Vài điều suy nghĩ về toán học Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Huỳnh Thanh Huy
Ngày gửi: 11h:24' 12-07-2008
Dung lượng: 82.0 KB
Số lượt tải: 38
Nguồn: Internet
Người gửi: Huỳnh Thanh Huy
Ngày gửi: 11h:24' 12-07-2008
Dung lượng: 82.0 KB
Số lượt tải: 38
Số lượt thích:
0 người
Vài điều suy nghĩ về Toán học Việt Nam Nguyễn Tiến Dũng Professeur, Université de Toulouse III
LTS : GS Nguyễn Tiến Dũng cho biết bài này có thể sẽ được sửa đổi lại trong một vài điểm chi tiết. Các độc giả muốn có bản mới nhất, xin vào địa chỉ : http://zung.zetamu.com/ToanHocVietNam.pdf Ngoài ra những độc giả quan tâm đến toán học, có thể vào địa chỉ http://zung.zetamu.com - Toán học Việt Nam: danh và thực - Nhu cầu phát triển toán học ở Việt Nam - Vấn đề "cơm áo gạo tiền" của toán học Việt Nam - Vấn đề bằng cấp ở Việt Nam - Các tạp chí toán học của Việt Nam - Học sinh giỏi toán và hệ thống chuyên toán - Người Việt làm toán ở nước ngoài Toán học Việt Nam: danh và thực Rất nhiều người ở Việt Nam cho rằng nước ta có một nền toán học mạnh trên thế giới. Nếu tôi không nhầm, báo chí trong nước từng viết "Việt Nam là trung tâm toán học đứng thứ 10 thế giới", sau có đổi lại thành "đứng thứ 10 trong số các nước đang phát triển". Trên thực tế, Việt Nam có tổng cộng (tính tất cả các trường đại học và viện nghiên cứu) quãng trên 1000 cán bộ nghiên cứu giảng dạy về toán, trong đó chỉ có khoảng 300 người "tích cực nghiên cứu" (theo nghĩa là có công trình khoa học trong thời gian gần đây). [Số liệu này tôi nghe được từ Đại hội của Hội toán học Việt Nam năm 2004, có thể không hoàn toàn chính xác nhưng sai số chắc không nhiều lắm]. Theo một thống kê gần đây [Xem bài Nhìn lại 10 năm công bố ấn phẩm khoa học của Việt nam ... của Phạm Duy Hiển trên Tạp chí Hoạt động Khoa học ; http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2033] , thì trong giai đoạn 1995-2004 có tổng cộng 300 bài báo toán của người các nhà toán học Việt Nam (ở trong nước) có đăng trên tạp chí quốc tế mà không có đồng tác giả người nước ngoài; nếu kể cả các bài có đồng tác giả người nước ngoài thì con số này được nhân lên quãng 5-6 lần (tính trung bình quãng 150-200 bài một năm). Tuy nhiên, số bài đăng ở các tạp chí "hạng cao" còn rất ít. Theo một thống kê thì trong 3 năm 2003-2005 trong các tạp chí toán thuộc "top 10" chỉ có đúng 1 bài báo là của một người Việt làm toán trong nước, và nếu điểm qua 30 tạp chí thuộc loại uy tín nhất thì cũng chỉ tìm được quãng hơn một chục bài báo do các nhà toán học trong nước đăng trong 3 năm 2003-2005 (kể cả các bài có đồng tác giả người nước ngoài). Để so sánh, Đại học Toulouse (một trung tâm lớn cỡ vừa phải; trên thế giới có cả trăm trung tâm như vậy) có trên 100 người làm toán chuyên nghiệp, mỗi năm công bố hàng trăm công trình, trong đó có nhiều công trình đăng trong các tạp chí "top 10". Nếu tính về số lượng và chất lượng các công trình toán học thì cả nước Việt Nam chưa chắc đã bằng một trường đại học lớn ở các nước tiên tiến. Theo tôi, nền toán học Việt Nam (tính theo đóng góp và ảnh hưởng đến toán học thế giới) vào thời điểm hiện tại chỉ hơn được một số nước Đông Nam Á, những nước rất lạc hậu ở Châu Phi, và một số nước rất ít dân. Sự phát triển toán học hay khoa học nói chung của một nước đi đôi với sự phát triển kinh tế của nước đó, nên chuyện Việt Nam nền kinh tế còn yếu và nền toán học cũng còn yếu không có gì mâu thuẫn. Nhưng