văn hóa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Huyền
Ngày gửi: 09h:59' 22-10-2010
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 59
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Huyền
Ngày gửi: 09h:59' 22-10-2010
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 59
Số lượt thích:
0 người
XÂY D?NG VÀ PHÁT TRI?N N?N VAN HOÁ VI?T
NAM TIÊN TI?N D?M DÀ B?N S?C DÂN T?C
I. Phương hướng xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá
.Phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN.
. Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
.Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
.Làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động của xã hội, vào từng người, từng gia đình,từng tập thể và cộng đồng,từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người
. Tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH.
II. Đặc trưng của nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
1. Tính chất tiên tiến của nền văn hoá
Là nền văn hoá yêu nước và tiến bộ
Phải thể hiện tinh thần nhân văn và dân chủ sâu sắc
Phản ánh trình độ cao mang tính hiện đại, cập nhật với thành tựu chung của khu vực và cộng đồng quốc tế
Thể hiện ở hình thức biểu hiện, phương tiện chuyển tải nội dung
Nền văn hóa nước ta hiện nay có cả đặc trưng của một nền văn hoá tiên tiến
2. Bản sắc dân tộc của văn hoá
Khái niệm: Là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh riêng của mỗi nền văn hoá, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hoá của dân tộc này với dân tộc khác.
Bản sắc văn hoá dân tộc là sự tổng hoà các khuynh hướng sáng tạo văn hoá vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế các hệ tư tưởng… trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó.
Bản sắc văn hoá dân tộc được thể hiện rõ trong truyền thống của dân tộc. Truyền thống văn hoá là các giá trị văn hoá do lịch sử truyền lại, được các thế hệ sau kế thừa, khai thác và phát huy trong thời đại của họ tạo nên sự tiếp nối của lịch sử văn hoá
Truyền thống dân tộc Việt Nam được hình thành dựa trên một hệ thống các giá trị:
Bản sắc dân tộc của văn hoá việt nam
Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- giađình- làng xã - tổ quốc
Đức tính cần cù sáng tạo trong lao động
Sự tinh tế trong ứng xử
Lòng nhân ái khoan dung trọng nghĩa tình đạo lý
Bản sắc dân tộc của văn hóa là một khái niệm “động” và “mở”, nó mang tính lịch sử cụ thể và vận động.
Cùng với những truyền thống, lề thói mang nặng hạn chế lịch sử không những không nên giữ gìn mà cần phải cải biến bài trừ nó. Những truyền thống, lề thói ấy chẳng những không nên giữ gìn mà cần phải cải biến nó.
III. Những quan điểm chỉ đạo cơ bản và nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
1. Những quan điểm chỉ đạo cơ bản
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
Văn hoá là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp lâu dài đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
2. Những nhiệm vụ cụ thể
a.Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới b.Nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hoá
c.Phát triển văn học, nghệ thuật
d.Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc
e.Phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ f. Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng
g. Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số h. Chính sách văn hóa đối với tôn giáo
i. Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá
j. Củng cố và hoàn thiện thể chế văn hoá
Mâm cúng mời tổ tiên, thần linh đến dự lễ
Thầy mo làm lễ cấp sắc cho con cháu đủ tuổi để được công nhận đã trưởng thành.
Trong lễ cấp sắc gồm có trống bông, chiêng, trống cơm...
Tiến hành các nghi lễ cấp sắc
Lễ hội xuống đồng “lồng tồng của ngườiTày”
Đường lối phát triển văn hoá ở nước ta
I
I. QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ
1. Thời kỳ trước đổi mới
a) Quan điểm, chủ trương về xây dựng nền văn hoá mới
- Trong những năm 1943-1954: văn hóa được xác định là một trong ba mặt trận của cách mạng.
Trong những năm 1943, nền văn hóa Việt nam có tính chất dân tộc về hình thức, dân chủ về nội dung
Sau Cách mạng tháng Tám, văn hóa Việt Nam được xây dựng trên quan điểm chống mù chữ và giáo dục lại tinh thần nhân dân.
Trong Kháng chiến chống Pháp, trên quan điểm xây dựng văn hóa nhàm phục vụ kháng chiến, tất cả vì kháng chiến.
- Trong những năm 1955-1986: văn hóa được xác định là một trong ba cuộc cách mạng trong thời kỳ quá độ lên CNXH
b) Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả và ý nghĩa
Nền văn hóa dân chủ mới - văn hóa cứu quốc, đã bước đầu được hình thành và đạt nhiều thành tựu trong kháng chiến và kiến quốc.
- Hạn chế và nguyên nhân
Công tác tư tưởng và văn hóa thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu. Việc xây dựng thể chế văn hóa còn chậm. Công tác văn hóa tư tưởng còn ảnh hưởng nhiều bởi nhiều tư duy chính trị của các giai đoạn lịch sử.
Những hạn chế này là do chiến tranh cùng với cơ chế quản lý của Nhà nước tác động đến.
2. Trong thời kỳ đổi mới
a) Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hoá
- Trong những năm 1986-1995
- Trong những năm 1996-2008
b) Quan điểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển nền văn hoá
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
+ Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội – nó thấm nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng; được truyền lại, nối tiếp và phát huy qua các thế hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc, đồng thời nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội – văn hóa.
+ Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển: Nguồn lực nội sinh của của sự phát triển của một dân tộc thấm sau trong văn hóa. Sự phát triển của dân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp nhận cái mới, tạo ra cái mới, nhưng lại không thể tách khỏi cội nguồn. Cội nguồn đó của mỗi quốc gia, dân tộc là văn hóa.
+ Văn hóa là mục tiêu của phát triển: Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh” chính là mục tiêu văn hóa
+ Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng xã hội mới: Con người là một trong những nguồn lực đặc biệt quan trọng và vô tận trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa trực tiếp tạo dựng và nâng cao nguồn lực con người.
Nền văn hoá mà ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân t
+ Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ
+ Bản sắc văn hóa dân tộc: là toàn bộ những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử.
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc.
- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
+ Mọi người Việt Nam đều phải tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà.
+ Để xây dựng đội ngũ trí thức, quan điểm của Đảng là: giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu.
Biện pháp để thực hiện là:
+ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
+ Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở.
+ Đổi mới mạnh mẽ giáo dục mầm nôn và giáo dục phổ thông
+ Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp
+ Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, gắn đào tạo với việc sự dụng.
+ Bảo đảm đủ số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học
+ Thực hiện xã hội hóa giáo dục
+ Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo.
