Tìm kiếm Giáo án
Tuần 31. Văn bản tổng kết

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: nguyễn việt anh
Ngày gửi: 20h:39' 26-02-2023
Dung lượng: 47.8 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: nguyễn việt anh
Ngày gửi: 20h:39' 26-02-2023
Dung lượng: 47.8 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp THPT QG 2023
Môn:Ngữ Văn 12-Phần đọc-hiểu
Họ và tên:.....................................................
Lớp:.....
Trường:...........................................................
Năm học 2022-2023
I.Lý thuyết
1.Phạm vi
-Văn bản ngoài chương trình sgk.
-Là loại văn bản nhật dụng.
2.Yêu cầu
-Nhận biết về kiểu loại
Phương thức biểu đạt
Cách sử dụng từ ngữ,câu văn,Hình ảnh.
Các biện pháp tu từ
-Hiểu:
Cách sử dụng từ ngữ,câu văn,hình ảnh.
Nêu khái quát nội dung văn bản.
Bày tỏ suy nghĩ và rút ra bài học của bản thân.
3.Những kiến thức cơ bản
*Về từ:
-Nắm chắc các loại từ cơ bản như:từ láy;từ kép;danh từ;động từ;tính từ;từ Hán
Việt.
-Hiểu được nghĩa của từ:nghĩa đen;nghĩa bóng;nghĩa chuyển.
*Về câu:
-Nắm được các loại câu như:Khẳng định,phủ định.
*Kiến thức về biện pháp tu từ:
- So sánh:là đối chiếu đối tượng này với đối tượng khác có điểm tương đồng.Tác
dụng nhằm giúp sự vật,sự việc được miêu tả thêm sinh động,cụ thể,tăng sức gợi
hình gợi cảm.
-Nhân hóa:là những từ ngữ chỉ người để gắn cho vật làm cho đối tượng miêu tả
trở nên sinh động gần gũi.
-Ẩn dụ:là dùng tên đối tượng này để gọi tên đối tượng khác khi chúng có nét
tương đồng nhằm tăng sức gợi hình,gợi cảm.
-Hoán dụ:là dùng tên đối tượng này để gọi tên đối tượng khác khi chúng có
những nét liên tưởng gần gũi nhằm tăng sức gợi hình,gợi cảm.
- Điệp từ,điệp ngữ,điệp cấu trúc:là từ,cụm từ được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn
mạnh,tô đậm ấn tượng tăng giá trị biểu cảm,tạo âm hưởng,nhịp điệu cho câu văn.
-Câu hỏi tu từ:là câu hỏi dùng để bộc lộ xoáy sâu cảm xúc mà tác giả muốn gửi
gắm.
*Phép liên kết câu:
-Phép nối: là cách dùng những từ ngữ sẵn mang ý nghĩa chỉ quan hệ (kể cả những
từ ngữ chỉ quan hệ cú pháp bên trong câu), và chỉ các quan hệ cú pháp khác trong
câu, vào mục đích liên kết các phần trong văn bản (từ câu trở lên) lại với nhau.
-Phép lặp:là cách dùng đi dùng lại một yếu tố ngôn ngữ, ở những bộ phận khác
nhau (trước hết ở đây là những câu khác nhau) của văn bản nhằm liên kết chúng
lại
với
nhau.
-Phép thế: là cách thay những từ ngữ nhất định bằng những từ ngữ có ý nghĩa
tương đương (cùng chỉ sự vật ban đầu, còn gọi là có tính chất đồng chiếu) nhằm
tạo tính liên kết giữa các phần văn bản chứa chúng. Có 2 loại phương tiện dùng
trong phép thế là thay thế bằng từ ngữ đồng nghĩa và thế bằng đại từ.
*Nhận diện về các thao tác lập luận:
-Giải thích: là làm cho người đọc hiểu rõ được tư tưởng, đạo lí, phẩm chất, quan
hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, tình
cảm.
-Chứng minh: Là cách dùng dẫn chứng và lí lẽ để khẳng định về vấn đề đang bàn
luận, giúp cho người nghe/ đọc tin vào điều mình đang nói.
-Bác bỏ: là dùng lí lẽ và dẫn chứng cụ thể để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai
lệch hoặc thiếu chính xác…từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người
nghe/ đọc.
*Phong cách ngôn ngữ:
-Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: Là lời ăn tiếng nói hằng ngày dùng để trao đổi
thông tin, ý nghĩ, tình cảm,…đáp ứng nhu cầu của cuộc sống.
-Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác
phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu
thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, gọt giũa,
tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ.
-Phong cách ngôn ngữ chính luận: Là ngôn ngữ dùng trong các văn bản chính
luận hoặc lời nói miệng trong các buổi hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,…
nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã
hội, văn hóa, tư tưởng,…theo một quan điểm chính trị nhất định.
-Phong cách ngôn ngữ khoa học: là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc
lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là các VBKH.
-Phong cách ngôn ngữ hành chính,công vụ: là ngôn ngữ được dùng trong các
VBHC.
*Phương thức biểu đạt:
-Nghị luận: Thông qua việc sử dụng phương pháp biểu đạt này, người viết muốn
trình bày ý kiến, đánh giá hoặc bàn luận về một sự vật, sự việc hoặc hiện tượng
nào đó. Bằng những dẫn chứng, lập luận cụ thể, người viết sẽ dẫn dắt và thuyết
phục người đọc đồng tình và ủng hộ quan điểm của mình.
-Tự sự: Phương thức biểu đạt tự sự sẽ trình bày các sự vật, hiện tượng theo một
mạch hoàn chỉnh, không ảnh hưởng bởi quan điểm hay thái độ của tác giả. Phương
pháp này sẽ kể lại một câu chuyện có diễn biến liền mạch, liên quan đến nhau về
một nhân vật nào đó, mang đến một ý nghĩa với người đọc.
-Biểu cảm: Phương thức biểu cảm thường được sử dụng để bộc lộ tâm tư, tình
cảm, nguyện vọng của người viết. Qua đó, người đọc có thể cảm nhận rõ về thế
giới nội tâm của người viết, hiểu rõ hơn về ý mà người viết muốn truyền tải. Tình
cảm trong văn biểu cảm thường là những tình cảm thấm nhuần tư tưởng nhân văn.
-Miêu tả: Phương thức biểu đạt miêu tả sẽ thông qua việc sử dụng từ ngữ, hình
ảnh để người đọc liên tưởng được sự vật, hiện tượng đang được nhắc đến một cách
dễ hiểu và chân thực nhất. Người đọc qua đó sẽ hình dung rõ nét và sinh động về
thế giới nội tâm của từng nhân vật được nhắc đến trong tác phẩm.
-Thuyết minh: Đây là phương thức cung cấp, giới thiệu kiến thức về đặc điểm,
tính chất của một sự vật hay một hiện tượng nào đó. Nhờ đó mà người đọc có thể
mở mang kiến thức, hiểu nhiều hơn về sự vật, hiện tượng đó. Kiến thức trong văn
bản thuyết minh cần phải chính xác, khách quan và có ích với người đọc.
II.Thực Hành
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2015
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN
(Đề thi có 02 trang)
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
Cho biển cả không còn hoang lạnh
Đứa ở đồng chua
Đứa vùng đất mặn
Chia nhau nỗi nhớ nhà
Hoàng hôn tím ngát xa khơi
Chia nhau tin vui
Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát
Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt
Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng
Chúng tôi coi thường gian nan
Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập
Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
Ngày mai đảo sẽ nhô lên
Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền
Hoàng Sa, Trường Sa
Những quần đảo long lanh như ngọc dát
Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát
Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi
Đảo à, đảo ơi!