có những người ở Việt Nam hiểu nhầm là Việt Nam rất mạnh về toán trong khi kinh tế kém (so với những nước như Nhật Bản không có gì đặc biệt về toán mà kinh tế mạnh !?!) để rồi rút ra kết luận sai lầm là nền toán học Việt Nam không đem lại lợi ích gì cho đất nước. Nói một cách khách quan thì nền toán học Việt Nam tuy hiện tại còn chưa mạnh so với thế giới, nhưng so với trước đây thì đã tiến bộ rất nhiều, và trong tương lai chắc sẽ còn tiến bộ nhiều. Trước thế kỷ 20, khái niệm "toán học" hầu như không tồn tại ở Việt Nam. Ai có may mắn được học hành, thì cũng học thơ phú, lễ nghĩa là chính. Có lẽ nhà toán học (nói chính xác hơn là nhà giáo về toán) Việt Nam duy nhất thời trước thế kỷ 20 có được thế giới nhắc đến là Lương Thế Vinh (1441-1496?) bởi ông có soạn cuốn sách giáo khoa "Đại Thành Toán Pháp" [Tôi chưa được hân hạnh nhìn thấy cuốn sách này, chỉ được đọc một vài tài liệu của mấy người nghiên cứu lịch sử toán học, trong đó ghi rằng cuốn sách này có được lưu trữ ở thư viện quốc gia Hà Nội; và số pi trong cuốn sách này có giá trị bằng 3 ?]. Vào giữa thế kỷ 20 mới bắt đầu xuất hiện một vài tiến sĩ toán người Việt (du học ở phương Tây). Trong đó có GS Lê Văn Thiêm, bảo vệ Docteur d`Etat (tiến sỹ quốc gia) về giải tích phức ở Pháp năm 1949, người có công đầu trong việc xây dựng nền toán học hiện đại của Việt Nam. Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, số lượng người Việt làm toán (theo nghĩa có kết quả nghiên cứu toán học) tăng dần lên từ con số vài người lên đến hàng chục rồi hàng trăm người. Phần lớn những người làm toán Việt Nam hiện nay được đào tào hoặc tu nghiệp ở nước ngoài (các nước xã hội chủ nghĩa cũ hoặc phương Tây). Một số nhà toán học Việt Nam đã đạt tầm quốc tế, với hàng chục công trình khoa học đăng trên các tạp chí có uy tín cao trên thế giới, tiêu biểu như GS Hoàng Tụy và GS Ngô Việt Trung. Có một số người được "dư luận quần chúng" cho là những nhà toán học tiêu biểu nhất Việt Nam nhưng lại có đóng góp khoa học ít hơn những người khác. Có người trình độ "làng nhàng" nhưng báo chí luôn nhắc đến, bởi ngày trước có thành tích cao khi thi học sinh giỏi toán quốc tế. Có người được báo chí lăng xê thành nhà toán học hàng đầu từ khi chưa bảo vệ tiến sỹ. Có người được gắn danh là "người giải được bài toán thế kỷ" trong khi trong giới chuyên môn không ai đánh giá như vậy. Có vị mang danh "viện sỹ nổi tiếng", "một trong mấy trăm bộ óc vĩ đại nhất của thế kỷ trên thế giới", tự so sánh "cống hiến khoa học" của mình ngang tầm với những nhà toán học tên tuổi như Lobachevsky, trong khi "công trình" của vị chẳng được ai trên thế giới quan tâm đến. Phần lớn những người làm khoa học thực sự có lòng tự trọng và trung thực trong khoa học. Nhưng có những người giả làm khoa học, "mua danh bán tước" để đạt bằng cấp địa vị . Ở Liên Xô cũ, trong những năm tám mươi chín mươi của thế kỷ trước, chuyện người Việt "mua bằng", thuê người làm hộ luận án, nghe nói khá phổ biến, và chuyện "bằng rởm" ở Việt Nam nghe nói cũng không phải là hiếm. Hồi tôi học ở Nga (1986-1991), có một anh tốt nghiệp đại học trong nước được cử sang làm nghiên cứu sinh cùng khoa Toán Cơ trường Lomonoxop. Anh này học kém, đi thi tối thiểu bị thi lại, chủ yếu lo chuyện buôn bán, rồi "mua bằng" từ bằng TS đến bằng TSKH (doctor nauk), những người cùng khoa ai cũng biết chuyện. [Một người từng dạy anh này ở đại học ở Việt Nam có kể với tôi