Bài 1. Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Quyền
Ngày gửi: 08h:04' 11-08-2019
Dung lượng: 49.7 KB
Số lượt tải: 163
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Quyền
Ngày gửi: 08h:04' 11-08-2019
Dung lượng: 49.7 KB
Số lượt tải: 163
Số lượt thích:
0 người
MỞ ĐẦU
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, với cách đánh mưu trí, sáng tạo, ông cha ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc như chiến thắng Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chương Dương, Hàm Tử,…Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần yêu nước và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta lại được phát huy lên một tầm cao mới. Dân tộc ta đã đánh thắng hai kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Từ thực tiễn chống giặc ngoại xâm của dân tộc, các thế hệ ông cha đã viết nên truyền thống vẻ vang rất đáng tự hào và những bài học quý báu đối với các thế hệ mai sau.
Thế hệ trẻ ngày nay được sống trong hòa bình, tự do cần phải biết quý trọng giá trị của truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc. Từ việc học tập nâng cao hiểu biết về truyền thống đấu tranh đánh giặc của dân tộc ta, học sinh xác định được trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên
- Nhà nước đầu tiên Văn Lang ra đời khoảng thế kỉ VI đến thế kỉ VII trước Công nguyên. Lãnh thổ Văn Lang có vị trí địa lí quan trọng, nằm trên đầu mối những đường giao thông qua bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á. Nước ta sớm hình thành nền văn minh sông Hồng, còn gọi là nền văn minh Văn Lang mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn rực rỡ.
- Do vị trí địa lí và điều kiện kinh tế, nước ta luôn bị các thế lực bành trướng phương Bắc âm mưu thôn tính để mở rộng lãnh thổ. Do đó, yêu cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập đã sớm xuất hiện trong lịch sử dân tộc ta.
- Cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên là cuộc kháng chiến chống quân Tần (214 – 208 trước Công nguyên). Năm 214 trước Công nguyên, nhà Tần mang quân sang xâm lược nước ta. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Vua Hùng và sau đó là Thục Phán đứng lên kháng chiến. Sau khi giành được thắng lợi, Thục Phán thống nhất hai bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt, lập ra nhà nước Âu Lạc, đời đô về Cổ Loa.
- Sau cuộc kháng chiến chống quân Tần, cuộc kháng chiến của Nhân dân Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo chống quân xâm lược của Triệu Đà từ năm 184 đến năm 179 trước Công nguyên bị thất bại. Từ đây nước ta rơi vào thảm họa hơn một nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, sử gọi là thời kì Bắc thuộc.
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ I đến thế kỉ X)
- Dưới ách thống trị của chính quyền đô hộ, trải qua nhiều triều đại, phong kiến phương Bắc luôn tìm cách vơ vét của cải, áp bức và đồng hóa dân tộc ta, biến nước ta thành quận, huyện của chúng.
- Dân ta quyết không chịu khuất phục, đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ chống áp bức, bóc lột, giữ gìn bản sắc dân tộc và quyết tâm đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa:
+ Hai Bà Trưng (năm 40)
+ Bà Triệu (năm 248)
+ Lí Bí (năm 542)
+ Triệu Quang Phục (năm 548)
+ Mai Thúc Loan (năm 722)
+ Phùng Hưng ( năm 766)
+ Khúc Thừa Dụ ( năm 905). Năm 906, nhân dân ta đã giành lại quyền tự chủ.
+ Cuộc chiến tranh chống quân Nam Hán xâm lược lần thứ nhất dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ (năm 931)
+ Cuộc chiến tranh chống quân Nam Hán xâm lược lần thứ hai dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền (938). Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938, dân tộc ta giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc
3. Các cuộc chiến tranh giữ nước (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX)
- Sau khi chiến thắng giặc ngoại xâm, Ngô Quyền lên ngôi vua, bắt tay vào xây dựng nhà nước độc lập. Từ đó, nước ta trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ, Lê Sơ, Mạc, Hậu Lê (Lê Trung Hưng), Vua Lê – chúa Trịnh, Trịnh – Nguyễn phân tranh, Tây Sơn, nhà Nguyễn.