+ Phát triển khoa học xã hội
+ Phát triển khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ
+ Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
- Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
- Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu
c) Chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hoá
- Phát triển văn hoá gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển kinh tế - xã hội
- Làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
- Bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
- Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ
- Xây dựng và hoàn thiện các giá trị mới và nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
d) Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả và ý nghĩa
+ Cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền văn hóa bước đầu được tạo dựng
+ Giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới.
+ Khoa học và công nghệ có bước phát triển, phục vụ thiết tha hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
+ Văn hóa phát triển, việc xây dựng đời sống văn hóa và nếp sống văn minh có nhiều tiến bộ
+ Những thắng lợi trong sự nghiệp văn hóa đã góp phần đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế xã hội.
- Hạn chế và nguyên nhân
+ Sự phát triển của văn hóa chưa tương xứng và chưa vững chắc.
+ Sự phát triển của nền văn hóa chưa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế, thiếu gắn bó với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
+ Việc đổi mới thể chế văn hóa còn chậm
+ Tình trạng nghèo nàn lạc hậu về văn hóa ở một số nơi còn nhiều.
II. QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ CHỦ TRƯƠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Thời kỳ trước đổi mới
a) Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội
- Trong những năm chiến tranh
- Trong những năm xây dựng hoà bình
b) Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả thực hiện chủ trương và ý nghĩa
- Hạn chế và nguyên nhân
2. Trong thời kỳ đổi mới
a) Quá trình đổi mới nhận thức về giải quyết các vấn đề xã hội
- Trong những năm 1986-1995
+ Các vấn đề xã hội lên tầm chính sách xã hội.
+ Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế là đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người.
- Trong những năm 1996-2008
+ Chính sách xã hội thể hiện rõ quan điểm: phát triển và làm lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp.
b) Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội
- Một là, kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội.
- Hai là, kế hoạch phát triển kinh tế với các mục tiêu phát triển phát triển các lĩnh vực xã hội có liên quan trực tiếp.
- Ba là, xây dựng và hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển
- Bốn là, chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ
- Năm là, coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con người (HDI) và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội.
c) Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội
- Khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu xoá đói giảm nghèo.
- Bảo đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân, tạo việc làm và thu nhập, chăm sóc sức khoẻ...
- Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả
- Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ và cải thiện giống nòi
- Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội
- Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng
d) Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả và ý nghĩa
+ Hình thành tính năng động, chủ động và tính tích cực xã hội
+ Công bằng xã hội ngày càng được thể hiện rõ hơn.
+ Bước đầu tạo sự thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội
+ Mọi người đều tham gia vào tạo việc làm
+ Thực hiện chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đối với tích cực xóa đói giảm nghèo.
+ Chú trọng xây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh
- Hạn chế và nguyên nhân
+ Vấn đề dân số, chất lượng dân sô, việc làm vẫn là vấn đề bức xuc và nan giải.
+ Khoảng cách giàu nghèo và bất công xã hội còn nhiều
+ Tệ nạn xã hội gia tăng
+ Hệ thống giáo dục, y tế lạc hậu xuông cấp
- Nguyên nhân:
+ Tăng trưởng kinh tế vẫn tách rời mục tiêu và chính sách xã hội, chạy theo số lượng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững xã hội
+ Quán lý xã hội còn nhiều bất cập, không theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội
Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt. Trong thực tế, không có sự giống nhau tuyệt đối.
Khái niệm văn hóa
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA Ở VIÊT NAM
Định hướng đối với các chính sách văn hóa
Quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới, vấn đề định hướng phát triển đất nước là cực kỳ quan trọng. Định hướng đúng để đạt tới mục tiêu mà cương lĩnh năm 1991 về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã đề ra, được Đại hội VII của Đảng thông qua. Theo đó, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa để phấn đấu đến năm 2020 cơ bản nước ta trở thành nước công nghiệp. Nhưng điều cốt lõi là chất lượng phát triển, phát triển muốn đạt chất lượng nhất thiết phải có nội dung văn hóa- xã hội. Phát triển văn hóa- xã hội và xây dựng con người luôn luôn gắn bó với định hướng chính trị, định hướng phát triển kinh tế đất nước. Và cũng như phát triển kinh tế, phát triển văn hóa cũng phải coi trọng chất lượng, phải đúng hướng. Bác Hồ từng nói . Những con người đó phải được chăm lo cả về bản lĩnh chính trị tư tưởng, học vấn, sức khỏe, trí tuệ, tình cảm và đạo đức, đó chính là văn hóa.
Nền văn hóa định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua các chính sách văn hóa mang tính nhân văn, vì con người; phát huy tiềm năng, trí tuệ con người để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, của nền kinh tế tri thức trong xu thế hội nhập quốc tế. Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng, ý nghĩa, vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống dân tộc và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã đề cập đến chính sách văn hóa trong nhiệm vụ thứ 10 đó là . Nhiệm vụ chỉ rõ việc phải hoàn chỉnh các văn bản luật pháp về văn hóa, nghệ thuật, thông tin trong điều kiện của cơ chế thị trường; ban hành các chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Do tầm quan trọng, tính cấp thiết của nhiệm vụ này nến Nghị quyết đã ghi nội dung đó vào giải pháp thứ II trong cụm các giải pháp
Đến Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX), Trung ương Đảng khẳng định cần tiếp tục thực hiện đầy đủ 5 quan điểm chỉ đạo đã được Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đề ra. Trong kết luận của Hội nghị Trung ương 10, mục tiêu đầu tiên xây dựng và phát triển văn hóa trong những năm tiếp theo nêu
Như vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đánh đuổi giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn quan tâm đến văn hóa và càng coi trọng hơn trong thời kỳ đổi mới, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội Đảng các kỳ VIII, IX, X; các kết luận, chỉ thị của Hội nghị Trung ương các khóa trên đều thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng trong nhìn nhận, đánh giá, chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, gắn chặt với chiến lược xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo hướng đó, văn hóa phải thực sự trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển, đồng thời đòi hỏi một cơ chế chính sách đảm bảo cho văn hóa và kinh tế cùng phát triển.
Yêu cầu chính trị tư tưởng đối với chính sách văn hóa:
Các chính sách văn hóa phải phản ánh những giá trị nhân văn của văn hóa Việt Nam. Muốn vậy phải xác định được những giá trị nhân văn của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tập trung làm nổi bật hệ thống giá trị nhân văn đó ở tinh thần Đồng thời phải kết hợp hài hòa 3 lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích toàn xã hội. Đây cũng chính là một trong những động lực của sự nghiệp đổi mới.