rằng anh này học xoàng hồi đại học nhưng hay đi xin điểm cho đủ tiêu chuẩn làm nghiên cứu sinh]. Thế rồi anh này về nước được "cơ cấu" vào chức lãnh đạo quản lý khoa học ở một nơi khá quan trọng. Những chuyện "cò gỗ mổ cò thật" như thế thật tai hại cho việc phát triển khoa học ở Việt Nam. Nhu cầu phát triển toán học ở Việt Nam Có một số người có học (kể cả ở Việt Nam lẫn ở nước ngoài) cho rằng những người làm toán là "ăn hại, tự sướng". Suy nghĩ này có lẽ xuất phát từ sự hiểu biết hạn chế về toán học và ứng dụng của toán học. Ngay ở Pháp, ông cựu bộ trưởng giáo dục và khoa học công nghệ Claude Allègre từng phát biểu những câu như kiểu « Les maths sont en train de se dévaluer de manière quasi inéluctable. Désormais, il y a des machines pour faire les calculs » [France-soir, 29/11/1999]. (Tạm dịch là: "toán học ngày càng trở nên vô dụng; bây giờ đã có máy tính thay thế để tính toán"). [Ông Laurent Schwartz, một trong những nhà toán học lớn nhất của thế kỷ 20, có viết thư cho Claude Allègre với đại ý là "Claude thân mến, không biết gì về toán học thì đừng phát biểu linh tinh"]. Thực ra, máy tính không làm giảm giá trị của toán học, mà hỗ trợ cho toán học, làm phong phú thêm cho toán học. Bản thân máy tính không "hiểu" các khái niệm và công thức toán, chỉ giúp tính toán với công thức thuật toán có sẵn. Ứng dụng của toán học hiện đại vào đời sống thường không trực tiếp, mà gián tiếp qua những khoa học, công nghệ khác, và bởi vậy nhìn bề ngoài khó thấy, khó cảm nhận. Nhưng trong bất kỳ ngành nào cũng có thể chỉ ra các ứng dụng của toán học. Xin kể vài ví dụ. Vật lý hiện đại luôn đòi hỏi đến công cụ, lý thuyết mới của toán học hiện đại (phương trình vi phân, hình học vi phân, lý thuyết biểu diễn, đại số toán tử, v.v.), và có những nhà vật lý hàng đầu như Edward Witten cũng đồng thời là những nhà toán học lớn. Có nhiều người được giải Nobel về kinh tế trong những năm gần đây chính nhờ những công trình mang tính toán học. Trên internet có thể trao đổi mua bán mà không sợ trộm vì các thông tin quan trọng thường được mã hóa để chống trộm, và việc làm mật mã này là một trong những ứng dụng trực tiếp của toán rời rạc, lý thuyết số và hình học đại số. Trong y học, để sáng chế các dụng cụ chẩn đoán, ví dụ như chẩn đoán có thai, người ta lập các mô hình toán về sự thay đổi trong cơ thể, rồi giải nó bằng các công cụ toán học, ví dụ như biến đổi Laplace trong phương trình đạo hàm riêng, v.v. Không phải ngẫu nhiên mà các nước tiên tiến nhất trên thế giới cũng là những nước mạnh nhất về toán học, và nhiều hãng công nghệ lớn và các tập đoàn tài chính trên thế giới hay tuyển việc những người có bằng TS về toán. Toán học có thể chia thành hai phần: toán lý thuyết (hay có thể gọi là toán cơ bản - fundamental mathematics) và toán ứng dụng (applied mathematics), tuy không có biên giới rõ ràng giữa hai phần này. Toán ứng dụng nhằm phát triển các lý thuyết và phương pháp tính để phục vụ các ngành khác, còn toán cơ bản thì nhằm giải quyết các vấn đề "nội tại" của toán học. Toán ứng dụng dùng kết quả của toán cơ bản để phát triển, và nhiều vấn đề trong toán cơ bản có xuất phát điểm là các bài toán ứng dụng. Không phải kết quả toán lý thuyết nào cũng sẽ tìm được ứng dụng trong ngành khác, nhưng những kết quả thực sự cơ bản thì trước sau cũng sẽ có ứng dụng, và các thành tựu về toán lý thuyết, ngay cả khi không có "giá trị kinh tế" tức thời, thì cũng có giá trị như là thành tựu văn hóa của thế giới. Thế giới cần đến toán học đã đành, nhưng Việt Nam còn nghèo nàn lạc hậu, có cần đến toán học không, và cần ở mức độ nào? Chưa
