Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Từ đồng nghĩa

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Dương
Ngày gửi: 00h:12' 06-11-2012
Dung lượng: 4.2 KB
Số lượt tải: 37
Số lượt thích: 0 người
Trong ngôn ngữ, hiện tượng đồng nghĩa là một hiện tượng phổ bíến. Tiếng Việt cũng vậy. Việc xuất hiện các từ có mối quan hệ tương đồng về một hay nhiều nét nghĩa để cùng biểu thị một sự vật sự việc đã đem lại cho tiếng Việt sự phong phú đa dạng trong cách biểu thị của nó.
1/ Quan niệm về từ đồng nghĩa:
Về hiện tượng đồng nghĩa đã có nhiều quan điểm khác nhau đưa ra những khái niệm khác nhau. Nhìn chung có 2 quan niệm chính. Một là: dựa vào đối tượng được gọi tên; hai là dựa vào khái niệm do từ biểu thị.
Trên cơ sở phân tích những quan niệm và định nghĩa của các tác giả đi trước, GS-TS Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra định nghĩa về từ đồng nghĩa như sau:
“ Hai đơn vị từ vựng / từ được gọi là đồng nghĩa khi chúng có vỏ ngữ âm khác nhau biểu thị các biểu vật hoặc / và biểu niệm giống nhau và:
a/ Nếu chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B” và đảo lại được “B là A” mà không cần phải chỉnh lí bằng cách thêm bớt nét nghĩa gì vào một trong hai đơn vị/ từ thì đó là những đơn vị từ vựng / từ cùng nghĩa.
b/ Nếu như để chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu “A là B” và đảo lại được “B là A” cần có sự chỉnh lí, thêm bớt nét nghĩa nào đó vào một trong hai đơn vị / từ thì đó là những đơn vị từ vựng / từ gần nghĩa.”
Với định nghĩa trên có thể nhận thấy những từ đồng nghĩa phải là các từ thuộc về cùng một từ loại ; trong ý nghĩa của chúng có chứa những yếu tố đồng nhất, các yếu tố khác nhau của các ý nghĩa này bị trung hòa hóa trong những ngữ cảnh nhất định.
Các từ đồng nghĩa là những từ đối lập nhau chỉ theo những đặc trưng ngữ nghĩa mà trong những ngữ cảnh nhất định trở thành không cơ bản. Do số lượng các yếu tố ngữ nghĩa trùng nhau ở các từ khác nhau là không như nhau nên có thể thấy mức độ đồng nghĩa đối với các từ là khác nhau. Một số từ cực kỳ gần gũi về ý nghĩa được gọi là những từ cùng nghĩa. Trường hợp đặc biệt của những từ cùng nghĩa là những từ đồng nghĩa tuyệt đối. Trường hợp các từ đồng nghĩa khác có mức độ giống nhau về ý nghĩa kém hơn trường hợp trên thì đó là những từ gần nghĩa. Ngoài ra quan hệ đồng nghĩa giữa các đơn vị từ vựng còn được xét ở bình diện số lượng nghĩa giống nhau của chúng. Nếu các đơn vị chỉ có một số lượng nhất định các nghĩa giống nhau thì đó là những đơn vị đồng nghĩa bộ phận.

2/ Tổ chức cấu trúc dãy đồng nghĩa:
Các từ đồng nghĩa lập thành nhóm, loạt hay dãy đồng nghĩa. Mỗi dãy đồng nghĩa có một từ trung tâm hay từ đầu mục và các từ đồng nghĩa khác. Tuy nhiên cần phân biệt rõ hai khái niệm từ trung tâm và từ đầu mục như sau:
Từ đầu mục: là tên gọi bao quát của một “tiểu trường” đồng nghĩa, trong đó được chia thành các dãy đồng nghĩa. Từ đầu mục thường được chọn là từ ghép đẳng lập hoặc từ ghép có hình thức tựa láy có nghĩa bao gộp, khái quát. Trong trường hợp đặc biệt, có thể chọn từ trung tâm của một dãy nào đó trong trường đồng nghĩa này làm từ đầu mục. Các dãy đồng nghĩa trong trường được ghi thứ tự bằng con chữ.
Từ trung tâm: là từ đầu mục của một dãy đồng nghĩa, có thể dùng để giải thích nghĩa cho các từ trong dãy. Từ trung tâm đứng đầu trong mỗi dãy.

3/ Phương pháp xác định từ trung tâm trong dãy đồng nghĩa:
Trong cuốn Từ đồng nghĩa tiếng Việt, GS-TS Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra cách xác định từ trung tâm như sau:
Trường hợp một: Dãy đồng nghĩa chỉ có các từ cùng nghĩa:
- Các từ có ý nghĩa logích- sự vật tính hoàn toàn giống nhau, chỉ khác nhau ở sắc thái phụ về phong cách- biểu cảm và phạm vi sử dụng….
Đối với các từ này thì từ được chọn làm từ trung tâm thường là từ gốc ở dạng đầy đủ, có ý nghĩa trực tiếp (tức nghĩa đen) hoặc đôi khi là có nghĩa chuyển (khi từ trung tâm có nhiều nghĩa). Đó cũng là những từ trung tính về các phương diện, có ý nghĩa rộng hơn các từ khác trong dãy, nó cũng có khả năng kết hợp rộng nhất.
- Khi các từ trong dãy đều bị đánh dấu về phong cách biểu cảm, phạm vi sử dụng hay vay mượn, từ thuần Việt cùng nghĩa sẽ được chọn làm từ trung tâm.
Trường hợp hai: Các từ trong dãy là những từ gần nghĩa:
- Dãy đồng nghĩa gồm từ
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