Tràng Giang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:05' 20-05-2008
Dung lượng: 56.0 KB
Số lượt tải: 381
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:05' 20-05-2008
Dung lượng: 56.0 KB
Số lượt tải: 381
Số lượt thích:
0 người
Tràng giang
(Huy Cận)
I - Tác giả
Thân thế: Cù Huy Cận sinh năm 1919 ở một làng chân núi thuộc huyện Hương Sơn (cũ) Hà Tĩnh. Trải qua thời thơ ấu với nhiều ấn tượng kỳ ảo của núi cao sông rộng nơi quê nhà. (Theo lời kể của Vũ Quần Phương: Có lần lên núi chơi, Huy Cận căng dây qua hố rồi ngồi bật dây – một âm thanh trầm đục cộng hưởng từ đáy hố vọng lên trời rộng. Chú bé Huy Cận kinh ngạc vì hình như cả khoảng cao rộng và thẳm sâu đều nhập vào tiếng dây rung thô sơ đó. Nhiều người gọi đây là cái linh giác tuổi thơ của Huy Cận).
Ai quen biết Huy Cận cũng đều ngạc nhiên vì Huy Cận là người xuề xoà, giản dị như một “ông phó mộc”, nhưng thơ ông lại tinh tế vào bậc nhất trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông cảm nhận được mùi hương của đất, lời ru của gió và nhịp thở của biển để rồi nói lên linh hồn của cảnh sắc thiên nhiên với đôi mắt trong trẻo và tâm hồn dễ rung động. Tâm hồn ông luôn mở rộng để đón nhận những âm vang của cuộc sống rồi kết thành những vần thơ lắng đọng suy tư:
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
(Buồn đêm mưa)
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài them đêm sập cửa
…Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn giặm phơi
(Đoàn thuyền đánh cá)
Vị trí: Trong phong trào thơ Mới Huy Cận thuộc thế hệ thứ 2 cùng lứa với Xuân Diệu. Đây là thế hệ đã đẩy thơ Mới lên đến đỉnh cao của vinh quang. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Huy Cận là nhà thơ lớn. Ông am hiểu nhiều nền văn minh, tiếp thu nhiều nguồn ảnh hưởng, nhưng hồn thơ của ông, nghệ thuật thơ của ông lại đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Huy Cận đã tạo được một gia tài khá đồ sộ, xứng đáng là một trong những nhà thơ hàng đầu của Việt Nam thế kỷ XX.
Phong cách: Nói đến thơ Huy Cận là nói đến chữ “sầu”. Chính Huy Cận trong bài thơ “Mai sau” đã tự nói về mình: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”. Bởi vậy khi Huy Cận bước lên thi đàn với tập Lửa thiêng người ta có cảm giác như cái mạch sầu vẫn ngấm ngầm trong mảnh đất này mấy trăm năm trước đã dồn chứa, đã tích tụ để bột phát thành thơ Huy Cận khi Huy Cận biến thành một trái sầu hiện hình.
Có người nhận xét: “Đời xưa có một thi sĩ lành như suối nước ngọt, hiền như cái lá xanh; gần chàng người ta cảm nghe một nỗi hoà vui như đứng giữa thiên nhiên, tâm hồn thơ thới… Trong thơ Việt Nam, nghe bay dậy một tiéng địch buồn. Không phải sáo thiên thai, không phải điệu ái tình, không phải lời Ly tao kể chuyện một cái tôi, mà ấy là một bản ngậm ngùi dài.”
Vậy những nguyên nhân nào đã đem đến cho ông cái nét phong cách riêng ấy?
Trước hết phải thấy xu thế thoát ly là xu thế chung của hầu hết các văn nghệ sĩ lúc đó. Cuộc sống này thật đáng chán. Tuy nhiên mỗi văn nghệ sĩ lại giải quyết mối bất hoà ấy theo cách riêng của mình. Nguyễn Tuân quay về với quá khứ “Vang bóng một thời”, Thế Lữ thoát lên tiên, Lưu Trọng Lư trốn vào mộng, Xuân Diệu say đắm với ái tình…thì Huy Cận tìm đến cái mênh mông của vũ trụ, cái thăm thẳm của thế giới để “vui chung vũ trụ nguội sầu nhân gian”. Nhưng thật trớ trêu vì càng đắm mình trong cái mênh mang của vũ trụ, trong cái thăm thẳm của thế giới, Huy Cận lại càng cảm thấy mình nhỏ bé cô đơn hơn. Thế là để trốn nỗi sầu đời, ông lại bắt gặp nỗi sầu vũ trụ, nỗi sầu thiên cổ, còn mênh mang hơn nỗi sầu đời đến vạn lần.
Cho nên cảm hứng vũ trụ, cảm hứng thế giới đã trở thành nét phong cách rất độc đáo của Huy Cận. Các sáng tác chính của ông trước cách mạng là các tập: Vũ trụ ca, Kinh cầu tự, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là tập Lửa thiêng.
II - Tác Phẩm
1. Kiến thức cơ bản
a - Bức tranh thiên nhiên (cảnh).
- Cảnh sông mước quê hương quen thuộc nhưng mênh mông, vắng lặng.