Đảo Thuyền Chài, 4 - 1982
(Trích Hát về một hòn đảo - Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014,
tr.51)
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ
ngữ,
hình ảnh nào?
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo
long lanh như ngọc dát.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày
khoảng 5 đến 7 dòng).
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của
người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con - Người của mỗi sinh
thể người. Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt
lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước
đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ,
anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào, đồng loại. Trong cuộc hành trình lâu dài, gian
khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng. Mất
một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu, con người nhận biết ngay.
Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay. Nhường bước
cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài
đồng cho người hành khất,... có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã
thu được; có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái. Nói như một nhà văn lớn,
người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần.
Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sựbáo động những hiểm họa trông thấy, cần báo động cả hiểm
họa không trông thấy hay khó trông thấy. Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm
trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ.
Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống
cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.
(Trích Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam,
2014, tr.36-37)
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?
Câu 8. Anh/Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không
biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
Gợi ý:
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
-Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những
từ ngữ, hình ảnh nào?
-Cuộc sống gian khổ và nguy hiểm trên đảo của những người lính được miêu tả qua những từ
ngữ “chân lều bạt”, “có người ngã trước miệng cá mập”, “có người bị vùi dưới cơn bão dữ
tợn”…
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những
quần đảo long lanh như ngọc dát.
-Câu thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh: so sánh những quần đảo với ngọc dát.
-Hiệu quả của biện pháp tu từ: thể hiện vẻ đẹp của biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa với một
niềm tự hào và tự tôn dân tộc.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/ chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày
khoảng 5 – 7 dòng).
Gợi ý : Đoạn thơ gợi lên cho chúng ta tình cảm yêu mến, cảm phục trước tinh thần vượt lên gian
khổ và sự lạc quan của người lính đảo. Từ đó, HS có thể nêu trách nhiệm của bản thân đối với
việc giữ gìn biển đảo quê hương.
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
-Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là nghị luận.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
-Nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây chính là ở sự xuống cấp nghiêm trọng về
nhân văn, về bệnh vô cảm.
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?
Thái độ của tác giả khi bàn về hiểm họa vô cảm: lo ngại, trăn trở...
Câu 8. Anh/ chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại
không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7
dòng).
Gợi ý : Trong cuộc sống, con người luôn tồn tại hai giá trị vật chất và tinh thần. Nhưng sự nông
nổi của con người là đôi khi quá chạy theo giá trị tầm thường của vật chất mà không chú ý đến
giá trị về mặt tinh thần. cái rỗng về tinh thần mới là cái đáng lo và đáng sợ nhất.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2016
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
(Đề thi có 02 trang)
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh
Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường
Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất
Nàng Mị Châu quỳ xuống lạy cha già.
Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.
(Trích Tiếng Việt - Lưu Quang Vũ, Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Giáo dục, 1985,
tr.218)
Câu 1. Sự mượt mà và tinh tế của tiếng Việt được thể hiện ở những từ ngữ nào trong khổ thơ
thứ nhất?
Câu 2. Kể tên hai biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai và thứ ba.
Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn trích.
Câu 4. Từ đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ cảm nghĩ của mình về tiếng Việt. (Trình bày khoảng 7
đến 10 dòng).
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống
nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. Nó giống như một mảnh vườn được
chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân
của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là nếu lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt
nữa. Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh
vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một
hạnh phúc mỏng manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi
sóng, nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận của những cái tuyệt đối cá
nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.
(Theo A. L. Ghéc-xen, Ngữ văn 11, Tập
hai,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2015,
tr.31)
Câu 5. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Vẻ bề ngoài đẹp đẽ của “cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà
mình” được thể hiện rõ nhất qua hình ảnh so sánh nào?
Câu 7. Tại sao tác giả cho rằng: “Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi
bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn”?
Câu 8. Anh/Chị suy nghĩ như thế nào về cuộc sống của con người khi thoát ra khỏi “cái tuyệt đối
cá nhân”? (Trình bày khoảng 7 đến 10 dòng)
Gợi Ý:
Câu 1: Những từ ngữ thể hiện sự mượt mà và tinh tế của tiếng Việt: vẹn tròn, vầng trăng
cao, đêm cá lặn sao mờ, bùn, lụa, óng tre ngà, mềm mại như tơ. (Thí sinh cần chỉ ra ít
nhất 02 từ ngữ trong các từ ngữ trên).
Câu 2: Kể tên được hai biện pháp tu từ trong các biện pháp: so sánh, liệt kê, điệp, ẩn dụ.
Câu 3: Nội dung chính của đoạn trích:
- Khẳng định vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt.
- Thể hiện niềm tự hào và tình yêu của tác giả đối với tiếng Việt.
Câu 4: Bày tỏ cảm nghĩ chân thành, sâu sắc của bản thân (có thể trình bày theo hướng: tự
hào, yêu quý, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,...).
Câu 5: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận/ phương thức nghị luận.
Câu 6: Hình ảnh so sánh: một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch
sẽ, gọn gàng.
Câu 7: Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có
gì đáng thèm muốn vì:
- Đó là cuộc sống nghèo nàn.
- Đó là hạnh phúc mỏng manh và sự êm ấm tạm thời.
- Nó khiến con người không có khả năng vượt qua những dông tố của cuộc đời.
Câu 8: Thể hiện suy nghĩ hợp lí, thuyết phục về cuộc sống thoát ra khỏi cái tuyệt đối cá
nhân(có thể trình bày theo hướng: cuộc sống con người có ý nghĩa hơn khi xác lập được
mối liên hệ giữa cái tôi với cái ta, giữa cá nhân với cộng đồng,...).
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2017
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm. Thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con
mắt của
người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ. Giống như cái lạnh thấu tủy hay cái đau thấu
xương, thấu cảm là sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những
suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ, và tất cả xảy ra mà không có sự phán
xét. Khả năng đọc được tâm trí và tâm hồn của người khác là một khả năng phát triển ở
những người mẫn cảm. Thấu cảm khiến ta hồi hộp khi quan sát một người đang đi trên
dây ở trên cao, làm chúng ta cùng vui buồn với một nhân vật trong truyện.
Thấu cảm xảy ra trong từng khoảnh khắc của cuộc sống. Một đứa trẻ ba tuổi chìa con gấu
bông
của mình cho em bé sơ sinh đang khóc để dỗ nó. Một cô gái nhăn mặt khi theo dõi bạn
mình trên
giường bênh ch ̣ ật vật uống một viên thuốc đắng. Mùa EURO 2016 kết thúc với một
hình ảnh đẹp: một cậu bé Bồ Đào Nha tiến tới an ủi một fan người Pháp cao to gấp rưỡi
mình, đang ôm mặt khóc vì đội Pháp thua trận chung kết. Anh người Pháp cúi xuống ôm
cậu bé mà người vẫn rung lên nức nở. Cậu đợi cho tới khi anh đi khuất hẳn rồi mới tiếp
tục phất cờ mừng chiến thắng.
(Trı́ch Thiện, Ác và Smartphone - Đặng Hoàng
Giang,
NXB Hội nhà văn, 2017, tr.275)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. Theo tác giả, thấu cảm là gì?
Câu 3. Nhân xét về hành vi của đứa trẻ ba tuổi, cô gái có ban bi ̣ ốm, câu bé Bồ Đào Nha
đươc
nhắc ̣đến trong đoan trích.
Câu 4. Anh/Chi có đồng tı̀nh với ý kiến: Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm? Vı̀
sao?
