Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TRIẾT LÌ HÀNH ĐỘNG HỒ CHÍ MINH

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:40' 15-01-2024
Dung lượng: 8.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung:
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
ThS. PHẠM THỊ THINH
Biên tập nội dung:

ThS. BÙI THỊ ÁNH HỒNG
TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
BÙI BỘI THU

Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:

NGUYỄN MẠNH HÙNG
PHẠM THU HÀ
CAO THỊ LAN ANH
VIỆT HÀ

Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 4139-2020/CXBIPH/18-337/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 5369-QĐ/NXBCTQG, ngày 15/10/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 10 năm 2020.
Mã số ISBN: 978-604-57-6113-7.

Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm
cña Th­ viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Yên Ngọc Trung
Triết lý hành động Hồ Chí Minh / Yên Ngọc Trung. - H. :
Chính trị Quốc gia, 2020. - 280tr. ; 21cm
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh 2. Triết lí 3. Việt Nam
335.4346 - dc23
CTK0227p-CIP

3

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

C

hủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của sự thâu thái,
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của văn hóa nhân loại,

các hệ tư tưởng, trường phái triết học trên thế giới, trên nền
tảng của triết lý truyền thống dân tộc để hình thành tư
tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc và triết lý phát triển đất
nước. Triết lý hành động Hồ Chí Minh biểu hiện bằng nhiều
hình thức khác nhau, chủ yếu là qua hành động thực tiễn,
bài nói, bài viết, qua phong cách, lối sống, cách đối nhân xử
thế, thái độ, cử chỉ của Người. Triết lý hành động Hồ Chí
Minh mang đặc điểm riêng có của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
toát lên triết lý uyên bác, tinh tế, sâu sắc riêng biệt của một
con người có cốt cách truyền thống mà cũng rất hiện đại,
cộng sản mà vô cùng yêu nước, bình dị mà vô cùng vĩ đại.
Vận dụng triết lý hành động Hồ Chí Minh, đi theo con
đường do Người lựa chọn, lãnh đạo, định hướng, trong những
năm qua, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo đã
đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, đội
ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện, trưởng thành, có ý
thức trách nhiệm,... Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số cán bộ,
đảng viên đã xuất hiện tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò

5

lãnh đạo của Đảng. Do đó, triết lý hành động Hồ Chí Minh có
ý nghĩa quan trọng, giúp cán bộ, đảng viên phấn đấu rèn
luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực, động cơ và
trách nhiệm đúng đắn, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc,
phục vụ Nhân dân.
Nhằm cung cấp tài liệu cho bạn đọc, các nhà nghiên cứu
tìm hiểu những vấn đề lý luận, giá trị dân tộc và thời đại của
triết lý hành động Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Triết lý hành động
Hồ Chí Minh của TS. Yên Ngọc Trung - Giảng viên Học
viện Chính trị khu vực I.
Cuốn sách gồm 3 chương:
Chương I: Khái niệm, cơ sở hình thành, bản chất triết lý
hành động Hồ Chí Minh.
Chương II: Nội dung cơ bản của triết lý hành động Hồ Chí Minh.
Chương III: Giá trị dân tộc và thời đại của triết lý hành
động Hồ Chí Minh.
Mặc dù đã cố gắng trong quá trình biên tập, xuất bản,
song đây là đề tài nghiên cứu mới, do vậy nội dung cuốn sách
khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận
được ý kiến đóng góp của bạn đọc để nội dung cuốn sách được
hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 01 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

6

LỜI NÓI ĐẦU

T

ư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm
toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu, vận dụng và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ góp phần lý
giải những vấn đề của thực tiễn đặt ra, đồng thời còn cung
cấp cơ sở lý luận cho công cuộc đổi mới, phát triển đất
nước. Tuy nhiên, ở góc độ Hồ Chí Minh học, nghiên cứu về
triết lý Hồ Chí Minh còn chưa nhiều, mới chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu về triết lý phát triển Hồ Chí Minh.
Vấn đề đặt ra là, phải chăng khi nghiên cứu về triết
lý phát triển Hồ Chí Minh, các nhà khoa học nhận thấy
lôgích phát triển của triết lý có một sợi chỉ đỏ xuyên
suốt nội dung nghiên cứu? Sợi chỉ đó là tư tưởng độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, một nội dung
xuyên suốt các vấn đề của cách mạng, của yêu cầu giải
phóng và phát triển ở Việt Nam. Còn các triết lý khác
của Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có sự liên kết thành hệ
thống? Có phải chăng các triết lý của Chủ tịch Hồ Chí
Minh không có một mẫu số chung? Và như vậy, nghiên
cứu các triết lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có thể
7