Các chính sách văn hóa đều theo tinh thần xã hội hóa. Hiện nay còn không ít người hiểu vấn đề xã hội hóa chưa đầy đủ. Điều đó trở thành lực cản cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Công tác giáo dục, tuyên truyền cần phải làm cho mọi người nhận thức được xã hội hóa là vấn đề hết sức cần thiết, nhất là đối với hoàn cảnh kinh tế của nước ta còn nhiều khó khăn, Nhà nước không thể “bao” toàn bộ. Xã hội hóa là nhằm tạo sự quan tâm của toàn xã hội; thu hút trí tuệ, nhân lực, vật lực của toàn xã hội; gây nhân tố thúc đẩy các hoạt động văn hóa phát triển theo hướng biến đổi về chất, đổi mới về hình thức và nội dung. Xã hội hóa cũng là một nội dung quan trọng của giải pháp xây dựng, ban hành các chính sách văn hóa trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII). Trong quá trình đất nước thực hiện chủ trương đổi mới, nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì xã hội hóa hoạt động văn hóa được coi như một động lực thúc đẩy các hoạt động văn hóa phát triển.
Chính sách văn hóa đúng định hướng của Đảng, bám sát yêu cầu về tư tưởng chính trị còn góp phần tạo nên sự ổn định và lành mạnh hóa xã hội. Ở đâu không ổn định thì ở đó không thể phát triển. Một gia đình, tập thể, cộng đồng và lớn hơn là toàn xã hội nếu có đời sống văn hóa phong phú, chất lượng cao, bình đẳng… tức là có chính sách văn hóa nhân văn.
Xây dựng đời sống văn hóa được coi như bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, là nhiệm vụ quan trọng của việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Đồng thời xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cũng chính là góp phần tạo ra môi trường chính trị- xã hội ổn định, an toàn và bền vững trên cơ sở đời sống kinh tế được đảm bảo.
- Quá trình xây dựng nền văn hoá ở Việt Nam theo quan điểm của Đảng:
Từ khi ra đời (năm1930) và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc cho đến nay, Đảng ta luôn xác định, văn hoá là một lĩnh vực rất quan trọng; xây dựng một nền văn hoá dân tộc, hướng văn hoá vào phục vụ có hiệu quả sự nghiệp cách mạng là một vấn đề có tính chất chiến lược, một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng. Do vậy, trước những bước ngoặt của lịch sử dân tộc, Đảng ta đã kịp thời đề ra những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo; đưa ra những chủ trương, chính sách để lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam.
Từ khi ra đời (năm1930) và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc cho đến nay, Đảng ta luôn xác định, văn hoá là một lĩnh vực rất quan trọng; xây dựng một nền văn hoá dân tộc, hướng văn hoá vào phục vụ có hiệu quả sự nghiệp cách mạng là một vấn đề có tính chất chiến lược, một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng. Do vậy, trước những bước ngoặt của lịch sử dân tộc, Đảng ta đã kịp thời đề ra những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo; đưa ra những chủ trương, chính sách để lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam.
Ngay từ năm 1943, xây dựng Đề Cương Văn Hoá Việt Nam, Đảng ta đã xác định: Nền văn hóa mới của Việt Nam bao gồm ba tính chất: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Đề cương ghi rõ: “Văn hoá mới Việt Nam là một nền văn hoá có tính chất dân tộc về hính thức và dân chủ về nội dung”. Tiếp đến, tại hội nghị văn hoá Toàn quốc lần thứ 2 (7/ 1948), tổng bí thư ban chấp hành trung ương khóa III, đồng chí Trường Chinh nhấn mạnh thêm, tính chất đại chúng của nền văn hóa thể hiện ở hai nội dung nhân dân và nhân văn. Các tính chất đó của nền văn hoá Việt Nam mới tiếp tục được Đảng ta khẳng định qua các Văn kiện, Nghị quyết của đảng trong các thời kỳ Đại hội tiếp theo. Đặc biệt, tại nghị quyết Trung ương V khoá VII, một lần nữa Đảng ta khẳng định rõ, nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nền văn hoá “ tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Mặt khác, chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” trong thời kỳ đổi mới còn được xác định là một trong các đặc trưng của CNXH.
Thực tế cho thấy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nhất quán mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt Nam mới mang tính chất “tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc”. Vì vậy, từ Đại hội VII của Đảng cho đến nay, quan điểm chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển văn hoá ở nước ta là hướng tới mục tiêu “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đó thực sự là tư duy mới của Đảng về văn hóa và bảo đảm phù hợp với ý nguyện của nhân dân, phù hợp với xu thế của thời đại.
Từ tầm nhìn chiến lược về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta còn khẳng định, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu; vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đó là quan điểm chỉ đạo nhất quán và xuyên suốt về xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước.
Có thể nói, yêu cầu xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội là Cương lĩnh về Văn hoá của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Quan điểm đó vừa có ý nghĩa cấp thiết, cấp bách và có tính chất chiến lược lâu dài đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Điều đó thể hiện tính nhất quán quan điểm về phát triển văn hoá của Đảng từ khi ra đời và nắm dữ vai trò lãnh đạo đến nay.
Quan điểm về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Cương lĩnh văn hoá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Đảng một lần nữa, làm nổi bật các tính chất của nền văn hóa Việt nam mới.
Theo Đảng ta, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong thực tiễn – xã hội tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển của con người và xã hội. Văn hoá thể hiện trình độ của con người qua những mối quan hệ xã hội, các phương tiện mà con người sử dụng để cải biến tự nhiên, cải biến xã hội, hoàn thiện bản thân theo hướng tiến bộ. Do đó tự bản chất văn hoá luôn bao hàm tính chất tiên tiến. Tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam luôn thống nhất với tính nhân loại. Bởi vì, văn hoá dân tộc là một bộ phận văn hoá nhân loại. Nên, nền văn hoá tiên tiến phải là nền văn hóa phù hợp với quá trình vận động của lịch sử, góp phần thức đẩy xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. Tính tiên tiến của nền văn hóa luôn đòi hỏi phải tạo nên các giá trị cao đẹp và tiến bộ phù hợp với xu thế của thời đại. Ở nước ta, trước hết thể hiện mục tiêu văn hoá hướng tới là “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Điều đó thể hiện tinh thần nhân văn, tinh thần dân chủ và tiến bộ, bảo đảm tính hiện đại cả về nội dung lẫn hình thức.
