Tìm kiếm Giáo án
Tuần 2. Tự tình (bài II)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Vũ Phương Uyên
Ngày gửi: 16h:32' 30-08-2014
Dung lượng: 28.5 KB
Số lượt tải: 63
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Vũ Phương Uyên
Ngày gửi: 16h:32' 30-08-2014
Dung lượng: 28.5 KB
Số lượt tải: 63
Số lượt thích:
0 người
Tuần: 01 Ngày soạn: 20/08/2014
Tiết: 4 Ngày dạy: 27/08/2014
TỰ TÌNH
(Bài II) Hồ Xuân Hương
A. Mục tiêu cần đạt
1. Về kiến thức
- Cảm nhận được tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất trước tình cảnh éo le và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương;
- Thấy được tài năng thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
2. Về kĩ năng
- Đọc hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loạ;
- Phân tích bình giảng bài thơ;
- Rèn kĩ năng đọc diễn cảm và phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình.
3. Về thái độ
- Trân trọng, cảm thông với thân phận và khát vọng của người phụ nữ trong XH xưa.
B. Cách thức
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ: Nêu những phương diện chung và riêng của lời nói cá nhân ?
3. Dạy bài mới
Cuối TK 18, đầu TK 19, xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, làm cho cuộc sống của người nông dân vô cùng khổ cực, đặc biệt là người phụ nữ. Và không ít nhà thơ, nhà văn đã phản ánh điều này trong tác phẩm như: “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), “Chinh phụ ngâm” (Đặng trần Côn), “Cung oán ngâm khúc” (Nguyễn Gia Thiều), …Đó là những lời cảm thông của người đàn ông nói về người phụ nữ, vậy người phụ nữ nói về thân phận của chính họ như thế nào, ta cùng tìm hiểu bài “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương.
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ
KIẾN THỨC CẦN ĐẠT
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung
- GV: Giới thiệu khái quát về tác giả ?
- HS: Theo dõi, gạch chân SGK
- GV: Nêu xuất xứ của bài thơ?
- GV: đọc bài Tự tình I, III giúp HS hiểu hơn về bài II
- GV Gọi 2 HS đọc diễn cảm văn bản, chú ý cách ngắt nhịp, các từ ngữ thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình.
Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc – hiểu VB
1. Hai câu đề
- CH: Bốn câu thơ đầu cho thấy tác giả đang ở trong hoàn cảnh và tâm trạng như thế nào?
- GV: Các nhà thơ xưa thường chọn thời điểm thích hợp: Đêm khuya cho nhân vật trữ tình của mình dễ bề bộc lộ tâm sự. Với Nguyễn Du: “Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh - Giật mình, mình lại thương mình xót xa”. Nguyễn Gia Thiều: “Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền, đêm năm canh lần nương vách quế”. Tâm trạng của người cung nữ diễn ra trọn trong đêm. Còn với Hồ Xuân Hương hai trong ba bài thơ Tự tình đều được mở đầu bằng đêm khuya, canh khuya.
- CH: Suy nghĩ của em về âm thanh văng vẳng?
- GV: Tiếng trống canh đổ dồn hơn, nhanh hơn, như hối thúc thời gian trôi nhanh hơn, tuổi đời người đàn bà vì thế cũng trôi nhanh hơn. Trong sự đổ dồn của tiếng trống cầm canh, ta như bắt gặp sự giật mình thảng thốt của nhà thơ trước bước đi của thời gian. Như thế, âm thanh của tiếng trống canh không chỉ cho ta biết không gian, thời gian tự tình của nữ sĩ mà còn góp phần hé mở tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình.
- Liên hệ:
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì,
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
(Dỗ người đàn bà chồng chết)
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
(Tự tình I)
- CH: Phân tích những biện pháp nghệ thuật trong câu thơ Trơ cái hồng nhan với nước non?
- GV: “Hồng nhan” là cách nói hoán dụ, chỉ nhan sắc đẹp và người phụ nữ nói chung. Từ “cái” + hồng nhan => Đồ vật hoá thân phận làm cho giọng thơ trĩu xuống nặng nề như một sự đay nghiến trước cái duyên số quá hẩm hiu.
Nếu hiểu “trơ” chai lì, mất cảm giác thì câu thơ có nghĩa là con người đau buồn nhiều đến nỗi thành ra trơ lì mất hết cảm giác trứơc cảnh vật, trước cuộc đời. Nếu đặt trong mối quan hệ với “nước non” thì câu còn hàm ý sự bền gan thách thức cùng số phận Đó cũng là cá tính mạnh mẽ của nhà thơ.