làm rõ từng triết lý với những nội dung khác nhau, và
mỗi triết lý chỉ có thể vận dụng vào một vấn đề cụ thể.
Có khi nào, ở một người có tư tưởng và hành động
thủy chung như nhất, với nhiều triết lý sâu sắc mà các
triết lý lại rời rạc, không có sợi dây liên kết, không nằm
trong một lôgích, sự thống nhất nào đó? Quả thật là có
khó khăn, phức tạp hơn khi đi tìm một mẫu số chung
cho tất cả những triết lý tưởng như rời rạc này. Nhưng
không phải là không thể, bởi điều mà bất kỳ ai nghiên
cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thừa nhận: tư tưởng,
phương pháp cũng như phong cách của Chủ tịch Hồ Chí
Minh thấm sâu trong từng hành động, việc làm của
Người. Tất cả mọi hành động, việc làm của Người đều
hướng tới một mục đích là giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội và giải phóng con người.
Bằng hành động thực tiễn, trải qua rất nhiều gian
khổ hy sinh, vô cùng cao thượng, trong sáng và đẹp đẽ,
triết lý hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình
thành từ rất sớm, trở thành chủ đề nhất quán xuyên
suốt đến tận cuối đời. Cùng với tư tưởng, đạo đức,
phong cách, phương pháp cách mạng, triết lý hành động
của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thực hiện trên thực tế,
đem lại những thắng lợi vĩ đại cho cách mạng Việt
Nam. Những thắng lợi đó đưa nhân dân một nước
nghèo nàn, lạc hậu, bị thực dân, đế quốc đô hộ trở
thành người làm chủ, được tự do, hạnh phúc, đất nước
độc lập, hòa bình.
8

Triết lý hành động Hồ Chí Minh được hình thành
do nhu cầu lựa chọn con đường để giải phóng dân tộc.
Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh
tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Triết lý hành
động Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: độc lập dân tộc là
thiêng liêng, bất khả xâm phạm và tự do, hạnh phúc
cho nhân dân là mục tiêu của mọi hành động. Triết lý
về mục tiêu hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn
nguyên giá trị, góp phần định hướng hành động cho
Đảng, Nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới và phát
triển đất nước hiện nay.
Nghiên cứu triết lý hành động của Chủ tịch Hồ Chí
Minh để tìm ra câu trả lời cho những vấn đề đang đặt
ra, tìm ra sợi dây liên kết cho những triết lý của Người
là một việc làm có ý nghĩa, đặc biệt trong việc xác định
một triết lý hành động chung cho đất nước trước những
biến chuyển nhanh chóng của tình hình thế giới. Xác
định một triết lý hành động trong xây dựng đội ngũ cán
bộ, đảng viên góp phần hình thành nên một đội ngũ cán
bộ, đảng viên có đức, có tài, có tâm.
Qua lăng kính chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ
Chí Minh không chỉ chọn lọc được các giá trị triết lý của
dân tộc, của phương Đông, phương Tây mà còn nhận
thấy và phát triển các động lực cho hành động cách
mạng. Triết lý về sức mạnh của quần chúng, vai trò của
quần chúng nhân dân được quán triệt trong hành động.
9

Dân là điểm mấu chốt, cốt lõi của mọi hành động, điều
đó tạo nên sự nhất quán giữa lời nói và việc làm, giữa
tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh: tất
cả đều hướng đến dân, vì quyền lợi của dân, tự do, hạnh
phúc của nhân dân. Tinh thần yêu nước của nhân dân
được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định như các thứ của
quý. Bằng hành động cụ thể, thiết thực, Người đã khơi
dậy và phát huy các thứ của quý đó để phục vụ cho sự
nghiệp cách mạng. Lòng yêu nước được phát huy bằng
thi đua, cùng tinh thần đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
dân tộc và quốc tế, tạo ra động lực hành động mạnh mẽ
quyết định cho những thắng lợi của cách mạng Việt
Nam. Triết lý về động lực hành động thể hiện trong
triết lý hành động Hồ Chí Minh có cơ sở lý luận khoa
học, được những thắng lợi về nhiều mặt trong thực tiễn
khẳng định.
Triết lý về phương pháp hành động của Chủ tịch
Hồ Chí Minh được thể hiện trong sự nghiệp cách mạng
phong phú và cao cả của Người. Triết lý “Dĩ bất biến
ứng vạn biến” là phương pháp chỉ đạo hành động của
Hồ Chí Minh. Quán triệt triết lý này trong hành động
bảo đảm kiên định mục tiêu độc lập của dân tộc, tự do,
hạnh phúc của nhân dân, đồng thời thể hiện tính linh
hoạt, sáng tạo trong phương pháp hành động cụ thể
nhằm đạt được các mục tiêu mà cách mạng đặt ra.
Trước thực trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, nói
không đi đôi với làm, nói một đằng, làm một nẻo,... của
10