Bên cạch tính chất tiên tiến, văn hoá luôn có tính chất dân tộc; văn hóa luôn thuộc về một cộng đồng dân tộc nhất định. Nó là sự kết tinh, kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tính dân tộc của mỗi nền văn hoá là những thuộc tính, diện mạo, cốt cách riêng được thể hiện tập trung trong bản sắc văn hóa. Văn hóa là linh hồn của một dân tộc, còn văn hoá dân tộc thì dân tộc còn tồn tại.
Bản sắc dân tộc là tổng hoà các giá trị bền vững những tinh hoa văn hoá vật chất và tinh thần, làm nên những sắc thái văn hoá riêng của một dân tộc trong lịch sử và trong quá trình phát triển. Đó chính là tính đặc thù dân tộc của văn hoá được lưu giữ, định hướng cho sự phát triển của nền văn hoá.
Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng dân tộc được vun đắp qua quá trình dựng nước và giữ nước. Đối với văn hóa Việt nam, đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết trong chỉnh thể Nhà - làng, xã - tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, độ lượng, trọng tình nghĩa, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động...Giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc phải đi đôi với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục tập quán, lề thói lạc hậu, bảo thủ.
Như vậy, quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt nam “ tiên tiến” gắn với giữ gìn “ bản sắc dân tộc” là một thể thống nhất không thể tách rời nhau. Đó là tư tưởng nhất quán của Đảng ta trong xây dựng nền văn hoá Việt Nam, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.
Thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới:
- Kinh tế tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% năm, nông nghiệp phát triển liên tục, sản lượng lương thực ngày càng tăng... Sản xuất công nghiệp tăng bình quân 13,5%/năm. Việc nuôi trồng và khai thác thủy sản, hải sản được mở rộng; hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường, các ngành dịch vụ, xuất khẩu đều phát triển. Năm 2000 đã ngăn chặn được đà giảm sút tăng trường kt, đạt và vượt qua các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch đề ra.
- Văn hóa xh có nhiều tiến bộ, trình độ dân trí ngày càng nâng lên, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Giáo dục, đào tạo phát triển cả về quy mô và cơ sở vật chất. Các nhu cầu thiết yếu của nhân dân như ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe, đi lại, học tập giải trí ngày càng đáp ứng tốt hơn; mỗi năm 1,2 triệu người lao động có việc làm mới; công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kq nổi bật.
- Tình hình chính trị, xh cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường.
- Công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng được chú trọng, bước đầu tạo được sự chuyển biến tích cực trong cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, hệ thống c/trị được củng cố
- Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kt quốc tế được tiến hành chủ động và đạt kết quả tốt. Nước ta tham gia tích cực hiệp hội các nước ĐNA, diễn đàn hợp tác kt châu á-thái bình dương, có quan hệ thương mại với 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.
- Đảng ta tiếp tục củng cố tình hữu nghị đoàn kết với bè bạn trên TG.
Những thành tự đó đã làm thay đổi bộ mặt đất nước và nâng cao đời sống của nhân dân, củng cố vững chắc nền độc lập dt và định hướng XHCN, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốctế.
* Những hạn chế:
+ Nước ta còn nghèo và kém phát triển, chúng ta lại chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sx, tiết kiệm trong tiêu dùng để dồn vốn cho đầu tư phát triển. Tình trạng tiêu xài lãng phí phổ biến và nghiêm trọng. Việc huy động các nguồn vốn và sử dụng các nguồn lực còn phân tán, kém phát triển.
+ Tình hình xh còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết. Nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí của công chưa được ngăn chặn. Việc làm đang là vấn đề gay gắt. Sự phân hóa giàu-nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh. Đời sống của 1 bộ phận nhân dân còn nhiều nơi rất thấp. Tệ nạn xh phát triển. Trật tự an toàn xh còn nhiều phức tạp, làm cho quần chúng nhân dân lo lắng.
+ Việc lãnh đạo x/dựng q/hệ sx mới có phần vừa lúng túng vừa buông lỏng. Chậm tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo động lực và đ/kiện thuận lợi cho các thành phần kt hoạt động. Việc quản lý kt hợp tác, liên doanh với nước ngoài còn nhiều sơ hở.
+ Quản lý nhà nước về kt, xh còn yếu. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ và nhất quán, thực hiện chưa nghiêm.
+ Hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của đảng, hiệu lực quản lý và điều hành của nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình. Còn nhiều biểu hiện quan liêu, chưa tôn trọng, thậm chí còn vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ của nhân dân. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ đảng viên phai nhạt lý tưởng CM, tha hóa về phẩm chất, đạo đức; sức chiến đấu của 1 bộ phận tổ chức cơ sở đảng suy yếu.
* Bài học kinh nghiệm:
Đại hội khẳng định những bài học kinh nghiệm mà các đại hội đảng toàn quốc 6,7,8 vẫn còn nguyên giá trị. Qua thực tiễn của công cuộc đổi mới trong mấy năm qua, đại hội 9 đã nhấn mạnh những bài học kinh nghiệm chủ yếu sau đây:
+ Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dt và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa M-L và tthcm.
+ Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phải phù hợp với thực tiễn và luôn luôn sáng tạo.
+ Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh của dt với sức mạnh thời đại.
+ Bốn là, đường lối đúng đắn của đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới.
Tác động của đổi mới và hội nhập quốc tế đến xây dựng nền văn hóa Việt Nam:
Với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, sự phát triển của công nghệ thông tin, cùng với đó là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, giao lưu văn hóa có những thay đổi cả về hình thức và tính chất. Hình thái mới của giao lưu văn hóa thời hiện đại là cộng sinh chứ không đơn thuần là tiếp nhận hay không tiếp nhận. Trong bối cảnh đa dạng văn hóa như vậy, sự đối thoại giữa các nền văn hóa nhiều khi đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định hơn là những đối đầu vũ trang để giải quyết những vấn đề về xung đột tôn giáo, sắc tộc, lãnh thổ… Quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến những giá trị chung, giá trị nhân loại, đồng thời thừa nhận cái khác biệt của người, để các dân tộc khác thừa nhận cái khác biệt của ta.
Trong khi đó, văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Chính vì vậy, văn hóa đã trở thành nền tảng quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn, giúp dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, xây dựng và phát triển đất nước.
Trước thực tiễn đó, bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, văn hóa Việt Nam cần mở rộng giao lưu với thế giới, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, nhằm không ngừng làm giàu kho tàng văn hóa dân tộc, thúc đẩy tiến trình phát triển chung của đất nước. Văn hóa Việt Nam đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi to lớn, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức, khó khăn không nhỏ.