Gợi ý:
Câu 1:Chỉ ra được phương thức biểu đạt chính là:Nghị Luận.
Câu 2:Theo tác giả,thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác,đặt
mình vào cuộc đời của họ;là sự hiểu biết thấu đáo,trọn vẹn một ai đó,...
Câu 3:Nhận xét được đó là hành vi tưởng như bình thường nhưng có ý nghĩa trong đời
sống;thể hiện sự thấu cảm,chia sẻ;...
Câu 4: Đồng ý với ý kiến trên vì lòng trắc ẩn là tấm lòng thương xót người khác một
cách kín đáo, sâu xa. Chỉ có thể yêu thương người khác khi ta thực sự hiểu họ, đồng cảm
với họ. Và để làm được điều đó, ta phải biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác,
đồng cảm với người khác. Đó chính là sự thấu cảm. Vậy thấu cảm chính là nguồn gốc
của lòng trắc ẩn.Nhiều khi sự thấu cảm thôi chưa đủ để tạo nên lòng trắc ẩn. Con người
cần có tình yêu thương, lòng nhân ái, vị tha. Xã hội cũng cần có sự bao dung và đề cao
những giá trị nhân văn. Có như vậy, lòng trắc ẩn, tình yêu thương mới được lan toả trong
cộng đồng.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2018
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Hãy thức dậy, đất đai!
cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…
xin bắt đầu từ cơm no, áo ấm
rồi thì đi xa hơn - đẹp, và giàu, và sung sướng hơn
Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non
châu báu vô biên dưới thềm lục địa
rừng đại ngàn bạc vàng là thế
phù sa muôn đời như sữa mẹ
sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể
còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?
lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?
***
Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…
Tp. Hồ Chí Minh 1980 - 1982
(Trích “Đánh thức tiềm lực”, Ánh trăng - Cát trắng - Mẹ và
em,
Nguyễn Duy, NXB Hội Nhà văn, 2015, tr. 289290)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những yếu tố nào thuộc về tiềm lực tự nhiên
của đất nước?
Câu 3. Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong đoạn trích.
Câu 4. Theo anh/chị, quan điểm của tác giả trong hai dòng thơ: ta ca hát quá nhiều về
tiềm lực/tiềm lực còn ngủ yên có còn phù hợp với thực tiễn ngày nay không? Vì sao?
Đáp án:
Câu 1:Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2:Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến các yếu tố thuộc về tiềm lực tự nhiên của đất
nước: đất đai, khoáng sản, rừng, phù sa, sông, bể.
Câu 3: - Câu hỏi tu từ: còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?/lòng đất rất giàu, mặt
đất cứ nghèo sao?
- Hiệu quả: tạo giọng điệu suy tư; bộc lộ sự trăn trở của tác giả trước thực trạng đất
nước giàu tài nguyên nhưng vẫn còn nghèo.
Câu 4 : Thí sinh có thể trả lời: Quan điểm của tác giả còn phù hợp/không còn phù
hợp/phù hợp một phần nhưng phải lí giải hợp lí, thuyết phục.
Bộ Giáo Dục & Đào Tạo
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2019
(Đề thi chính thức)
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Biết nói gì trước biển em ơi
Trước cái xa xanh thanh khiết không lời
Cái hào hiệp ngang tàng của gió
Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ
Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời
Cái giản đơn sâu sắc như đời
Chân trời kia biển mãi gọi người đi
Bao khát vọng nửa chừng tan giữa song
Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng
Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm
Nhưng muôn đời vẫn những cánh buồm căng
Bay trên biển như bồ câu trên đất
Biển dư sức và người không biết mệt
Mũi thuyền lao mặt sóng lại cày bừa
Những chân trời ta vẫn mãi tìm đi
(Trước biển – Vũ Quần Phương, Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Văn học, 1985,
tr.391)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2: Anh/ Chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào?
Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắngBao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm
Câu 3. Hãy cho biết hiệu quả của phép điệp trong các dòng thơ sau:Cái hào hiệp
ngang tàng của gió Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ Cái nghiêm trang của đá đứng
chen trời Cái giản đơn sâu sắc như đời
Câu 4. Hành trình theo đuổi khát vọng của con người được thể hiện trong đoạn
trích gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Gợi Ý:
Câu 1:Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2:Nội dung của các dòng thơ thể hiện :
-Sự hi sinh và vất vả,hi sinh của con người.
-Bộc lộ niềm thương cảm của tác giả.
Câu 3:Hiệu quả của phép điệp:
-Nhấn mạnh vẻ đẹp phong phú của biển cả.
-Tạo giọng điệu hào hứng say mê.
Câu 4:Trình bày được:
-Hành trình theo đuổi khát vọng trong đoạn trích là hành trình gian khó,nhiều thách
thức,thể hiện ý chí mạnh mẽ của con người được nối tiếp qua các thế hệ.
-Suy nghĩ của bản thân.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM
2020
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát
đề
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích:
Không cần ngôn ngữ, mọi sự sống nhỏ nhoi trong tự nhiên đều dạy cho loài người chúng ta
biết tầm quan trọng của việc "sống hết mình ở thời khắc này”. Chẳng hạn tại vùng Tsunoda
thuộc Bắc cực, giữa mùa hè ngắn ngủi, các loài thực vật đua nhau nảy mầm, nở thật nhiều hoa,
kết hạt, chen chúc vươn mình trong khoảng không với mảnh đời thật ngắn ngủi. Có lẽ chúng
chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với mùa đông dài khắc nghiệt sắp tới và phó thác sinh mạng mình
cho tự nhiên. Rõ ràng là chúng thực sự sống hết mình cho hiện tại, không ảo tưởng, không phân
tâm.
Ngay cả ở vùng sa mạc khô cằn Sahara, nơi mà mỗi năm chỉ có một hai cơn mưa, nhưng
mỗi khi có những giọt nước mưa hiểm hoi trút xuống thì các loài thực vật lại vội vã nảy mầm và
nở hoa. Và trong khoảng thời gian từ một đến hai tuần ngắn ngủi, chúng ra hạt, oằn mình chịu
đựng trong cát, trong cái nóng như thiêu như đốt, tiếp tục sống chờ đến trận mưa sau để nòi
giống của chúng sẽ lại trỗi dậy... Quả thật là muôn loài trong tự nhiên đều sống hết mình, sống
nghiêm túc trong từng khoảnh khắc, trong suốt khoảng thời gian sống được hạn định.
Sống hết mình cho hiện tại sẽ đưa sự sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai. Vậy thì loài
người chúng ta lại càng phải biết trân trọng cuộc sống mỗi ngày để không thua kém cỏ cây
muông thú..
(Trích Cách sống: từ bình thường trở nên phi thường, Inamori Kazuô,
NXB Lao động 2020, tr. 103-104)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chỉnh được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Theo đoạn trích, các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực sinh trưởng như thế nào
giữa mùa hè ngắn ngủi?
Câu 3. Chỉ ra những điểm tương đồng về sự sống của các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc
Bắc cực và ở vùng sa mạc Sahara trong đoạn trích.
Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với nhận định của tác giả “Sống hết mình cho hiện tại sẽ đưa sự
sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai”? Vì sao?
GỢI Ý GIẢI
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Câu 1:
*Phương pháp: Căn cứ vào đặc điểm của các phương thức biểu đạt đã học: tự sự, miêu tả, biểu
cảm, thuyết minh, nghị luận, hành chính công vụ.
*Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2:
* Phương pháp: Đọc, tìm ý.