một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay, các triết lý về
phương pháp hành động miệng nói tay làm, đảng viên
đi trước, làng nước theo sau, đảng viên là đầu tàu
gương mẫu trong triết lý hành động Hồ Chí Minh càng
khẳng định giá trị sâu sắc, cần được vận dụng, thực
hành phát triển, trở thành các tiêu chí quan trọng
trong đánh giá phẩm chất đạo đức, tư tưởng của cán
bộ, đảng viên.
Với những kết quả đạt được trong thực tiễn cách
mạng Việt Nam, triết lý hành động Hồ Chí Minh đã
góp phần bổ sung triết lý hành động có trong chủ
nghĩa Mác - Lênin, phát triển triết lý hành động của
dân tộc lên tầm cao mới. Triết lý hành động Hồ Chí
Minh đã và đang định hướng cho hành động của Đảng
trong quá trình xây dựng chủ trương, hoạch định
chính sách; góp phần định hướng chuẩn mực hành
động cho cán bộ, đảng viên; đồng thời cổ vũ mạnh mẽ
phong trào cách mạng thế giới. Thực hiện triết lý hành
động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy tấm
gương của người chiến sĩ cộng sản trong sáng, thủy
chung, đồng thời khẳng định triết lý hành động nhân
văn của dân tộc Việt Nam.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn, tác giả mong
muốn góp phần nghiên cứu, làm sáng rõ những nội
dung trong triết lý hành động Hồ Chí Minh cũng như
sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. Đây
là một đề tài hấp dẫn, nhưng cũng rất khó trong việc
11

tìm ra những điểm mới, sáng tạo; trong cách tiếp cận
vấn đề, cách nhìn nhận và đánh giá vấn đề, do vậy cuốn
sách khó tránh khỏi hạn chế, thiếu sót. Tác giả mong
muốn nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các nhà
nghiên cứu và đông đảo bạn đọc để cuốn sách được hoàn
thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 12 năm 2019
TÁC GIẢ

12

Chương 1
KHÁI NIỆM, CƠ SỞ HÌNH THÀNH,
BẢN CHẤT TRIẾT LÝ HÀNH ĐỘNG
HỒ CHÍ MINH
I- MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1. Khái niệm “triết học” , “triết lý”
“Triết học” là thuật ngữ có gốc xuất phát từ tiếng
Hy Lạp, chữ “Philosophia” có nghĩa là “yêu mến sự
thông thái, anh minh”. Theo truyền thuyết, Pythagoras
là người đầu tiên sử dụng khái niệm “triết học”, nhưng
ở thời kỳ này các nhà triết học không gọi học thuyết của
mình là triết học mà gọi là sử học. Đến thế kỷ IV trước
Công nguyên, các học trò của Socrates mới sử dụng
danh từ “triết học”. Trong quá trình phát triển của
khoa học triết học, ở phương Tây và phương Đông, triết
học được dùng với nghĩa phổ biến là môn khoa học
nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã
hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung,
của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.
Triết học trang bị thế giới quan và phương pháp luận
cho các khoa học khác.
13