THE END
NAM TIÊN TI?N D?M DÀ B?N S?C DÂN T?C
I. Phương hướng xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá
.Phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN.
. Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
.Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
.Làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động của xã hội, vào từng người, từng gia đình,từng tập thể và cộng đồng,từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người
. Tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH.
II. Đặc trưng của nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
1. Tính chất tiên tiến của nền văn hoá
Là nền văn hoá yêu nước và tiến bộ
Phải thể hiện tinh thần nhân văn và dân chủ sâu sắc
Phản ánh trình độ cao mang tính hiện đại, cập nhật với thành tựu chung của khu vực và cộng đồng quốc tế
Thể hiện ở hình thức biểu hiện, phương tiện chuyển tải nội dung
Nền văn hóa nước ta hiện nay có cả đặc trưng của một nền văn hoá tiên tiến
2. Bản sắc dân tộc của văn hoá
Khái niệm: Là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh riêng của mỗi nền văn hoá, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hoá của dân tộc này với dân tộc khác.
Bản sắc văn hoá dân tộc là sự tổng hoà các khuynh hướng sáng tạo văn hoá vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế các hệ tư tưởng… trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó.
Bản sắc văn hoá dân tộc được thể hiện rõ trong truyền thống của dân tộc. Truyền thống văn hoá là các giá trị văn hoá do lịch sử truyền lại, được các thế hệ sau kế thừa, khai thác và phát huy trong thời đại của họ tạo nên sự tiếp nối của lịch sử văn hoá
Truyền thống dân tộc Việt Nam được hình thành dựa trên một hệ thống các giá trị:
Bản sắc dân tộc của văn hoá việt nam
Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- giađình- làng xã - tổ quốc
Đức tính cần cù sáng tạo trong lao động
Sự tinh tế trong ứng xử
Lòng nhân ái khoan dung trọng nghĩa tình đạo lý
Bản sắc dân tộc của văn hóa là một khái niệm “động” và “mở”, nó mang tính lịch sử cụ thể và vận động.
Cùng với những truyền thống, lề thói mang nặng hạn chế lịch sử không những không nên giữ gìn mà cần phải cải biến bài trừ nó. Những truyền thống, lề thói ấy chẳng những không nên giữ gìn mà cần phải cải biến nó.
III. Những quan điểm chỉ đạo cơ bản và nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
1. Những quan điểm chỉ đạo cơ bản
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
Văn hoá là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp lâu dài đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
2. Những nhiệm vụ cụ thể
a.Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới b.Nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hoá
c.Phát triển văn học, nghệ thuật
d.Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc
e.Phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ f. Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng
g. Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số h. Chính sách văn hóa đối với tôn giáo
i. Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá
j. Củng cố và hoàn thiện thể chế văn hoá
Mâm cúng mời tổ tiên, thần linh đến dự lễ
Thầy mo làm lễ cấp sắc cho con cháu đủ tuổi để được công nhận đã trưởng thành.
Trong lễ cấp sắc gồm có trống bông, chiêng, trống cơm...
Tiến hành các nghi lễ cấp sắc
Lễ hội xuống đồng “lồng tồng của ngườiTày”
Đường lối phát triển văn hoá ở nước ta
I
I. QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ
1. Thời kỳ trước đổi mới
a) Quan điểm, chủ trương về xây dựng nền văn hoá mới
- Trong những năm 1943-1954: văn hóa được xác định là một trong ba mặt trận của cách mạng.
Trong những năm 1943, nền văn hóa Việt nam có tính chất dân tộc về hình thức, dân chủ về nội dung
Sau Cách mạng tháng Tám, văn hóa Việt Nam được xây dựng trên quan điểm chống mù chữ và giáo dục lại tinh thần nhân dân.
Trong Kháng chiến chống Pháp, trên quan điểm xây dựng văn hóa nhàm phục vụ kháng chiến, tất cả vì kháng chiến.
- Trong những năm 1955-1986: văn hóa được xác định là một trong ba cuộc cách mạng trong thời kỳ quá độ lên CNXH
b) Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả và ý nghĩa
Nền văn hóa dân chủ mới - văn hóa cứu quốc, đã bước đầu được hình thành và đạt nhiều thành tựu trong kháng chiến và kiến quốc.
- Hạn chế và nguyên nhân
Công tác tư tưởng và văn hóa thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu. Việc xây dựng thể chế văn hóa còn chậm. Công tác văn hóa tư tưởng còn ảnh hưởng nhiều bởi nhiều tư duy chính trị của các giai đoạn lịch sử.
Những hạn chế này là do chiến tranh cùng với cơ chế quản lý của Nhà nước tác động đến.
2. Trong thời kỳ đổi mới
a) Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hoá
- Trong những năm 1986-1995
- Trong những năm 1996-2008
b) Quan điểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển nền văn hoá
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
+ Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội – nó thấm nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng; được truyền lại, nối tiếp và phát huy qua các thế hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc, đồng thời nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội – văn hóa.
+ Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển: Nguồn lực nội sinh của của sự phát triển của một dân tộc thấm sau trong văn hóa. Sự phát triển của dân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp nhận cái mới, tạo ra cái mới, nhưng lại không thể tách khỏi cội nguồn. Cội nguồn đó của mỗi quốc gia, dân tộc là văn hóa.
+ Văn hóa là mục tiêu của phát triển: Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh” chính là mục tiêu văn hóa
+ Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng xã hội mới: Con người là một trong những nguồn lực đặc biệt quan trọng và vô tận trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa trực tiếp tạo dựng và nâng cao nguồn lực con người.
Nền văn hoá mà ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân t
+ Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ
+ Bản sắc văn hóa dân tộc: là toàn bộ những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử.
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc.
- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
+ Mọi người Việt Nam đều phải tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà.
+ Để xây dựng đội ngũ trí thức, quan điểm của Đảng là: giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu.
Biện pháp để thực hiện là:
+ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
+ Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở.
+ Đổi mới mạnh mẽ giáo dục mầm nôn và giáo dục phổ thông
+ Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp
+ Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, gắn đào tạo với việc sự dụng.
+ Bảo đảm đủ số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học
+ Thực hiện xã hội hóa giáo dục
+ Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo.
+ Phát triển khoa học xã hội
+ Phát triển khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ
+ Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
- Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
- Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu
c) Chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hoá
- Phát triển văn hoá gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển kinh tế - xã hội
- Làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
- Bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
- Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ
- Xây dựng và hoàn thiện các giá trị mới và nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
d) Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả và ý nghĩa
+ Cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền văn hóa bước đầu được tạo dựng
+ Giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới.