LTS : GS Nguyễn Tiến Dũng cho biết bài này có thể sẽ được sửa đổi lại trong một vài điểm chi tiết. Các độc giả muốn có bản mới nhất, xin vào địa chỉ : http://zung.zetamu.com/ToanHocVietNam.pdf Ngoài ra những độc giả quan tâm đến toán học, có thể vào địa chỉ http://zung.zetamu.com - Toán học Việt Nam: danh và thực - Nhu cầu phát triển toán học ở Việt Nam - Vấn đề "cơm áo gạo tiền" của toán học Việt Nam - Vấn đề bằng cấp ở Việt Nam - Các tạp chí toán học của Việt Nam - Học sinh giỏi toán và hệ thống chuyên toán - Người Việt làm toán ở nước ngoài Toán học Việt Nam: danh và thực Rất nhiều người ở Việt Nam cho rằng nước ta có một nền toán học mạnh trên thế giới. Nếu tôi không nhầm, báo chí trong nước từng viết "Việt Nam là trung tâm toán học đứng thứ 10 thế giới", sau có đổi lại thành "đứng thứ 10 trong số các nước đang phát triển". Trên thực tế, Việt Nam có tổng cộng (tính tất cả các trường đại học và viện nghiên cứu) quãng trên 1000 cán bộ nghiên cứu giảng dạy về toán, trong đó chỉ có khoảng 300 người "tích cực nghiên cứu" (theo nghĩa là có công trình khoa học trong thời gian gần đây). [Số liệu này tôi nghe được từ Đại hội của Hội toán học Việt Nam năm 2004, có thể không hoàn toàn chính xác nhưng sai số chắc không nhiều lắm]. Theo một thống kê gần đây [Xem bài Nhìn lại 10 năm công bố ấn phẩm khoa học của Việt nam ... của Phạm Duy Hiển trên Tạp chí Hoạt động Khoa học ; http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2033] , thì trong giai đoạn 1995-2004 có tổng cộng 300 bài báo toán của người các nhà toán học Việt Nam (ở trong nước) có đăng trên tạp chí quốc tế mà không có đồng tác giả người nước ngoài; nếu kể cả các bài có đồng tác giả người nước ngoài thì con số này được nhân lên quãng 5-6 lần (tính trung bình quãng 150-200 bài một năm). Tuy nhiên, số bài đăng ở các tạp chí "hạng cao" còn rất ít. Theo một thống kê thì trong 3 năm 2003-2005 trong các tạp chí toán thuộc "top 10" chỉ có đúng 1 bài báo là của một người Việt làm toán trong nước, và nếu điểm qua 30 tạp chí thuộc loại uy tín nhất thì cũng chỉ tìm được quãng hơn một chục bài báo do các nhà toán học trong nước đăng trong 3 năm 2003-2005 (kể cả các bài có đồng tác giả người nước ngoài). Để so sánh, Đại học Toulouse (một trung tâm lớn cỡ vừa phải; trên thế giới có cả trăm trung tâm như vậy) có trên 100 người làm toán chuyên nghiệp, mỗi năm công bố hàng trăm công trình, trong đó có nhiều công trình đăng trong các tạp chí "top 10". Nếu tính về số lượng và chất lượng các công trình toán học thì cả nước Việt Nam chưa chắc đã bằng một trường đại học lớn ở các nước tiên tiến. Theo tôi, nền toán học Việt Nam (tính theo đóng góp và ảnh hưởng đến toán học thế giới) vào thời điểm hiện tại chỉ hơn được một số nước Đông Nam Á, những nước rất lạc hậu ở Châu Phi, và một số nước rất ít dân. Sự phát triển toán học hay khoa học nói chung của một nước đi đôi với sự phát triển kinh tế của nước đó, nên chuyện Việt Nam nền kinh tế còn yếu và nền toán học cũng còn yếu không có gì mâu thuẫn. Nhưng có những người ở Việt Nam hiểu nhầm là Việt Nam rất mạnh về toán trong khi kinh tế kém (so với những nước như Nhật Bản không có gì đặc biệt về toán mà kinh tế mạnh !?!) để rồi rút ra kết luận sai lầm là