* Cách giải:
Các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc Cực sinh trưởng rất đáng kinh ngạc:
- Chúng vẫn đua nhau nảy mầm, nở thật nhiều hoa, kết hạt, chen chúc vươn mình trong khoảng
không với mảnh đời ngắn ngủi.
- Chúng chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với mùa đông dài khắc nghiệt sắp tới và phó thác sinh
mạng mình cho tự nhiên.
- Chúng thực sự sống hết mình cho hiện tại, không ảo tưởng, không phân tâm.
Câu 3:
* Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
* Cách giải:
* Điểm tương đồng về sự sống của các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực và ở vùng sa
mạc Sahara trong đoạn trích.
- Các loài thực vật ở 2 vùng đều nảy mầm và nở hoa trong điều kiện khắc nghiệt nhất.
- Đều cho thấy sức sống phi thường của các 2 thảm thực vật.
- Các loài thực vật đều sống hết mình, sống trọn vẹn từng phút giây.
Câu 4:
* Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
* Cách giải:
Học sinh đưa ra ý kiến riêng của mình, có thể đồng tình hoặc không đồng tình. Học sinh lí giải
phù hợp với ý kiến cá nhân, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
Gợi ý:
- Đồng tình với ý kiến của tác giả.
- Vì:
+ Sống hết mình chứng tỏ con người đã không bỏ cuộc trước những khó khăn thất bại.
+ Sống hết mình, dù nhỏ bé chứng tỏ nếu con người có thất bại thì cũng đã rút ra cho mình được
bài học. Mà thất bại nhỏ sẽ tạo nên thành công lớn.
+ Cả câu: Sống hết mình giúp con người vươn tới tương lai bởi mỗi bài học rút ra được từ sự nỗ
lực sẽ giống như viên gạch xây đắp nền móng vững chắc để con người phát triển và hoàn thiện
bản thân.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG NĂM 2021
Bài thi: NGỮ VĂn
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Từ những kẽ hở trên mặt đất, nước trào lên, mát lạnh và trong lành. Từ một dòng nước nhỏ,
nước hoa vào với nước tươi mát vời từ trên trời và nước thấm vào đất để tạo nên một dòng suối
nhỏ cứ chảy mải xuống cho tới khi, một dòng sông ra đời.
Sông hình thành lực đẩy và cuốn trôi dân các lớp đất và nên khi dòng chảy từ từ mở rộng và
sâu thêm, giống như một đứa trẻ với đôi mắt sáng ngời vươn mình lớn dậy. Dòng sông trở nên
đủ mạnh mẽ để xuyên qua núi hay thậm chí tạo thành một hẻm núi.
Khi nước gặp con người, nó còn được chứng kiến nhiều chuyện nhiều hơn. Một ông lão
băng qua cây cầu, một cô gái trẻ trên chiếc xe đạp, một đôi tình nhân ngôi ngắm sông trôi. Cứ
mãi chầm chậm và cứ mãi xanh, dòng sông chứng kiến lũ trẻ chơi đùa trong công viên hai bên
bờ và người cha cùng cậu con nhỏ đang chơi bắt bóng
Dòng sông, giờ đã ở tuổi xế chiều, lại càng trở nên dịu dàng khi nó tiến dân ra phía biên.
Rồi cũng đến lúc nó ra tới biển và dòng chảy của nước cuối cùng cũng đi tới hồi kết.
Tất cả những trầm tích được nước mang theo lúc đó lắng lại ở cửa sông. Kết quả là một
vùng châu thổ được hình thành. Sông Hằng, sông Mississippi và sông Amazon đều đã hình
thành những châu thổ tựa như hình chiếc lược tại nơi chúng gặp gỡ biển cả. Đều có khởi nguồn
như một bờ cát nhỏ cuối cùng đã phát triển thành một vùng đất rộng lớn, tạo nên một đường bờ
biển mới và rộng rãi. Những vùng châu thổ màu mỡ này hình thành nên những vùng nông
nghiệp vĩ đại nhất trên thế giới - món quà cuối cùng mà nước dành tặng cho loài người, trước
khi nó hiên mình cho đại dương vào lúc cuối đời.
(Trích Bí mật của nước, Masaru Emoto, NXB Lao động, 2019, tr. 90-93)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Theo đoạn trích, sự ra đời của một dòng sông diễn ra như thế nào?
Câu 2. Trong đoạn trích, nón quà cuối cùng nước dành tặng cho loài người trước
khi hòa vào biển cả là gì?
Câu 3. Những câu văn sau giúp anh/chị hiểu gì về dòng chảy của nước và cuộc
sống của con người?
Một ông lão băng qua cây cầu, một cô gái trẻ trên chiếc xe đạp, một đôi tình
nhân ngồi ngắm sông trôi, Cứ mãi chầm chậm và cứ mãi xanh, dòng sông chứng
kiến lũ trẻ chơi đùa trong công viên hai bên bờ và người cha cùng cậu con nhỏ
đang chơi bắt bóng.
Câu 4. Qua hành trình từ sông ra biển của nước trong đoạn trích, anh/chị rút ra
những bài học gì về lẽ sống?
HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ TỐT NGHIỆP THPT 2021
I. Phần đọc hiểu:
Câu 1.
- Sự ra đời của dòng sông, theo đoạn trích: Từ những kẽ hở trên mặt đất, nước trào
lên. Từ một dòng nước nhỏ, nước hòa vào với nước rơi từ trên trời và nước thấm
vào đất để tạo nên một dòng suối nhỏ cứ chảy mãi xuống cho tới khi, một dòng
sông ra đời.
Câu 2.
- Theo đoạn trích, món quà cuối cùng nước dành tặng cho loài người trước khi hòa
vào biển cả là những vùng châu thổ màu mỡ - những vùng nông nghiệp vĩ đại.
Câu 3.
Câu văn trên ẩn dụ về dòng chảy của nước và cuộc đời của mỗi con người:
- Dòng chảy của nước luôn luôn vận động, không ngừng nghỉ và chứng kiến tất cả
những hoạt động diễn ra thường ngày của con người.
- Dòng chảy của nước chính là ẩn dụ cho cuộc đời của mỗi con người.
+ Cuộc đời mỗi con người cũng trải qua những giai đoạn sinh - lão - bệnh - tử,
chứng kiến tất cả những hỉ nộ ái ố, những khía cạnh khác nhau của cuộc đời với
nhiều trạng thái và cung bậc khác nhau.
+ Dòng sông chầm chậm trôi ẩn dụ cho cuộc đời mỗi con người, khi chúng ta biết
sống chậm lại để lắng nghe và quan sát, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên sâu sắc
hơn.
Câu 4.
Dựa vào nội dung đoạn trích, HS lựa chọn những bài học phù hợp. Sau đây là gợi ý
của
Bài học về lẽ sống mà văn bản muốn gửi gắm qua hành trình từ sông ra biển của
nước:
- Cuộc đời mỗi con người là hữu hạn, hãy sống thật ý nghĩa. Để giống như dòng
chảy kia, khi vừa sinh ra, chúng ta chỉ là những giọt nước nhỏ bé được trào lên từ
những kẽ hở trên mặt đất nhưng khi cuối đời, ta đã phát triển thành một vùng đất
rộng lớn, góp phần làm nên những vùng nông nghiệp vĩ đại.
- Cuộc sống chứa đựng muôn vàn thử thách và khó khăn, hãy mạnh mẽ như dòng
chảy để có thể xuyên qua núi hay thậm chí tạo thành một hẻm núi, đánh bật lại
những khó khăn của cuộc đời mình.