+ Khoa học và công nghệ có bước phát triển, phục vụ thiết tha hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
+ Văn hóa phát triển, việc xây dựng đời sống văn hóa và nếp sống văn minh có nhiều tiến bộ
+ Những thắng lợi trong sự nghiệp văn hóa đã góp phần đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế xã hội.
- Hạn chế và nguyên nhân
+ Sự phát triển của văn hóa chưa tương xứng và chưa vững chắc.
+ Sự phát triển của nền văn hóa chưa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế, thiếu gắn bó với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
+ Việc đổi mới thể chế văn hóa còn chậm
+ Tình trạng nghèo nàn lạc hậu về văn hóa ở một số nơi còn nhiều.
II. QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ CHỦ TRƯƠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Thời kỳ trước đổi mới
a) Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội
- Trong những năm chiến tranh
- Trong những năm xây dựng hoà bình
b) Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả thực hiện chủ trương và ý nghĩa
- Hạn chế và nguyên nhân
2. Trong thời kỳ đổi mới
a) Quá trình đổi mới nhận thức về giải quyết các vấn đề xã hội
- Trong những năm 1986-1995
+ Các vấn đề xã hội lên tầm chính sách xã hội.
+ Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế là đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người.
- Trong những năm 1996-2008
+ Chính sách xã hội thể hiện rõ quan điểm: phát triển và làm lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp.
b) Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội
- Một là, kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội.
- Hai là, kế hoạch phát triển kinh tế với các mục tiêu phát triển phát triển các lĩnh vực xã hội có liên quan trực tiếp.
- Ba là, xây dựng và hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển
- Bốn là, chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ
- Năm là, coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con người (HDI) và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội.
c) Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội
- Khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu xoá đói giảm nghèo.
- Bảo đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân, tạo việc làm và thu nhập, chăm sóc sức khoẻ...
- Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả
- Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ và cải thiện giống nòi
- Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội
- Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng
d) Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả và ý nghĩa
+ Hình thành tính năng động, chủ động và tính tích cực xã hội
+ Công bằng xã hội ngày càng được thể hiện rõ hơn.
+ Bước đầu tạo sự thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội
+ Mọi người đều tham gia vào tạo việc làm
+ Thực hiện chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đối với tích cực xóa đói giảm nghèo.
+ Chú trọng xây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh
- Hạn chế và nguyên nhân
+ Vấn đề dân số, chất lượng dân sô, việc làm vẫn là vấn đề bức xuc và nan giải.
+ Khoảng cách giàu nghèo và bất công xã hội còn nhiều
+ Tệ nạn xã hội gia tăng
+ Hệ thống giáo dục, y tế lạc hậu xuông cấp
- Nguyên nhân:
+ Tăng trưởng kinh tế vẫn tách rời mục tiêu và chính sách xã hội, chạy theo số lượng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững xã hội
+ Quán lý xã hội còn nhiều bất cập, không theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội
Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt. Trong thực tế, không có sự giống nhau tuyệt đối.
Khái niệm văn hóa
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA Ở VIÊT NAM
Định hướng đối với các chính sách văn hóa
Quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới, vấn đề định hướng phát triển đất nước là cực kỳ quan trọng. Định hướng đúng để đạt tới mục tiêu mà cương lĩnh năm 1991 về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã đề ra, được Đại hội VII của Đảng thông qua. Theo đó, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa để phấn đấu đến năm 2020 cơ bản nước ta trở thành nước công nghiệp. Nhưng điều cốt lõi là chất lượng phát triển, phát triển muốn đạt chất lượng nhất thiết phải có nội dung văn hóa- xã hội. Phát triển văn hóa- xã hội và xây dựng con người luôn luôn gắn bó với định hướng chính trị, định hướng phát triển kinh tế đất nước. Và cũng như phát triển kinh tế, phát triển văn hóa cũng phải coi trọng chất lượng, phải đúng hướng. Bác Hồ từng nói . Những con người đó phải được chăm lo cả về bản lĩnh chính trị tư tưởng, học vấn, sức khỏe, trí tuệ, tình cảm và đạo đức, đó chính là văn hóa.
Nền văn hóa định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua các chính sách văn hóa mang tính nhân văn, vì con người; phát huy tiềm năng, trí tuệ con người để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, của nền kinh tế tri thức trong xu thế hội nhập quốc tế. Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng, ý nghĩa, vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống dân tộc và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã đề cập đến chính sách văn hóa trong nhiệm vụ thứ 10 đó là . Nhiệm vụ chỉ rõ việc phải hoàn chỉnh các văn bản luật pháp về văn hóa, nghệ thuật, thông tin trong điều kiện của cơ chế thị trường; ban hành các chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Do tầm quan trọng, tính cấp thiết của nhiệm vụ này nến Nghị quyết đã ghi nội dung đó vào giải pháp thứ II trong cụm các giải pháp
Đến Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX), Trung ương Đảng khẳng định cần tiếp tục thực hiện đầy đủ 5 quan điểm chỉ đạo đã được Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đề ra. Trong kết luận của Hội nghị Trung ương 10, mục tiêu đầu tiên xây dựng và phát triển văn hóa trong những năm tiếp theo nêu
Như vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đánh đuổi giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn quan tâm đến văn hóa và càng coi trọng hơn trong thời kỳ đổi mới, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội Đảng các kỳ VIII, IX, X; các kết luận, chỉ thị của Hội nghị Trung ương các khóa trên đều thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng trong nhìn nhận, đánh giá, chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, gắn chặt với chiến lược xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo hướng đó, văn hóa phải thực sự trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển, đồng thời đòi hỏi một cơ chế chính sách đảm bảo cho văn hóa và kinh tế cùng phát triển.
Yêu cầu chính trị tư tưởng đối với chính sách văn hóa:
Các chính sách văn hóa phải phản ánh những giá trị nhân văn của văn hóa Việt Nam. Muốn vậy phải xác định được những giá trị nhân văn của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tập trung làm nổi bật hệ thống giá trị nhân văn đó ở tinh thần Đồng thời phải kết hợp hài hòa 3 lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích toàn xã hội. Đây cũng chính là một trong những động lực của sự nghiệp đổi mới.