nền toán học Việt Nam không đem lại lợi ích gì cho đất nước. Nói một cách khách quan thì nền toán học Việt Nam tuy hiện tại còn chưa mạnh so với thế giới, nhưng so với trước đây thì đã tiến bộ rất nhiều, và trong tương lai chắc sẽ còn tiến bộ nhiều. Trước thế kỷ 20, khái niệm "toán học" hầu như không tồn tại ở Việt Nam. Ai có may mắn được học hành, thì cũng học thơ phú, lễ nghĩa là chính. Có lẽ nhà toán học (nói chính xác hơn là nhà giáo về toán) Việt Nam duy nhất thời trước thế kỷ 20 có được thế giới nhắc đến là Lương Thế Vinh (1441-1496?) bởi ông có soạn cuốn sách giáo khoa "Đại Thành Toán Pháp" [Tôi chưa được hân hạnh nhìn thấy cuốn sách này, chỉ được đọc một vài tài liệu của mấy người nghiên cứu lịch sử toán học, trong đó ghi rằng cuốn sách này có được lưu trữ ở thư viện quốc gia Hà Nội; và số pi trong cuốn sách này có giá trị bằng 3 ?]. Vào giữa thế kỷ 20 mới bắt đầu xuất hiện một vài tiến sĩ toán người Việt (du học ở phương Tây). Trong đó có GS Lê Văn Thiêm, bảo vệ Docteur d`Etat (tiến sỹ quốc gia) về giải tích phức ở Pháp năm 1949, người có công đầu trong việc xây dựng nền toán học hiện đại của Việt Nam. Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, số lượng người Việt làm toán (theo nghĩa có kết quả nghiên cứu toán học) tăng dần lên từ con số vài người lên đến hàng chục rồi hàng trăm người. Phần lớn những người làm toán Việt Nam hiện nay được đào tào hoặc tu nghiệp ở nước ngoài (các nước xã hội chủ nghĩa cũ hoặc phương Tây). Một số nhà toán học Việt Nam đã đạt tầm quốc tế, với hàng chục công trình khoa học đăng trên các tạp chí có uy tín cao trên thế giới, tiêu biểu như GS Hoàng Tụy và GS Ngô Việt Trung. Có một số người được "dư luận quần chúng" cho là những nhà toán học tiêu biểu nhất Việt Nam nhưng lại có đóng góp khoa học ít hơn những người khác. Có người trình độ "làng nhàng" nhưng báo chí luôn nhắc đến, bởi ngày trước có thành tích cao khi thi học sinh giỏi toán quốc tế. Có người được báo chí lăng xê thành nhà toán học hàng đầu từ khi chưa bảo vệ tiến sỹ. Có người được gắn danh là "người giải được bài toán thế kỷ" trong khi trong giới chuyên môn không ai đánh giá như vậy. Có vị mang danh "viện sỹ nổi tiếng", "một trong mấy trăm bộ óc vĩ đại nhất của thế kỷ trên thế giới", tự so sánh "cống hiến khoa học" của mình ngang tầm với những nhà toán học tên tuổi như Lobachevsky, trong khi "công trình" của vị chẳng được ai trên thế giới quan tâm đến. Phần lớn những người làm khoa học thực sự có lòng tự trọng và trung thực trong khoa học. Nhưng có những người giả làm khoa học, "mua danh bán tước" để đạt bằng cấp địa vị . Ở Liên Xô cũ, trong những năm tám mươi chín mươi của thế kỷ trước, chuyện người Việt "mua bằng", thuê người làm hộ luận án, nghe nói khá phổ biến, và chuyện "bằng rởm" ở Việt Nam nghe nói cũng không phải là hiếm. Hồi tôi học ở Nga (1986-1991), có một anh tốt nghiệp đại học trong nước được cử sang làm nghiên cứu sinh cùng khoa Toán Cơ trường Lomonoxop. Anh này học kém, đi thi tối thiểu bị thi lại, chủ yếu lo chuyện buôn bán, rồi "mua bằng" từ bằng TS đến bằng TSKH (doctor nauk), những người cùng khoa ai cũng biết chuyện. [Một người từng dạy anh này ở đại học ở Việt Nam có kể với tôi rằng anh này học xoàng hồi đại học nhưng hay đi xin điểm cho đủ tiêu chuẩn làm nghiên cứu sinh]. Thế rồi anh này về nước được "cơ cấu" vào chức lãnh đạo quản lý khoa học ở một nơi khá quan trọng. Những chuyện "cò gỗ mổ cò thật" như thế thật tai hại cho việc phát triển khoa học ở Việt Nam. Nhu cầu phát triển toán học ở Việt Nam Có một số người có học (kể cả ở Việt Nam lẫn ở nước ngoài) cho rằng những người làm toán là "ăn hại, tự sướng". Suy nghĩ này có lẽ xuất phát từ sự hiểu biết hạn chế về toán học và ứng dụng của toán học. Ngay ở Pháp, ông cựu bộ trưởng giáo dục và khoa học công nghệ Claude Allègre từng phát biểu những câu như kiểu « Les maths sont en train de se dévaluer de manière quasi inéluctable. Désormais, il y a des machines pour faire les calculs » [France-soir, 29/11/1999]. (Tạm dịch là: "toán học ngày càng trở nên vô dụng; bây giờ đã có máy tính thay thế để tính toán"). [Ông Laurent Schwartz, một trong những nhà toán học lớn nhất của thế kỷ 20, có viết thư cho Claude Allègre với đại ý là "Claude thân mến, không biết gì về toán học thì đừng phát biểu linh tinh"]. Thực ra, máy tính không làm giảm giá trị của toán học, mà hỗ trợ cho toán học, làm phong phú thêm cho toán học. Bản thân máy tính không "hiểu" các khái niệm và công thức toán, chỉ giúp tính toán với công thức thuật toán có sẵn. Ứng dụng của toán học hiện đại vào đời sống thường không trực tiếp, mà gián tiếp qua những khoa học, công nghệ khác, và bởi vậy nhìn bề ngoài khó thấy, khó cảm nhận. Nhưng trong bất kỳ ngành nào cũng có thể chỉ ra các ứng dụng của toán học. Xin kể vài ví dụ. Vật lý hiện đại luôn đòi hỏi đến công cụ, lý thuyết mới của toán học hiện đại (phương trình vi phân, hình học vi phân, lý thuyết biểu diễn, đại số toán tử, v.v.), và có những nhà vật lý hàng đầu như Edward Witten cũng đồng thời là những nhà toán học lớn. Có nhiều người được giải Nobel về kinh tế trong những năm gần đây chính nhờ những công trình mang tính toán học. Trên internet có thể trao đổi mua bán mà không sợ trộm vì các thông tin quan trọng thường được mã hóa để chống trộm, và việc làm mật mã này là một trong những ứng dụng trực tiếp của toán rời rạc, lý thuyết số và hình học đại số. Trong y học, để sáng chế các dụng cụ chẩn đoán, ví dụ như chẩn đoán có thai, người ta lập các mô hình toán về sự thay đổi trong cơ thể, rồi giải nó bằng các công cụ toán học, ví dụ như biến đổi Laplace trong phương trình đạo hàm riêng, v.v. Không phải ngẫu nhiên mà các nước tiên tiến nhất trên thế giới cũng là những nước mạnh nhất về toán học, và nhiều hãng công nghệ lớn và các tập đoàn tài chính trên thế giới hay tuyển việc những người có bằng TS về toán. Toán học có thể chia thành hai phần: toán lý thuyết (hay có thể gọi là toán cơ bản - fundamental mathematics) và toán ứng dụng (applied mathematics), tuy không có biên giới rõ ràng giữa hai phần này. Toán ứng dụng nhằm phát triển các lý thuyết và phương pháp tính để phục vụ các ngành khác, còn toán cơ bản thì nhằm giải quyết các vấn đề "nội tại" của toán học. Toán ứng dụng dùng kết quả của toán cơ bản để phát triển, và nhiều vấn đề trong toán cơ bản có xuất phát điểm là các bài toán ứng dụng. Không phải kết quả toán lý thuyết nào cũng sẽ tìm được ứng dụng trong ngành khác, nhưng những kết quả thực sự cơ bản thì trước sau cũng sẽ có ứng dụng, và các thành tựu về toán lý thuyết, ngay cả khi không có "giá trị kinh tế" tức thời, thì cũng có giá trị như là thành tựu văn hóa của thế giới. Thế giới cần đến toán học đã đành, nhưng Việt Nam còn nghèo nàn lạc hậu, có cần đến toán học không, và cần ở mức độ nào? Chưa
 








Các ý kiến mới nhất