Về hình thức, “triết học” là một dạng đặc biệt của ý
thức và nhận thức, được thể hiện bằng một hệ thống các
nguyên lý, quan điểm có tính trừu tượng, tính khái
quát cao với lôgích nội tại tương đối chặt chẽ. Nó là hệ
thống tri thức về cơ sở và nguyên tắc cơ bản của mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và đời sống
tinh thần, là sự biểu thị một kiểu nhận thức duy lý đặc
biệt về hệ thống những vấn đề cơ bản của tồn tại người.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Triết học một
trong những hình thái ý thức xã hội, hệ thống các quan
điểm chung nhất của con người về thế giới và sự nhận
thức thế giới ấy”1.
“Triết lý” sinh ra trong tư tưởng, trong sự suy ngẫm,
đúc kết, tổng kết những điều cơ bản nhất về các mối
quan hệ trong đời sống của cộng đồng xã hội. Do đó,
nghiên cứu về triết học hay triết lý xét đến cùng là
nghiên cứu về tư tưởng. Điểm khác biệt có chăng là ở
phương cách tiếp cận, nhu cầu tìm hiểu vấn đề, cách
thức biểu hiện của vấn đề và của chủ thể sản sinh ra nó.
Triết lý là một khái niệm được bàn luận nhiều trong
các công trình nghiên cứu liên quan đến nhân sinh và
xã hội. Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình
chuyên biệt nào nghiên cứu về khái niệm triết lý, từ góc
_______________
1. Xem Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa
Việt Nam: Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb. Từ điển bách khoa,
Hà Nội, 2005, t.4.

14

độ là đối tượng nghiên cứu riêng biệt. Khái niệm triết lý
chỉ được luận bàn trong mối quan hệ với triết học, minh
triết, hoặc có thể được nhắc đến trong các nghiên cứu
liên quan đến một số triết lý cụ thể như: triết lý phát
triển, triết lý giáo dục, triết lý nhân sinh,...
Nghiên cứu khái niệm triết lý, có thể kể đến tiểu
luận bàn về Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông
Tây của tác giả Kim Định, trong tiểu luận này, tác giả
đã so sánh ba khái niệm triết lý, minh triết và triết học.
Từ nghiên cứu, so sánh, ông đưa ra những kiến giải cho
rằng, triết lý và minh triết giống nhau ở đối tượng phản
ánh, cả hai lấy cứu cánh con người làm trọng tâm suy
nghĩ, lấy sự thực hiện đến rốt ráo cái tính bản nhiên
của con người làm mục tiêu. Triết lý và minh triết khác
nhau ở phương pháp, minh triết nhìn thẳng trực
nghiệm không đưa ra lý sự biện chứng, bàn giải như
triết lý. Và kết luận, xét về nội tại triết lý thấp hơn
minh triết, nhưng lại có giá trị hơn minh triết ở chỗ nó
gần với quảng đại quần chúng nhân dân, phần nào giúp
quần chúng nhân dân hiểu được minh triết.
So sánh triết lý và triết học, tác giả Kim Định đi
đến kết luận, triết học khác triết lý ở ba điểm: Thứ
nhất, triết học không lấy con người mà lấy thiên nhiên,
sự vật làm trung tâm suy tư. Thứ hai, triết học theo lối
khoa học phê phán và phân tích, cố gắng tìm ra những
ý niệm độc đáo và tích lũy sự kiện để kết thành những
15

hệ thống mạch lạc chặt chẽ. Về mục tiêu, triết học lấy
tri thức làm cùng đích, vì thế nó không nhằm thực hiện
vào bản thân như triết lý mà nhằm tìm biết sự khách
quan. Thứ ba, phương Đông thiên về minh triết và triết
lý còn phương Tây thiên về triết học1.
Trong Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “triết lý” được
hiểu theo ba nghĩa: là “lý luận triết học”, “quan niệm
chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã
hội”, “thuyết lý về những vấn đề nhân sinh và xã hội”.
Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam định nghĩa “triết
lý” theo kiểu chiết tự: “triết” là sự sáng suốt, “lý” là lẽ,
lý lẽ, ví dụ, lý luận về triết học. Như vậy, có thể hiểu
“triết lý” là lý lẽ sáng suốt phù hợp với quy luật của tự
nhiên, xã hội.
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, “triết lý” cũng được
coi là “lý luận triết học” và còn được hiểu là “quan niệm
chung và sâu sắc nhất của con người về những vấn đề
nhân sinh và xã hội”2,... Các cách định nghĩa này đúng
về một khía cạnh nào đó của triết lý nhưng vẫn không
làm thỏa mãn những đòi hỏi cần lý giải của các nhà
nghiên cứu. Vì vậy, khi nghiên cứu về triết lý còn có
_______________
1. Xem Kim Định: Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây, 1960
(http://www.vietnamvanhien.net/nhungdibietgiuahainentrietlydongtay.pdf).
2. Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội, 1999.