Các chính sách văn hóa đều theo tinh thần xã hội hóa. Hiện nay còn không ít người hiểu vấn đề xã hội hóa chưa đầy đủ. Điều đó trở thành lực cản cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Công tác giáo dục, tuyên truyền cần phải làm cho mọi người nhận thức được xã hội hóa là vấn đề hết sức cần thiết, nhất là đối với hoàn cảnh kinh tế của nước ta còn nhiều khó khăn, Nhà nước không thể “bao” toàn bộ. Xã hội hóa là nhằm tạo sự quan tâm của toàn xã hội; thu hút trí tuệ, nhân lực, vật lực của toàn xã hội; gây nhân tố thúc đẩy các hoạt động văn hóa phát triển theo hướng biến đổi về chất, đổi mới về hình thức và nội dung. Xã hội hóa cũng là một nội dung quan trọng của giải pháp xây dựng, ban hành các chính sách văn hóa trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII). Trong quá trình đất nước thực hiện chủ trương đổi mới, nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì xã hội hóa hoạt động văn hóa được coi như một động lực thúc đẩy các hoạt động văn hóa phát triển.
Chính sách văn hóa đúng định hướng của Đảng, bám sát yêu cầu về tư tưởng chính trị còn góp phần tạo nên sự ổn định và lành mạnh hóa xã hội. Ở đâu không ổn định thì ở đó không thể phát triển. Một gia đình, tập thể, cộng đồng và lớn hơn là toàn xã hội nếu có đời sống văn hóa phong phú, chất lượng cao, bình đẳng… tức là có chính sách văn hóa nhân văn.
Xây dựng đời sống văn hóa được coi như bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, là nhiệm vụ quan trọng của việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Đồng thời xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cũng chính là góp phần tạo ra môi trường chính trị- xã hội ổn định, an toàn và bền vững trên cơ sở đời sống kinh tế được đảm bảo.
- Quá trình xây dựng nền văn hoá ở Việt Nam theo quan điểm của Đảng:
Từ khi ra đời (năm1930) và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc cho đến nay, Đảng ta luôn xác định, văn hoá là một lĩnh vực rất quan trọng; xây dựng một nền văn hoá dân tộc, hướng văn hoá vào phục vụ có hiệu quả sự nghiệp cách mạng là một vấn đề có tính chất chiến lược, một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng. Do vậy, trước những bước ngoặt của lịch sử dân tộc, Đảng ta đã kịp thời đề ra những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo; đưa ra những chủ trương, chính sách để lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam.
Từ khi ra đời (năm1930) và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc cho đến nay, Đảng ta luôn xác định, văn hoá là một lĩnh vực rất quan trọng; xây dựng một nền văn hoá dân tộc, hướng văn hoá vào phục vụ có hiệu quả sự nghiệp cách mạng là một vấn đề có tính chất chiến lược, một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng. Do vậy, trước những bước ngoặt của lịch sử dân tộc, Đảng ta đã kịp thời đề ra những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo; đưa ra những chủ trương, chính sách để lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam.
Ngay từ năm 1943, xây dựng Đề Cương Văn Hoá Việt Nam, Đảng ta đã xác định: Nền văn hóa mới của Việt Nam bao gồm ba tính chất: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Đề cương ghi rõ: “Văn hoá mới Việt Nam là một nền văn hoá có tính chất dân tộc về hính thức và dân chủ về nội dung”. Tiếp đến, tại hội nghị văn hoá Toàn quốc lần thứ 2 (7/ 1948), tổng bí thư ban chấp hành trung ương khóa III, đồng chí Trường Chinh nhấn mạnh thêm, tính chất đại chúng của nền văn hóa thể hiện ở hai nội dung nhân dân và nhân văn. Các tính chất đó của nền văn hoá Việt Nam mới tiếp tục được Đảng ta khẳng định qua các Văn kiện, Nghị quyết của đảng trong các thời kỳ Đại hội tiếp theo. Đặc biệt, tại nghị quyết Trung ương V khoá VII, một lần nữa Đảng ta khẳng định rõ, nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nền văn hoá “ tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Mặt khác, chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” trong thời kỳ đổi mới còn được xác định là một trong các đặc trưng của CNXH.
Thực tế cho thấy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nhất quán mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt Nam mới mang tính chất “tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc”. Vì vậy, từ Đại hội VII của Đảng cho đến nay, quan điểm chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển văn hoá ở nước ta là hướng tới mục tiêu “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đó thực sự là tư duy mới của Đảng về văn hóa và bảo đảm phù hợp với ý nguyện của nhân dân, phù hợp với xu thế của thời đại.
Từ tầm nhìn chiến lược về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta còn khẳng định, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu; vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đó là quan điểm chỉ đạo nhất quán và xuyên suốt về xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước.
Có thể nói, yêu cầu xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội là Cương lĩnh về Văn hoá của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Quan điểm đó vừa có ý nghĩa cấp thiết, cấp bách và có tính chất chiến lược lâu dài đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Điều đó thể hiện tính nhất quán quan điểm về phát triển văn hoá của Đảng từ khi ra đời và nắm dữ vai trò lãnh đạo đến nay.
Quan điểm về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Cương lĩnh văn hoá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Đảng một lần nữa, làm nổi bật các tính chất của nền văn hóa Việt nam mới.
Theo Đảng ta, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong thực tiễn – xã hội tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển của con người và xã hội. Văn hoá thể hiện trình độ của con người qua những mối quan hệ xã hội, các phương tiện mà con người sử dụng để cải biến tự nhiên, cải biến xã hội, hoàn thiện bản thân theo hướng tiến bộ. Do đó tự bản chất văn hoá luôn bao hàm tính chất tiên tiến. Tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam luôn thống nhất với tính nhân loại. Bởi vì, văn hoá dân tộc là một bộ phận văn hoá nhân loại. Nên, nền văn hoá tiên tiến phải là nền văn hóa phù hợp với quá trình vận động của lịch sử, góp phần thức đẩy xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. Tính tiên tiến của nền văn hóa luôn đòi hỏi phải tạo nên các giá trị cao đẹp và tiến bộ phù hợp với xu thế của thời đại. Ở nước ta, trước hết thể hiện mục tiêu văn hoá hướng tới là “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Điều đó thể hiện tinh thần nhân văn, tinh thần dân chủ và tiến bộ, bảo đảm tính hiện đại cả về nội dung lẫn hình thức.
