại, nên lòng đầy cảm xúc và bối rối. Bước đi nặng chĩu tâm trạng. Và nếu phân tích thì đây cũng là một trạng thái tâm lý phổ biến. Vì trong giây phút chia tay lưu luyến ấy, người ra đi phải nói thật lòng mình: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Câu thơ viết: “biết nói gì hôm nay” nhưng người đọc thì hoàn toàn hiểu đó không phải là không có gì để nói mà là có quá nhiều điều muốn nói nhưng không biết nên nói thế nào cho xứng với giây phút chia ly nặng tình nặng nghĩa này. Nhịp thơ lục bát đều đặn, nhịp nhàng ở bốn dòng đầu đến đây cũng vì chút bối rô
 









Các ý kiến mới nhất