- Cuộc sống có vô vàn màu sắc và cung bậc khác nhau, hãy sống chậm lại một chút
để lắng nghe và tận hưởng những vẻ đẹp của cuộc đời, để từ đó bồi đắp t...
Môn:Ngữ Văn 12-Phần đọc-hiểu
Họ và tên:.....................................................
Lớp:.....
Trường:...........................................................
Năm học 2022-2023
I.Lý thuyết
1.Phạm vi
-Văn bản ngoài chương trình sgk.
-Là loại văn bản nhật dụng.
2.Yêu cầu
-Nhận biết về kiểu loại
Phương thức biểu đạt
Cách sử dụng từ ngữ,câu văn,Hình ảnh.
Các biện pháp tu từ
-Hiểu:
Cách sử dụng từ ngữ,câu văn,hình ảnh.
Nêu khái quát nội dung văn bản.
Bày tỏ suy nghĩ và rút ra bài học của bản thân.
3.Những kiến thức cơ bản
*Về từ:
-Nắm chắc các loại từ cơ bản như:từ láy;từ kép;danh từ;động từ;tính từ;từ Hán
Việt.
-Hiểu được nghĩa của từ:nghĩa đen;nghĩa bóng;nghĩa chuyển.
*Về câu:
-Nắm được các loại câu như:Khẳng định,phủ định.
*Kiến thức về biện pháp tu từ:
- So sánh:là đối chiếu đối tượng này với đối tượng khác có điểm tương đồng.Tác
dụng nhằm giúp sự vật,sự việc được miêu tả thêm sinh động,cụ thể,tăng sức gợi
hình gợi cảm.
-Nhân hóa:là những từ ngữ chỉ người để gắn cho vật làm cho đối tượng miêu tả
trở nên sinh động gần gũi.
-Ẩn dụ:là dùng tên đối tượng này để gọi tên đối tượng khác khi chúng có nét
tương đồng nhằm tăng sức gợi hình,gợi cảm.
-Hoán dụ:là dùng tên đối tượng này để gọi tên đối tượng khác khi chúng có
những nét liên tưởng gần gũi nhằm tăng sức gợi hình,gợi cảm.
- Điệp từ,điệp ngữ,điệp cấu trúc:là từ,cụm từ được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn
mạnh,tô đậm ấn tượng tăng giá trị biểu cảm,tạo âm hưởng,nhịp điệu cho câu văn.
-Câu hỏi tu từ:là câu hỏi dùng để bộc lộ xoáy sâu cảm xúc mà tác giả muốn gửi
gắm.
*Phép liên kết câu:
-Phép nối: là cách dùng những từ ngữ sẵn mang ý nghĩa chỉ quan hệ (kể cả những
từ ngữ chỉ quan hệ cú pháp bên trong câu), và chỉ các quan hệ cú pháp khác trong
câu, vào mục đích liên kết các phần trong văn bản (từ câu trở lên) lại với nhau.
-Phép lặp:là cách dùng đi dùng lại một yếu tố ngôn ngữ, ở những bộ phận khác
nhau (trước hết ở đây là những câu khác nhau) của văn bản nhằm liên kết chúng
lại
với
nhau.
-Phép thế: là cách thay những từ ngữ nhất định bằng những từ ngữ có ý nghĩa
tương đương (cùng chỉ sự vật ban đầu, còn gọi là có tính chất đồng chiếu) nhằm
tạo tính liên kết giữa các phần văn bản chứa chúng. Có 2 loại phương tiện dùng
trong phép thế là thay thế bằng từ ngữ đồng nghĩa và thế bằng đại từ.
*Nhận diện về các thao tác lập luận:
-Giải thích: là làm cho người đọc hiểu rõ được tư tưởng, đạo lí, phẩm chất, quan
hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, tình
cảm.
-Chứng minh: Là cách dùng dẫn chứng và lí lẽ để khẳng định về vấn đề đang bàn
luận, giúp cho người nghe/ đọc tin vào điều mình đang nói.
-Bác bỏ: là dùng lí lẽ và dẫn chứng cụ thể để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai
lệch hoặc thiếu chính xác…từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người
nghe/ đọc.
*Phong cách ngôn ngữ:
-Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: Là lời ăn tiếng nói hằng ngày dùng để trao đổi
thông tin, ý nghĩ, tình cảm,…đáp ứng nhu cầu của cuộc sống.
-Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác
phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu
thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, gọt giũa,
tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ.
-Phong cách ngôn ngữ chính luận: Là ngôn ngữ dùng trong các văn bản chính
luận hoặc lời nói miệng trong các buổi hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,…
nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã
hội, văn hóa, tư tưởng,…theo một quan điểm chính trị nhất định.
-Phong cách ngôn ngữ khoa học: là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc
lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là các VBKH.
-Phong cách ngôn ngữ hành chính,công vụ: là ngôn ngữ được dùng trong các
VBHC.
*Phương thức biểu đạt:
-Nghị luận: Thông qua việc sử dụng phương pháp biểu đạt này, người viết muốn
trình bày ý kiến, đánh giá hoặc bàn luận về một sự vật, sự việc hoặc hiện tượng
nào đó. Bằng những dẫn chứng, lập luận cụ thể, người viết sẽ dẫn dắt và thuyết
phục người đọc đồng tình và ủng hộ quan điểm của mình.
-Tự sự: Phương thức biểu đạt tự sự sẽ trình bày các sự vật, hiện tượng theo một
mạch hoàn chỉnh, không ảnh hưởng bởi quan điểm hay thái độ của tác giả. Phương
pháp này sẽ kể lại một câu chuyện có diễn biến liền mạch, liên quan đến nhau về
một nhân vật nào đó, mang đến một ý nghĩa với người đọc.
-Biểu cảm: Phương thức biểu cảm thường được sử dụng để bộc lộ tâm tư, tình
cảm, nguyện vọng của người viết. Qua đó, người đọc có thể cảm nhận rõ về thế
giới nội tâm của người viết, hiểu rõ hơn về ý mà người viết muốn truyền tải. Tình
cảm trong văn biểu cảm thường là những tình cảm thấm nhuần tư tưởng nhân văn.
-Miêu tả: Phương thức biểu đạt miêu tả sẽ thông qua việc sử dụng từ ngữ, hình
ảnh để người đọc liên tưởng được sự vật, hiện tượng đang được nhắc đến một cách
dễ hiểu và chân thực nhất. Người đọc qua đó sẽ hình dung rõ nét và sinh động về
thế giới nội tâm của từng nhân vật được nhắc đến trong tác phẩm.
-Thuyết minh: Đây là phương thức cung cấp, giới thiệu kiến thức về đặc điểm,
tính chất của một sự vật hay một hiện tượng nào đó. Nhờ đó mà người đọc có thể
mở mang kiến thức, hiểu nhiều hơn về sự vật, hiện tượng đó. Kiến thức trong văn
bản thuyết minh cần phải chính xác, khách quan và có ích với người đọc.
II.Thực Hành
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2015
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN
(Đề thi có 02 trang)
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
Cho biển cả không còn hoang lạnh
Đứa ở đồng chua
Đứa vùng đất mặn
Chia nhau nỗi nhớ nhà
Hoàng hôn tím ngát xa khơi
Chia nhau tin vui
Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát
Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt
Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng
Chúng tôi coi thường gian nan
Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập
Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
Ngày mai đảo sẽ nhô lên
Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền
Hoàng Sa, Trường Sa
Những quần đảo long lanh như ngọc dát
Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát
Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi
Đảo à, đảo ơi!
Đảo Thuyền Chài, 4 - 1982
(Trích Hát về một hòn đảo - Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014,
tr.51)
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ
ngữ,
hình ảnh nào?