Bên cạch tính chất tiên tiến, văn hoá luôn có tính chất dân tộc; văn hóa luôn thuộc về một cộng đồng dân tộc nhất định. Nó là sự kết tinh, kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tính dân tộc của mỗi nền văn hoá là những thuộc tính, diện mạo, cốt cách riêng được thể hiện tập trung trong bản sắc văn hóa. Văn hóa là linh hồn của một dân tộc, còn văn hoá dân tộc thì dân tộc còn tồn tại.
Bản sắc dân tộc là tổng hoà các giá trị bền vững những tinh hoa văn hoá vật chất và tinh thần, làm nên những sắc thái văn hoá riêng của một dân tộc trong lịch sử và trong quá trình phát triển. Đó chính là tính đặc thù dân tộc của văn hoá được lưu giữ, định hướng cho sự phát triển của nền văn hoá.
Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng dân tộc được vun đắp qua quá trình dựng nước và giữ nước. Đối với văn hóa Việt nam, đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết trong chỉnh thể Nhà - làng, xã - tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, độ lượng, trọng tình nghĩa, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động...Giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc phải đi đôi với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục tập quán, lề thói lạc hậu, bảo thủ.
Như vậy, quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt nam “ tiên tiến” gắn với giữ gìn “ bản sắc dân tộc” là một thể thống nhất không thể tách rời nhau. Đó là tư tưởng nhất quán của Đảng ta trong xây dựng nền văn hoá Việt Nam, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.
Thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới:
- Kinh tế tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% năm, nông nghiệp phát triển liên tục, sản lượng lương thực ngày càng tăng... Sản xuất công nghiệp tăng bình quân 13,5%/năm. Việc nuôi trồng và khai thác thủy sản, hải sản được mở rộng; hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường, các ngành dịch vụ, xuất khẩu đều phát triển. Năm 2000 đã ngăn chặn được đà giảm sút tăng trường kt, đạt và vượt qua các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch đề ra.
- Văn hóa xh có nhiều tiến bộ, trình độ dân trí ngày càng nâng lên, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Giáo dục, đào tạo phát triển cả về quy mô và cơ sở vật chất. Các nhu cầu thiết yếu của nhân dân như ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe, đi lại, học tập giải trí ngày càng đáp ứng tốt hơn; mỗi năm 1,2 triệu người lao động có việc làm mới; công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kq nổi bật.
- Tình hình chính trị, xh cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường.
- Công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng được chú trọng, bước đầu tạo được sự chuyển biến tích cực trong cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, hệ thống c/trị được củng cố
- Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kt quốc tế được tiến hành chủ động và đạt kết quả tốt. Nước ta tham gia tích cực hiệp hội các nước ĐNA, diễn đàn hợp tác kt châu á-thái bình dương, có quan hệ thương mại với 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.
- Đảng ta tiếp tục củng cố tình hữu nghị đoàn kết với bè bạn trên TG.
Những thành tự đó đã làm thay đổi bộ mặt đất nước và nâng cao đời sống của nhân dân, củng cố vững chắc nền độc lập dt và định hướng XHCN, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốctế.
* Những hạn chế:
+ Nước ta còn nghèo và kém phát triển, chúng ta lại chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sx, tiết kiệm trong tiêu dùng để dồn vốn cho đầu tư phát triển. Tình trạng tiêu xài lãng phí phổ biến và nghiêm trọng. Việc huy động các nguồn vốn và sử dụng các nguồn lực còn phân tán, kém phát triển.
+ Tình hình xh còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết. Nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí của công chưa được ngăn chặn. Việc làm đang là vấn đề gay gắt. Sự phân hóa giàu-nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh. Đời sống của 1 bộ phận nhân dân còn nhiều nơi rất thấp. Tệ nạn xh phát triển. Trật tự an toàn xh còn nhiều phức tạp, làm cho quần chúng nhân dân lo lắng.
+ Việc lãnh đạo x/dựng q/hệ sx mới có phần vừa lúng túng vừa buông lỏng. Chậm tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo động lực và đ/kiện thuận lợi cho các thành phần kt hoạt động. Việc quản lý kt hợp tác, liên doanh với nước ngoài còn nhiều sơ hở.
+ Quản lý nhà nước về kt, xh còn yếu. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ và nhất quán, thực hiện chưa nghiêm.
+ Hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của đảng, hiệu lực quản lý và điều hành của nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình. Còn nhiều biểu hiện quan liêu, chưa tôn trọng, thậm chí còn vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ của nhân dân. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ đảng viên phai nhạt lý tưởng CM, tha hóa về phẩm chất, đạo đức; sức chiến đấu của 1 bộ phận tổ chức cơ sở đảng suy yếu.
* Bài học kinh nghiệm:
Đại hội khẳng định những bài học kinh nghiệm mà các đại hội đảng toàn quốc 6,7,8 vẫn còn nguyên giá trị. Qua thực tiễn của công cuộc đổi mới trong mấy năm qua, đại hội 9 đã nhấn mạnh những bài học kinh nghiệm chủ yếu sau đây:
+ Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dt và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa M-L và tthcm.
+ Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phải phù hợp với thực tiễn và luôn luôn sáng tạo.
+ Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh của dt với sức mạnh thời đại.
+ Bốn là, đường lối đúng đắn của đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới.
Tác động của đổi mới và hội nhập quốc tế đến xây dựng nền văn hóa Việt Nam:
Với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, sự phát triển của công nghệ thông tin, cùng với đó là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, giao lưu văn hóa có những thay đổi cả về hình thức và tính chất. Hình thái mới của giao lưu văn hóa thời hiện đại là cộng sinh chứ không đơn thuần là tiếp nhận hay không tiếp nhận. Trong bối cảnh đa dạng văn hóa như vậy, sự đối thoại giữa các nền văn hóa nhiều khi đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định hơn là những đối đầu vũ trang để giải quyết những vấn đề về xung đột tôn giáo, sắc tộc, lãnh thổ… Quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến những giá trị chung, giá trị nhân loại, đồng thời thừa nhận cái khác biệt của người, để các dân tộc khác thừa nhận cái khác biệt của ta.
Trong khi đó, văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Chính vì vậy, văn hóa đã trở thành nền tảng quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn, giúp dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, xây dựng và phát triển đất nước.
Trước thực tiễn đó, bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, văn hóa Việt Nam cần mở rộng giao lưu với thế giới, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, nhằm không ngừng làm giàu kho tàng văn hóa dân tộc, thúc đẩy tiến trình phát triển chung của đất nước. Văn hóa Việt Nam đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi to lớn, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức, khó khăn không nhỏ.
THE END
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓









sao bài giảng tải về không giải nén được nhỉ???