16

nhiều cách hiểu, cách lý giải không giống nhau ở các
nhà khoa học.
Trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến
triết lý, các nhà khoa học có những cách lý giải khá
phong phú xoay quanh khái niệm “triết lý”. Giáo sư
Trần Văn Giàu cho rằng, triết học và triết lý không
giống nhau, “triết học chủ yếu là lý luận về nhận thức...
Còn triết lý chủ yếu hướng về đạo lý; hướng về đạo lý,
chứ không chỉ là đạo lý”1. Triết lý chủ yếu đặt vấn đề
tốt hay xấu, nên hay không nên chứ không đặt vấn đề
đúng hay sai, phải hay không phải.
Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng, “Triết lý là triết học
khiêm tốn nói về mình. Triết lý không thể hiện tầm
khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà thể hiện ý
nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người”.
Như vậy, triết lý cũng giống như triết học, đều đề
cập những vấn đề thuộc phạm trù tư tưởng, nhưng triết
lý ở mức độ khiêm tốn hơn triết học về tầm khái quát.
Triết lý không thể hiện là một hệ thống như triết học
nhưng chứa đựng những giá trị quan trọng, cốt lõi của
tư tưởng, của đạo lý làm người, trực tiếp chỉ đạo cuộc
sống của con người.
_______________
1. Dẫn theo Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia Phạm Xuân Nam (Chủ biên): Triết lý phát triển ở Việt Nam: Mấy vấn
đề cốt yếu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.20-21.

17

Cũng bàn về vấn đề này, Giáo sư Hoàng Trinh cho
rằng, “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những ý
tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và
suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình
thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm
cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành
động sống hằng ngày,... Có những dân tộc đã có những
triết lý từ lâu mặc dầu chưa có triết học với hệ thống
các khái niệm của nó”1.
Trong bài viết Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý ,
Giáo sư Hồ Sỹ Quý cho rằng triết lý và triết học là hai
khái niệm khác nhau, “nếu có thể đem so sánh với triết
học thì triết lý luôn luôn ở trình độ thấp hơn về tính hệ
thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc
giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy”2.
Quan điểm trên thống nhất với quan điểm của các nhà
nghiên cứu khác khi so sánh về tính hệ thống, đặc điểm
hình thức của triết học và triết lý. Tuy nhiên, khi chỉ ra
trong “đa số các trường hợp, triết lý thường thiếu chặt
chẽ hơn, phiến diện hơn và có nhiều khả năng chứa
đựng mâu thuẫn hơn so với triết học”3, thì đã cho thấy
_______________
1. Hoàng Trinh: Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.8.
2, 3. Hồ Sỹ Quý: “Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý”, Tạp chí
Triết học, số 3/1998, tr.57.

18

một cách đánh giá vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác
biệt với quan điểm của Giáo sư Vũ Khiêu hay Giáo sư
Hoàng Trinh.
Về mặt hình thức thể hiện của triết lý, Giáo sư Hồ
Sỹ Quý cho rằng “triết lý có thể và nên được hiểu là
những tư tưởng, quan điểm hay quan niệm,... mang
tính khái quát cao; được phản ánh một cách cô đúc dưới
dạng các mệnh đề hoặc các cách phán đoán thường là
trau chuốt về mặt ngữ pháp”1. Triết lý có giá trị định
hướng cho hoạt động của con người trong đời sống xã
hội về mặt thế giới quan, phương pháp luận hoặc nhân
sinh quan. Quan điểm này hoàn toàn đồng nhất với
quan điểm của các nhà khoa học khi nghiên cứu về hình
thức của triết lý.
Trong cuốn sách Triết lý phát triển ở Việt Nam:
Mấy vấn đề cốt yếu, trên cơ sở kế thừa quan điểm của
các nhà khoa học, các tác giả chỉ ra triết lý “là kết quả
của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành
những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và
cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về những hoạt động
thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội”2. Đưa
_______________
1. Hồ Sỹ Quý: “Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý”, Tlđd,
tr.57.
2. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Phạm
Xuân Nam (Chủ biên): Triết lý phát triển ở Việt Nam: Mấy vấn đề
cốt yếu, Sđd, tr.31.