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo
long lanh như ngọc dát.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày
khoảng 5 đến 7 dòng).
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của
người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con - Người của mỗi sinh
thể người. Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt
lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước
đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ,
anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào, đồng loại. Trong cuộc hành trình lâu dài, gian
khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng. Mất
một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu, con người nhận biết ngay.
Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay. Nhường bước
cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài
đồng cho người hành khất,... có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã
thu được; có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái. Nói như một nhà văn lớn,
người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần.
Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sựbáo động những hiểm họa trông thấy, cần báo động cả hiểm
họa không trông thấy hay khó trông thấy. Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm
trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ.
Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống
cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.
(Trích Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam,
2014, tr.36-37)
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?
Câu 8. Anh/Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không
biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
Gợi ý:
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
-Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những
từ ngữ, hình ảnh nào?
-Cuộc sống gian khổ và nguy hiểm trên đảo của những người lính được miêu tả qua những từ
ngữ “chân lều bạt”, “có người ngã trước miệng cá mập”, “có người bị vùi dưới cơn bão dữ
tợn”…
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những
quần đảo long lanh như ngọc dát.
-Câu thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh: so sánh những quần đảo với ngọc dát.
-Hiệu quả của biện pháp tu từ: thể hiện vẻ đẹp của biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa với một
niềm tự hào và tự tôn dân tộc.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/ chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày
khoảng 5 – 7 dòng).
Gợi ý : Đoạn thơ gợi lên cho chúng ta tình cảm yêu mến, cảm phục trước tinh thần vượt lên gian
khổ và sự lạc quan của người lính đảo. Từ đó, HS có thể nêu trách nhiệm của bản thân đối với
việc giữ gìn biển đảo quê hương.
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
-Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là nghị luận.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
-Nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây chính là ở sự xuống cấp nghiêm trọng về
nhân văn, về bệnh vô cảm.
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?
Thái độ của tác giả khi bàn về hiểm họa vô cảm: lo ngại, trăn trở...
Câu 8. Anh/ chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại
không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7
dòng).
Gợi ý : Trong cuộc sống, con người luôn tồn tại hai giá trị vật chất và tinh thần. Nhưng sự nông
nổi của con người là đôi khi quá chạy theo giá trị tầm thường của vật chất mà không chú ý đến
giá trị về mặt tinh thần. cái rỗng về tinh thần mới là cái đáng lo và đáng sợ nhất.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2016
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
(Đề thi có 02 trang)
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh
Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường
Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất
Nàng Mị Châu quỳ xuống lạy cha già.
Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.
(Trích Tiếng Việt - Lưu Quang Vũ, Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Giáo dục, 1985,
tr.218)
Câu 1. Sự mượt mà và tinh tế của tiếng Việt được thể hiện ở những từ ngữ nào trong khổ thơ
thứ nhất?
Câu 2. Kể tên hai biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai và thứ ba.
Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn trích.
Câu 4. Từ đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ cảm nghĩ của mình về tiếng Việt. (Trình bày khoảng 7
đến 10 dòng).
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống
nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. Nó giống như một mảnh vườn được
chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân
của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là nếu lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt
nữa. Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh
vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một
hạnh phúc mỏng manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi
sóng, nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận của những cái tuyệt đối cá
nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.
(Theo A. L. Ghéc-xen, Ngữ văn 11, Tập
hai,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2015,
tr.31)
Câu 5. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Vẻ bề ngoài đẹp đẽ của “cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà
mình” được thể hiện rõ nhất qua hình ảnh so sánh nào?
Câu 7. Tại sao tác giả cho rằng: “Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi
bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn”?
Câu 8. Anh/Chị suy nghĩ như thế nào về cuộc sống của con người khi thoát ra khỏi “cái tuyệt đối
cá nhân”? (Trình bày khoảng 7 đến 10 dòng)
Gợi Ý:
Câu 1: Những từ ngữ thể hiện sự mượt mà và tinh tế của tiếng Việt: vẹn tròn, vầng trăng
cao, đêm cá lặn sao mờ, bùn, lụa, óng tre ngà, mềm mại như tơ. (Thí sinh cần chỉ ra ít
nhất 02 từ ngữ trong các từ ngữ trên).
Câu 2: Kể tên được hai biện pháp tu từ trong các biện pháp: so sánh, liệt kê, điệp, ẩn dụ.
Câu 3: Nội dung chính của đoạn trích:
- Khẳng định vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt.
- Thể hiện niềm tự hào và tình yêu của tác giả đối với tiếng Việt.
Câu 4: Bày tỏ cảm nghĩ chân thành, sâu sắc của bản thân (có thể trình bày theo hướng: tự
hào, yêu quý, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,...).
Câu 5: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận/ phương thức nghị luận.
Câu 6: Hình ảnh so sánh: một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch
sẽ, gọn gàng.
Câu 7: Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có
gì đáng thèm muốn vì:
- Đó là cuộc sống nghèo nàn.
- Đó là hạnh phúc mỏng manh và sự êm ấm tạm thời.
- Nó khiến con người không có khả năng vượt qua những dông tố của cuộc đời.
Câu 8: Thể hiện suy nghĩ hợp lí, thuyết phục về cuộc sống thoát ra khỏi cái tuyệt đối cá
nhân(có thể trình bày theo hướng: cuộc sống con người có ý nghĩa hơn khi xác lập được
mối liên hệ giữa cái tôi với cái ta, giữa cá nhân với cộng đồng,...).
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2017
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm. Thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con
mắt của
người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ. Giống như cái lạnh thấu tủy hay cái đau thấu
xương, thấu cảm là sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những
suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ, và tất cả xảy ra mà không có sự phán
xét. Khả năng đọc được tâm trí và tâm hồn của người khác là một khả năng phát triển ở
những người mẫn cảm. Thấu cảm khiến ta hồi hộp khi quan sát một người đang đi trên
dây ở trên cao, làm chúng ta cùng vui buồn với một nhân vật trong truyện.
Thấu cảm xảy ra trong từng khoảnh khắc của cuộc sống. Một đứa trẻ ba tuổi chìa con gấu
bông
của mình cho em bé sơ sinh đang khóc để dỗ nó. Một cô gái nhăn mặt khi theo dõi bạn
mình trên
giường bênh ch ̣ ật vật uống một viên thuốc đắng. Mùa EURO 2016 kết thúc với một
hình ảnh đẹp: một cậu bé Bồ Đào Nha tiến tới an ủi một fan người Pháp cao to gấp rưỡi
mình, đang ôm mặt khóc vì đội Pháp thua trận chung kết. Anh người Pháp cúi xuống ôm
cậu bé mà người vẫn rung lên nức nở. Cậu đợi cho tới khi anh đi khuất hẳn rồi mới tiếp
tục phất cờ mừng chiến thắng.
(Trı́ch Thiện, Ác và Smartphone - Đặng Hoàng
Giang,
NXB Hội nhà văn, 2017, tr.275)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. Theo tác giả, thấu cảm là gì?
Câu 3. Nhân xét về hành vi của đứa trẻ ba tuổi, cô gái có ban bi ̣ ốm, câu bé Bồ Đào Nha
đươc
nhắc ̣đến trong đoan trích.
Câu 4. Anh/Chi có đồng tı̀nh với ý kiến: Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm? Vı̀
sao?
Gợi ý:
Câu 1:Chỉ ra được phương thức biểu đạt chính là:Nghị Luận.
Câu 2:Theo tác giả,thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác,đặt
mình vào cuộc đời của họ;là sự hiểu biết thấu đáo,trọn vẹn một ai đó,...