- Liên hệ:
- Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ (T. Kiều)
( Tâm trạng Kiều bị bỏ rơi không chút đoái thương
- Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
(Thăng Long thành hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan) ( Thách thức
Tiết: 4 Ngày dạy: 27/08/2014
TỰ TÌNH
(Bài II) Hồ Xuân Hương
A. Mục tiêu cần đạt
1. Về kiến thức
- Cảm nhận được tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất trước tình cảnh éo le và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương;
- Thấy được tài năng thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
2. Về kĩ năng
- Đọc hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loạ;
- Phân tích bình giảng bài thơ;
- Rèn kĩ năng đọc diễn cảm và phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình.
3. Về thái độ
- Trân trọng, cảm thông với thân phận và khát vọng của người phụ nữ trong XH xưa.
B. Cách thức
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ: Nêu những phương diện chung và riêng của lời nói cá nhân ?
3. Dạy bài mới
Cuối TK 18, đầu TK 19, xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, làm cho cuộc sống của người nông dân vô cùng khổ cực, đặc biệt là người phụ nữ. Và không ít nhà thơ, nhà văn đã phản ánh điều này trong tác phẩm như: “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), “Chinh phụ ngâm” (Đặng trần Côn), “Cung oán ngâm khúc” (Nguyễn Gia Thiều), …Đó là những lời cảm thông của người đàn ông nói về người phụ nữ, vậy người phụ nữ nói về thân phận của chính họ như thế nào, ta cùng tìm hiểu bài “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương.
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ
KIẾN THỨC CẦN ĐẠT
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung
- GV: Giới thiệu khái quát về tác giả ?
- HS: Theo dõi, gạch chân SGK
- GV: Nêu xuất xứ của bài thơ?
- GV: đọc bài Tự tình I, III giúp HS hiểu hơn về bài II
- GV Gọi 2 HS đọc diễn cảm văn bản, chú ý cách ngắt nhịp, các từ ngữ thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình.
Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc – hiểu VB
1. Hai câu đề
- CH: Bốn câu thơ đầu cho thấy tác giả đang ở trong hoàn cảnh và tâm trạng như thế nào?
- GV: Các nhà thơ xưa thường chọn thời điểm thích hợp: Đêm khuya cho nhân vật trữ tình của mình dễ bề bộc lộ tâm sự. Với Nguyễn Du: “Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh - Giật mình, mình lại thương mình xót xa”. Nguyễn Gia Thiều: “Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền, đêm năm canh lần nương vách quế”. Tâm trạng của người cung nữ diễn ra trọn trong đêm. Còn với Hồ Xuân Hương hai trong ba bài thơ Tự tình đều được mở đầu bằng đêm khuya, canh khuya.
- CH: Suy nghĩ của em về âm thanh văng vẳng?
- GV: Tiếng trống canh đổ dồn hơn, nhanh hơn, như hối thúc thời gian trôi nhanh hơn, tuổi đời người đàn bà vì thế cũng trôi nhanh hơn. Trong sự đổ dồn của tiếng trống cầm canh, ta như bắt gặp sự giật mình thảng thốt của nhà thơ trước bước đi của thời gian. Như thế, âm thanh của tiếng trống canh không chỉ cho ta biết không gian, thời gian tự tình của nữ sĩ mà còn góp phần hé mở tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình.
- Liên hệ:
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì,
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
(Dỗ người đàn bà chồng chết)
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
(Tự tình I)
- CH: Phân tích những biện pháp nghệ thuật trong câu thơ Trơ cái hồng nhan với nước non?
- GV: “Hồng nhan” là cách nói hoán dụ, chỉ nhan sắc đẹp và người phụ nữ nói chung. Từ “cái” + hồng nhan => Đồ vật hoá thân phận làm cho giọng thơ trĩu xuống nặng nề như một sự đay nghiến trước cái duyên số quá hẩm hiu.
Nếu hiểu “trơ” chai lì, mất cảm giác thì câu thơ có nghĩa là con người đau buồn nhiều đến nỗi thành ra trơ lì mất hết cảm giác trứơc cảnh vật, trước cuộc đời. Nếu đặt trong mối quan hệ với “nước non” thì câu còn hàm ý sự bền gan thách thức cùng số phận Đó cũng là cá tính mạnh mẽ của nhà thơ.
- Liên hệ:
- Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ (T. Kiều)
( Tâm trạng Kiều bị bỏ rơi không chút đoái thương
- Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
(Thăng Long thành hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan) ( Thách thức
 








Các ý kiến mới nhất