- Tuy nhiên trong giai đoạn này, dân tộc ta phải nhiều lần đứng
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, với cách đánh mưu trí, sáng tạo, ông cha ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc như chiến thắng Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chương Dương, Hàm Tử,…Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần yêu nước và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta lại được phát huy lên một tầm cao mới. Dân tộc ta đã đánh thắng hai kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Từ thực tiễn chống giặc ngoại xâm của dân tộc, các thế hệ ông cha đã viết nên truyền thống vẻ vang rất đáng tự hào và những bài học quý báu đối với các thế hệ mai sau.
Thế hệ trẻ ngày nay được sống trong hòa bình, tự do cần phải biết quý trọng giá trị của truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc. Từ việc học tập nâng cao hiểu biết về truyền thống đấu tranh đánh giặc của dân tộc ta, học sinh xác định được trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên
- Nhà nước đầu tiên Văn Lang ra đời khoảng thế kỉ VI đến thế kỉ VII trước Công nguyên. Lãnh thổ Văn Lang có vị trí địa lí quan trọng, nằm trên đầu mối những đường giao thông qua bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á. Nước ta sớm hình thành nền văn minh sông Hồng, còn gọi là nền văn minh Văn Lang mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn rực rỡ.
- Do vị trí địa lí và điều kiện kinh tế, nước ta luôn bị các thế lực bành trướng phương Bắc âm mưu thôn tính để mở rộng lãnh thổ. Do đó, yêu cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập đã sớm xuất hiện trong lịch sử dân tộc ta.
- Cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên là cuộc kháng chiến chống quân Tần (214 – 208 trước Công nguyên). Năm 214 trước Công nguyên, nhà Tần mang quân sang xâm lược nước ta. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Vua Hùng và sau đó là Thục Phán đứng lên kháng chiến. Sau khi giành được thắng lợi, Thục Phán thống nhất hai bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt, lập ra nhà nước Âu Lạc, đời đô về Cổ Loa.
- Sau cuộc kháng chiến chống quân Tần, cuộc kháng chiến của Nhân dân Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo chống quân xâm lược của Triệu Đà từ năm 184 đến năm 179 trước Công nguyên bị thất bại. Từ đây nước ta rơi vào thảm họa hơn một nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, sử gọi là thời kì Bắc thuộc.
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ I đến thế kỉ X)
- Dưới ách thống trị của chính quyền đô hộ, trải qua nhiều triều đại, phong kiến phương Bắc luôn tìm cách vơ vét của cải, áp bức và đồng hóa dân tộc ta, biến nước ta thành quận, huyện của chúng.
- Dân ta quyết không chịu khuất phục, đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ chống áp bức, bóc lột, giữ gìn bản sắc dân tộc và quyết tâm đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa:
+ Hai Bà Trưng (năm 40)
+ Bà Triệu (năm 248)
+ Lí Bí (năm 542)
+ Triệu Quang Phục (năm 548)
+ Mai Thúc Loan (năm 722)
+ Phùng Hưng ( năm 766)
+ Khúc Thừa Dụ ( năm 905). Năm 906, nhân dân ta đã giành lại quyền tự chủ.
+ Cuộc chiến tranh chống quân Nam Hán xâm lược lần thứ nhất dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ (năm 931)
+ Cuộc chiến tranh chống quân Nam Hán xâm lược lần thứ hai dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền (938). Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938, dân tộc ta giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc
3. Các cuộc chiến tranh giữ nước (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX)
- Sau khi chiến thắng giặc ngoại xâm, Ngô Quyền lên ngôi vua, bắt tay vào xây dựng nhà nước độc lập. Từ đó, nước ta trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ, Lê Sơ, Mạc, Hậu Lê (Lê Trung Hưng), Vua Lê – chúa Trịnh, Trịnh – Nguyễn phân tranh, Tây Sơn, nhà Nguyễn.
- Tuy nhiên trong giai đoạn này, dân tộc ta phải nhiều lần đứng
 








Các ý kiến mới nhất