19

đến một cách hiểu về triết lý như vậy, các tác giả cũng
cho thấy sự phù hợp trong quá trình phát triển của triết
học và triết lý. Rõ ràng, dù triết học phát triển, được
phổ biến sâu rộng nhưng không làm hạn chế hay đánh
mất cơ hội ra đời của triết lý, các triết lý vẫn tiếp tục
được đúc kết, ra đời và phát huy giá trị của nó trong đời
sống xã hội.
Trong cuốn sách Triết lý phát triển Hồ Chí Minh giá trị lý luận và thực tiễn do Phạm Ngọc Anh chủ biên,
các tác giả vừa hệ thống và bổ sung các đánh giá, vừa
đưa ra nhận định về triết lý: “Triết lý là kết quả của sự
kết tinh trên cơ sở những nguyên lý triết học, hay cơ sở
thực tiễn của con người, được thể hiện dưới dạng những
luận điểm, những mệnh đề, những tư tưởng được coi là
cốt lõi nhất về cuộc sống, về con người và về xã hội, được
nhiều người thừa nhận, coi đó là nguyên tắc xử thế,
phương châm sống và hành động”1.
Từ những quan điểm về triết lý, cùng với những
luận giải của các nhà khoa học trong các công trình
nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu: Triết lý là những
quan điểm, tư tưởng được cô đúc từ sự trải nghiệm,
chiêm nghiệm của con người, thể hiện dưới dạng luận
điểm, mệnh đề mang tính định hướng nhằm xử lý mối
_______________
1. Phạm Ngọc Anh (Chủ biên): Triết lý phát triển Hồ Chí Minh,
giá trị lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009,
tr.27-28.

20

quan hệ giữa con người với con người, con người với tự
nhiên, con người với xã hội, trở thành phương châm
sống và hành động trong thực tiễn của con người.
Cách hiểu triết lý như vậy thể hiện mối quan hệ
giữa triết lý với triết học được xem xét là những bộ
phận, những cách thể hiện khác nhau của tư tưởng.
Triết học ở mức độ nào đó thể hiện nội dung tư tưởng
về thế giới quan theo cách có hệ thống, lớp lang,
lôgích nội tại chặt chẽ. Ngược lại triết lý thể hiện nội
dung tư tưởng về nhân sinh quan ở mức độ cô đúc,
khái quát sâu sắc. Cách hiểu này lý giải cho việc
nghiên cứu triết lý luôn đặt trong mối quan hệ với
triết học. Mối quan hệ giữa triết lý và triết học cần
phải được xem như hai mặt của một vấn đề, hai hình
thức thể hiện của tư tưởng.
2. Khái niệm “triết lý hành động Hồ Chí Minh”
Chủ tịch Hồ Chí Minh là điển hình của sự thâu
thái, nắm bắt tư tưởng các trường phái triết học trên
thế giới và hình thành cho mình tư tưởng cứu nước,
giải phóng và phát triển dân tộc một cách hết sức
biện chứng, hợp quy luật thời đại. Chủ tịch Hồ Chí
Minh thực hành triết học trong chính quá trình lãnh
đạo Nhân dân đấu tranh giải phóng và phát triển
đất nước, và cũng chính trên cơ sở ấy mà Người có
21

nhiều triết lý sâu sắc định hướng, chỉ đạo phong trào
cách mạng.
Triết lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện không
chỉ có nền tảng triết lý Việt Nam, phương Đông, phương
Tây mà còn có cả những tinh túy của triết học thế giới,
đặc biệt là triết học Mác - Lênin. Triết lý của Chủ tịch
Hồ Chí Minh thể hiện sự thâu thái tất cả những gì hữu
ích cho lý tưởng đấu tranh giành độc lập, tự do, những gì
phù hợp cho phát triển xã hội Việt Nam trên nền tảng cơ
bản và chủ đạo là phương pháp, tinh thần chủ nghĩa
Mác - Lênin. Nghiên cứu triết lý của Chủ tịch Hồ Chí
Minh hay nghiên cứu tư tưởng triết học của Chủ tịch Hồ
Chí Minh là những cách tiếp cận cụ thể để làm sáng tỏ
giá trị di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Khi nghiên cứu về tư tưởng, phương pháp, phong
cách cũng như sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
các nhà khoa học đều khẳng định tư duy Hồ Chí Minh
là tư duy cách mạng, đổi mới. Trong hoạt động tìm
đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam,
Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành nhà lý luận, mặc dù
Người chưa bao giờ cho mình là nhà lý luận. Bởi lý
luận cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện
trong hành động, bằng hành động để nói lên lý luận,
tuyên truyền lý luận sâu rộng vào quần chúng cách
mạng, xây dựng lực lượng cách mạng nhằm giải
phóng và phát triển đất nước. Lý luận cách mạng của
22