Câu 3:Nhận xét được đó là hành vi tưởng như bình thường nhưng có ý nghĩa trong đời
sống;thể hiện sự thấu cảm,chia sẻ;...
Câu 4: Đồng ý với ý kiến trên vì lòng trắc ẩn là tấm lòng thương xót người khác một
cách kín đáo, sâu xa. Chỉ có thể yêu thương người khác khi ta thực sự hiểu họ, đồng cảm
với họ. Và để làm được điều đó, ta phải biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác,
đồng cảm với người khác. Đó chính là sự thấu cảm. Vậy thấu cảm chính là nguồn gốc
của lòng trắc ẩn.Nhiều khi sự thấu cảm thôi chưa đủ để tạo nên lòng trắc ẩn. Con người
cần có tình yêu thương, lòng nhân ái, vị tha. Xã hội cũng cần có sự bao dung và đề cao
những giá trị nhân văn. Có như vậy, lòng trắc ẩn, tình yêu thương mới được lan toả trong
cộng đồng.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2018
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Hãy thức dậy, đất đai!
cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…
xin bắt đầu từ cơm no, áo ấm
rồi thì đi xa hơn - đẹp, và giàu, và sung sướng hơn
Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non
châu báu vô biên dưới thềm lục địa
rừng đại ngàn bạc vàng là thế
phù sa muôn đời như sữa mẹ
sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể
còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?
lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?
***
Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…
Tp. Hồ Chí Minh 1980 - 1982
(Trích “Đánh thức tiềm lực”, Ánh trăng - Cát trắng - Mẹ và
em,
Nguyễn Duy, NXB Hội Nhà văn, 2015, tr. 289290)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những yếu tố nào thuộc về tiềm lực tự nhiên
của đất nước?
Câu 3. Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong đoạn trích.
Câu 4. Theo anh/chị, quan điểm của tác giả trong hai dòng thơ: ta ca hát quá nhiều về
tiềm lực/tiềm lực còn ngủ yên có còn phù hợp với thực tiễn ngày nay không? Vì sao?
Đáp án:
Câu 1:Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2:Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến các yếu tố thuộc về tiềm lực tự nhiên của đất
nước: đất đai, khoáng sản, rừng, phù sa, sông, bể.
Câu 3: - Câu hỏi tu từ: còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?/lòng đất rất giàu, mặt
đất cứ nghèo sao?
- Hiệu quả: tạo giọng điệu suy tư; bộc lộ sự trăn trở của tác giả trước thực trạng đất
nước giàu tài nguyên nhưng vẫn còn nghèo.
Câu 4 : Thí sinh có thể trả lời: Quan điểm của tác giả còn phù hợp/không còn phù
hợp/phù hợp một phần nhưng phải lí giải hợp lí, thuyết phục.
Bộ Giáo Dục & Đào Tạo
KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2019
(Đề thi chính thức)
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Biết nói gì trước biển em ơi
Trước cái xa xanh thanh khiết không lời
Cái hào hiệp ngang tàng của gió
Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ
Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời
Cái giản đơn sâu sắc như đời
Chân trời kia biển mãi gọi người đi
Bao khát vọng nửa chừng tan giữa song
Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng
Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm
Nhưng muôn đời vẫn những cánh buồm căng
Bay trên biển như bồ câu trên đất
Biển dư sức và người không biết mệt
Mũi thuyền lao mặt sóng lại cày bừa
Những chân trời ta vẫn mãi tìm đi
(Trước biển – Vũ Quần Phương, Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Văn học, 1985,
tr.391)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2: Anh/ Chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào?
Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắngBao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm
Câu 3. Hãy cho biết hiệu quả của phép điệp trong các dòng thơ sau:Cái hào hiệp
ngang tàng của gió Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ Cái nghiêm trang của đá đứng
chen trời Cái giản đơn sâu sắc như đời
Câu 4. Hành trình theo đuổi khát vọng của con người được thể hiện trong đoạn
trích gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Gợi Ý:
Câu 1:Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2:Nội dung của các dòng thơ thể hiện :
-Sự hi sinh và vất vả,hi sinh của con người.
-Bộc lộ niềm thương cảm của tác giả.
Câu 3:Hiệu quả của phép điệp:
-Nhấn mạnh vẻ đẹp phong phú của biển cả.
-Tạo giọng điệu hào hứng say mê.
Câu 4:Trình bày được:
-Hành trình theo đuổi khát vọng trong đoạn trích là hành trình gian khó,nhiều thách
thức,thể hiện ý chí mạnh mẽ của con người được nối tiếp qua các thế hệ.
-Suy nghĩ của bản thân.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM
2020
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát
đề
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích:
Không cần ngôn ngữ, mọi sự sống nhỏ nhoi trong tự nhiên đều dạy cho loài người chúng ta
biết tầm quan trọng của việc "sống hết mình ở thời khắc này”. Chẳng hạn tại vùng Tsunoda
thuộc Bắc cực, giữa mùa hè ngắn ngủi, các loài thực vật đua nhau nảy mầm, nở thật nhiều hoa,
kết hạt, chen chúc vươn mình trong khoảng không với mảnh đời thật ngắn ngủi. Có lẽ chúng
chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với mùa đông dài khắc nghiệt sắp tới và phó thác sinh mạng mình
cho tự nhiên. Rõ ràng là chúng thực sự sống hết mình cho hiện tại, không ảo tưởng, không phân
tâm.
Ngay cả ở vùng sa mạc khô cằn Sahara, nơi mà mỗi năm chỉ có một hai cơn mưa, nhưng
mỗi khi có những giọt nước mưa hiểm hoi trút xuống thì các loài thực vật lại vội vã nảy mầm và
nở hoa. Và trong khoảng thời gian từ một đến hai tuần ngắn ngủi, chúng ra hạt, oằn mình chịu
đựng trong cát, trong cái nóng như thiêu như đốt, tiếp tục sống chờ đến trận mưa sau để nòi
giống của chúng sẽ lại trỗi dậy... Quả thật là muôn loài trong tự nhiên đều sống hết mình, sống
nghiêm túc trong từng khoảnh khắc, trong suốt khoảng thời gian sống được hạn định.
Sống hết mình cho hiện tại sẽ đưa sự sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai. Vậy thì loài
người chúng ta lại càng phải biết trân trọng cuộc sống mỗi ngày để không thua kém cỏ cây
muông thú..
(Trích Cách sống: từ bình thường trở nên phi thường, Inamori Kazuô,
NXB Lao động 2020, tr. 103-104)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chỉnh được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Theo đoạn trích, các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực sinh trưởng như thế nào
giữa mùa hè ngắn ngủi?
Câu 3. Chỉ ra những điểm tương đồng về sự sống của các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc
Bắc cực và ở vùng sa mạc Sahara trong đoạn trích.
Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với nhận định của tác giả “Sống hết mình cho hiện tại sẽ đưa sự
sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai”? Vì sao?
GỢI Ý GIẢI
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Câu 1:
*Phương pháp: Căn cứ vào đặc điểm của các phương thức biểu đạt đã học: tự sự, miêu tả, biểu
cảm, thuyết minh, nghị luận, hành chính công vụ.
*Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2:
* Phương pháp: Đọc, tìm ý.
* Cách giải:
Các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc Cực sinh trưởng rất đáng kinh ngạc:
- Chúng vẫn đua nhau nảy mầm, nở thật nhiều hoa, kết hạt, chen chúc vươn mình trong khoảng
không với mảnh đời ngắn ngủi.