Chủ tịch Hồ Chí Minh không có mục đích tự thân, mà
lý luận cốt để vận dụng vào thực tế, làm thay đổi thực
tế, đạt được cái ham muốn vì dân, vì nước của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lý luận hành động, nhà
triết học ứng dụng, triết học hành động chính từ
những hoạt động của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiên cứu triết học, lý luận
cổ, kim, Đông, Tây nhằm mục đích vận dụng sáng tạo
sao cho phù hợp với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam,
giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho Nhân dân,
làm cho đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng
được học hành. Mọi hành động của Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn ăn nhập với triết học. Cả cuộc đời hoạt động
cách mạng hết sức phong phú là quá trình Người thực
hành các nguyên lý, quy luật nhằm cải tạo và phát
triển xã hội theo tinh thần triết học Mác - Lênin. Hành
động của Người mang đặc điểm triết lý truyền thống
dân tộc nhưng được bổ sung, phát triển bằng triết lý
hành động của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Nếu đưa một lý
luận rất đúng ra nói, rồi xếp nó lại một xó, không đưa
ra thực hành, thì lý luận ấy thành lý luận suông”1.
Nghiên cứu lý luận không chỉ dừng lại ở nhận thức,
chiêm ngưỡng mà điều cốt yếu là phải chuyển thành
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội, 2011, t.7, tr.127.

23

hành động. Lấy cái đích là hành động, thúc đẩy hành
động, mọi kiến thức, kinh nghiệm mà Chủ tịch Hồ Chí
Minh thâu thái được, đúc rút ra đều được thực tiễn
kiểm nghiệm, đánh giá. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: “Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành
động”1. Thông qua hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh
gắn lý luận với thực tiễn, thực tiễn hóa lý luận và lý
luận hóa thực tiễn. Lấy kết quả của hành động trong
thực tiễn là cái cuối cùng, duy nhất kiểm tra tính đúng
đắn của tư tưởng, của lý luận. Thủ tướng Phạm Văn
Đồng nhận định: “Hồ Chủ tịch bao giờ cũng khái quát
lý luận từ trong thực tiễn. Do đó, Người không chỉ vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn phát triển
và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin một cách
thiết thực”2.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc quan
điểm lịch sử cụ thể và chú trọng hành động thực tiễn.
Người luôn chủ trương hành động và bằng hành động
cụ thể để cải tạo thực tiễn, nói luôn đi đôi với làm. Bản
thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng có
sức thuyết phục, là người truyền lửa hành động, người
đi thức tỉnh quần chúng công nông, thức tỉnh người nô
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.127.
2. Phạm Văn Đồng: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tinh hoa khí phách
của dân tộc, lương tâm của thời đại, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970,
tr.23.

24

lệ bị áp bức, bóc lột. Làm cho quần chúng noi theo và
hành động vì kết quả và tác dụng của những việc làm
thiết thực mà “tấm gương sống” - Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thể hiện.
Trong hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện
sự nhất quán giữa động cơ với hành động, từ việc lớn
đến việc nhỏ, từ việc gần đến việc xa tất cả đều rõ
ràng, cụ thể, thấu đáo với kế hoạch, chương trình, biện
pháp, cách làm, bước đi hợp lý. Hành động của Chủ
tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhằm giải quyết những
vấn đề đặt ra trước mắt, những đòi hỏi bức thiết của
cách mạng, mà còn trù tính cho tương lai phát triển
của dân tộc. Thông qua hành động thực tiễn, Chủ tịch
Hồ Chí Minh hoàn thiện lý luận, phát triển lý luận,
đặt nền móng lý luận cho quá trình phát triển lâu dài
của dân tộc.
Triết lý hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên
mọi lĩnh vực luôn đặt vị trí của dân lên trên hết, xem
lực lượng của dân là quan trọng nhất, quyết định sự tồn
vong của đất nước. Dân là chủ của nước và là chủ xã
hội, là chủ vận mệnh của chính mình. Từ đó, Đảng và
Nhà nước trong mọi hành động phải được lòng dân,
luôn yêu dân, tin dân, kính dân, đặt quyền lợi của dân
lên trên hết, phải có tinh thần chí công vô tư, phải làm
lợi cho dân, tránh việc có hại đối với dân.
Triết lý hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh được
biểu hiện qua nhiều hình thức khác nhau, chủ yếu nhất
25

là qua những hoạt động thực tiễn, cùng các bài viết, bài
nói, tác phẩm thơ ca, ký họa, qua tác phong, phong
cách, lối sống, thái độ, cử chỉ, cách đối nhân xử thế của
Người. Với những hình thức cụ thể của hành động đều
toát lên triết lý uyên sâu, tinh tế rất riêng của một tâm
hồn có cốt cách truyền thống mà hiện đại, yêu nước mà
rất cộng sản, bình dị mà vô cùng vĩ đại - Hồ Chí Minh.
Triết lý hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát
triển trên nền tảng triết lý của dân tộc, được bổ sung,
hoàn thiện bằng triết lý hành động có trong chủ nghĩa
Mác - Lênin. Triết lý hành động Hồ Chí Minh mang đặc
điểm riêng có của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc thù
nhưng không cá biệt.
Tóm lại, triết lý hành động Hồ Chí Minh là sự cô
đúc, khái quát sâu sắc về mục tiêu, động lực, nguyên
tắc, phương pháp hành động trong cuộc đấu tranh vì sự
nghiệp giải phóng và phát triển đất nước thể hiện dưới
dạng mệnh đề có trong các bài viết, bài nói và thông
qua hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với cách hiểu khái niệm như trên, triết lý hành
động Hồ Chí Minh được tiếp cận ở phạm vi rộng nhất,
mang tính chỉnh thể, một đối tượng nghiên cứu độc lập
và chỉ ra những nội dung cơ bản của triết lý hành động
Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, triết lý hành động Hồ Chí Minh là những
mệnh đề được cô đúc, khái quát sâu sắc từ những hành
động, việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện mục
26

tiêu, động lực, nguyên tắc, phương pháp hành động
cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ hai, triết lý hành động Hồ Chí Minh vì sự
nghiệp giải phóng và phát triển của đất nước, sự nghiệp
vĩ đại đó là duy nhất, sự thể hiện các mệnh đề, các khái
quát của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuyên suốt, thống nhất
trong cả sự nghiệp, do đó có thể sắp xếp các mệnh đề
triết lý thành hệ thống với những nội dung tương đối
chỉnh thể để hiểu rõ hơn giá trị triết lý hành động Hồ
Chí Minh.
Thứ ba, triết lý hành động Hồ Chí Minh thể hiện
trong sự nghiệp cách mạng, trong thực tế dẫn dắt, rèn
luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, vì thế để hiểu rõ triết
lý cần khai thác toàn bộ di sản thành văn cũng như
không thành văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt
cuộc đời hoạt động cách mạng.
Thứ tư, nội dung triết lý thể hiện mục tiêu, động
lực, nguyên tắc, phương pháp hành động Hồ Chí Minh
vì thế không nằm ngoài việc thể hiện tư tưởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, làm rõ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, ở mức độ là triết lý phản ánh cô đúc và khái quát
sâu sắc giá trị tư tưởng trên những nội dung này. Từ
những triết lý nhất định, có thể mở rộng nội dung để
hiểu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng không
phải tư tưởng nào của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được
thể hiện thành triết lý. Triết lý hành động Hồ Chí Minh
27

thống nhất với tư tưởng, thuộc loại triết lý giải phóng
và phát triển đất nước.
II- CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ HÀNH ĐỘNG
HỒ CHÍ MINH
1. Cơ sở khách quan
a) Triết lý hành động trong tư tưởng, truyền thống
văn hóa Việt Nam
Điều kiện ra đời, xuất hiện nền văn hóa, văn minh ở
mỗi khu vực trên thế giới quyết định đến phong cách
sống, lối tư duy, phương thức tổ chức xã hội của chính
những con người sinh ra trên mảnh đất đó. Mỗi nền văn
hóa, văn minh khác nhau yêu cầu con người phải có
phương pháp hành động riêng, phù hợp với điều kiện tự
nhiên, phù hợp với lối sống và cách tư duy của cộng
đồng xã hội nơi ...
 
Gửi ý kiến