- Chúng chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với mùa đông dài khắc nghiệt sắp tới và phó thác sinh
mạng mình cho tự nhiên.
- Chúng thực sự sống hết mình cho hiện tại, không ảo tưởng, không phân tâm.
Câu 3:
* Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
* Cách giải:
* Điểm tương đồng về sự sống của các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực và ở vùng sa
mạc Sahara trong đoạn trích.
- Các loài thực vật ở 2 vùng đều nảy mầm và nở hoa trong điều kiện khắc nghiệt nhất.
- Đều cho thấy sức sống phi thường của các 2 thảm thực vật.
- Các loài thực vật đều sống hết mình, sống trọn vẹn từng phút giây.
Câu 4:
* Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
* Cách giải:
Học sinh đưa ra ý kiến riêng của mình, có thể đồng tình hoặc không đồng tình. Học sinh lí giải
phù hợp với ý kiến cá nhân, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
Gợi ý:
- Đồng tình với ý kiến của tác giả.
- Vì:
+ Sống hết mình chứng tỏ con người đã không bỏ cuộc trước những khó khăn thất bại.
+ Sống hết mình, dù nhỏ bé chứng tỏ nếu con người có thất bại thì cũng đã rút ra cho mình được
bài học. Mà thất bại nhỏ sẽ tạo nên thành công lớn.
+ Cả câu: Sống hết mình giúp con người vươn tới tương lai bởi mỗi bài học rút ra được từ sự nỗ
lực sẽ giống như viên gạch xây đắp nền móng vững chắc để con người phát triển và hoàn thiện
bản thân.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG NĂM 2021
Bài thi: NGỮ VĂn
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Từ những kẽ hở trên mặt đất, nước trào lên, mát lạnh và trong lành. Từ một dòng nước nhỏ,
nước hoa vào với nước tươi mát vời từ trên trời và nước thấm vào đất để tạo nên một dòng suối
nhỏ cứ chảy mải xuống cho tới khi, một dòng sông ra đời.
Sông hình thành lực đẩy và cuốn trôi dân các lớp đất và nên khi dòng chảy từ từ mở rộng và
sâu thêm, giống như một đứa trẻ với đôi mắt sáng ngời vươn mình lớn dậy. Dòng sông trở nên
đủ mạnh mẽ để xuyên qua núi hay thậm chí tạo thành một hẻm núi.
Khi nước gặp con người, nó còn được chứng kiến nhiều chuyện nhiều hơn. Một ông lão
băng qua cây cầu, một cô gái trẻ trên chiếc xe đạp, một đôi tình nhân ngôi ngắm sông trôi. Cứ
mãi chầm chậm và cứ mãi xanh, dòng sông chứng kiến lũ trẻ chơi đùa trong công viên hai bên
bờ và người cha cùng cậu con nhỏ đang chơi bắt bóng
Dòng sông, giờ đã ở tuổi xế chiều, lại càng trở nên dịu dàng khi nó tiến dân ra phía biên.
Rồi cũng đến lúc nó ra tới biển và dòng chảy của nước cuối cùng cũng đi tới hồi kết.
Tất cả những trầm tích được nước mang theo lúc đó lắng lại ở cửa sông. Kết quả là một
vùng châu thổ được hình thành. Sông Hằng, sông Mississippi và sông Amazon đều đã hình
thành những châu thổ tựa như hình chiếc lược tại nơi chúng gặp gỡ biển cả. Đều có khởi nguồn
như một bờ cát nhỏ cuối cùng đã phát triển thành một vùng đất rộng lớn, tạo nên một đường bờ
biển mới và rộng rãi. Những vùng châu thổ màu mỡ này hình thành nên những vùng nông
nghiệp vĩ đại nhất trên thế giới - món quà cuối cùng mà nước dành tặng cho loài người, trước
khi nó hiên mình cho đại dương vào lúc cuối đời.
(Trích Bí mật của nước, Masaru Emoto, NXB Lao động, 2019, tr. 90-93)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Theo đoạn trích, sự ra đời của một dòng sông diễn ra như thế nào?
Câu 2. Trong đoạn trích, nón quà cuối cùng nước dành tặng cho loài người trước
khi hòa vào biển cả là gì?
Câu 3. Những câu văn sau giúp anh/chị hiểu gì về dòng chảy của nước và cuộc
sống của con người?
Một ông lão băng qua cây cầu, một cô gái trẻ trên chiếc xe đạp, một đôi tình
nhân ngồi ngắm sông trôi, Cứ mãi chầm chậm và cứ mãi xanh, dòng sông chứng
kiến lũ trẻ chơi đùa trong công viên hai bên bờ và người cha cùng cậu con nhỏ
đang chơi bắt bóng.
Câu 4. Qua hành trình từ sông ra biển của nước trong đoạn trích, anh/chị rút ra
những bài học gì về lẽ sống?
HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ TỐT NGHIỆP THPT 2021
I. Phần đọc hiểu:
Câu 1.
- Sự ra đời của dòng sông, theo đoạn trích: Từ những kẽ hở trên mặt đất, nước trào
lên. Từ một dòng nước nhỏ, nước hòa vào với nước rơi từ trên trời và nước thấm
vào đất để tạo nên một dòng suối nhỏ cứ chảy mãi xuống cho tới khi, một dòng
sông ra đời.
Câu 2.
- Theo đoạn trích, món quà cuối cùng nước dành tặng cho loài người trước khi hòa
vào biển cả là những vùng châu thổ màu mỡ - những vùng nông nghiệp vĩ đại.
Câu 3.
Câu văn trên ẩn dụ về dòng chảy của nước và cuộc đời của mỗi con người:
- Dòng chảy của nước luôn luôn vận động, không ngừng nghỉ và chứng kiến tất cả
những hoạt động diễn ra thường ngày của con người.
- Dòng chảy của nước chính là ẩn dụ cho cuộc đời của mỗi con người.
+ Cuộc đời mỗi con người cũng trải qua những giai đoạn sinh - lão - bệnh - tử,
chứng kiến tất cả những hỉ nộ ái ố, những khía cạnh khác nhau của cuộc đời với
nhiều trạng thái và cung bậc khác nhau.
+ Dòng sông chầm chậm trôi ẩn dụ cho cuộc đời mỗi con người, khi chúng ta biết
sống chậm lại để lắng nghe và quan sát, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên sâu sắc
hơn.
Câu 4.
Dựa vào nội dung đoạn trích, HS lựa chọn những bài học phù hợp. Sau đây là gợi ý
của
Bài học về lẽ sống mà văn bản muốn gửi gắm qua hành trình từ sông ra biển của
nước:
- Cuộc đời mỗi con người là hữu hạn, hãy sống thật ý nghĩa. Để giống như dòng
chảy kia, khi vừa sinh ra, chúng ta chỉ là những giọt nước nhỏ bé được trào lên từ
những kẽ hở trên mặt đất nhưng khi cuối đời, ta đã phát triển thành một vùng đất
rộng lớn, góp phần làm nên những vùng nông nghiệp vĩ đại.
- Cuộc sống chứa đựng muôn vàn thử thách và khó khăn, hãy mạnh mẽ như dòng
chảy để có thể xuyên qua núi hay thậm chí tạo thành một hẻm núi, đánh bật lại
những khó khăn của cuộc đời mình.
- Cuộc sống có vô vàn màu sắc và cung bậc khác nhau, hãy sống chậm lại một chút
để lắng nghe và tận hưởng những vẻ đẹp của cuộc đời, để từ đó bồi đắp t...
 








Các ý kiến mới nhất