- Cảnh mang phong vị cổ điển (những hình ảnh quen thuộc của thơ cổ : "Con thuyền xuôi mái nước song song", sông đất trời rộng bến cô liêu, cánh chim trong hoàng hôn ).
b - Bức tranh tâm trạng.
- Nỗi sầu vũ trụ (sầu thấm vào không gian ), sầu thiên cổ (sầu thấm vào thời gian), sầu nhân thế (sầu thấm vào lòng người).
- Nỗi buồn nhớ quê hương phản ảnh lòng yêu nước thầm kín thiết tha
c - Thấy được những nét nghệ thuật của Huy Cận trong bài Tràng Giang
Mới mẻ hiện đại trong cảm xúc - đặc trưng của thơ Mới
Đậm màu sắc cổ điển qua từ ngữ, hình ảnh, ý thơ.
- Lưu ý: Phân tích bài thơ nhưng đồng thời phải bình từng khổ thơ như đề thi riêng.
+ Có hai cách phân tích bài thơ:
- Bổ dọc ( như kiến thức cơ bản)
- Bổ ngang theo kết cấu từng khổ thơ
2. Phân tích tác phẩm:
a. Mở bài: Giới thiệu khái quát tác giả sau đó đi vào tác phẩm.
Huy Cận là một trong những nhà thơ tiên tiến của văn học hiện đại. Riêng đối với phong trào thơ Mới, Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng với những vần thơ “ảo não vào bậc nhất”. Ông đã cùng với Xuân Diệu làm thành xóm thơ "Huy Xuân" mà sau này nhiều người nhận thấy nếu Xuân Diện là nhà thơ của cảm thức về thời gian thì Huy Cận là nhà thơ của cảm thức không gian. Chính vì vậy mà thi sỹ thường viết về vũ trụ bao la về sông dài biển rộng. Bài thơ Tràng Giang cũng vẫn nằm trong mạch cảm xúc ấy. Được trích từ tập " Lửa Thiêng" năm 1940, chỉ với 4 khổ thơ, Tràng Giang đã đem đến cho người đọc 1 bức tranh thiên nhiên và 1 bức tranh tâm trạng. Bức tranh thiên nhiên với cảnh sông nước quê hương quen thuộc nhưng mênh mông vắng lặng. Còn bức tranh tâm trạng vừa nói lên nỗi sầu thiên cổ, sầu vũ trụ, sầu nhân thế, vừa nói lên nỗi buồn nhớ quê nhà.Tràng Giang cũng là bài thơ kết tinh phong cách nghệ thuật của Huy Cận. Nó là bài thơ mang ý vị cổ điển ở đề tài, hình ảnh, nhưng lại mới mẻ hiện đại trong cảm xúc.
b. Thân bài:
* Hoàn cảnh ra đời của bài thơ: Đúng như Huy Cận nói, bài thơ được sông Hồng quãng Chèm, Vẽ và những con sông khác gợi tứ. Đứng trước cái mênh mông bát ngát của dòng sông Hồng vào buổi chiều. Ông đã lấy một câu thơ của chính ông để làm đề tài cho bài thơ này "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" (trích trong bài Nhớ bờ). Như vậy có thể thấy rất rõ cảm hứng tổng quát của bài thơ này không phải chỉ là bài thơ tả phong cảnh hay thể hiện tình yêu quê hương đất nước mà là bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người, hay chính xác là cảm nhận về sự nhỏ nhoi cô đơn của kiếp người khi đứng trước cái mênh mang của đất trời, cái vô cùng của vũ trụ.
* - Về cái tên của bài thơ:
Từ Hán Việt Từ thuần Việt
trang trọng cổ kính - gần gũi, thân mật
khái quát, trừu tượng - cụ thể sinh động
Trước hết ta chú ý đầu đề bài thơ là “Tràng Giang” chứ không phải là “Trường giang” để không nhầm với con sông “Trường Giang” ở Trung Quốc. Về mặt nghĩa “tràng giang” nghĩa là sông dài. Trong tiếng Việt “tràng giang” thường nằm trong thành ngữ “tràng giang đại hải” chỉ một hiện tượng lan man, dài dòng mà trống rỗng khiến người ta chán chường. Nhưng nếu Huy Cận đặt tên bài thơ của ông là sông dài thì hình như con sông của ông chỉ dài trong không gian thôi. Trong khi đó từ Hán Việt Tràng Giang với sắc thái cổ kính của nó đã khiến cho sông của Huy Cận không chỉ dài trong không gian mà còn dài trong thời gian. Dường như sông ấy đã chảy từ nghìn xưa đến hôm nay để rồi sẽ còn chảy mãi mãi đến tương lai và nhờ cách đặt tên này mà con sông của huy Cận đã vượt khỏi tầm vóc của một sông hữu hạn để trở thành vô hạn, sông của muôn đời.
Nhưng nếu lập luận như thế thì Huy Cận vẫn có thể đặt tên bài tên của mình là Trường Giang nhưng về âm điệu mà nói thì chữ Tràng Giang với sự láy lại vần “ang” tạo được cảm giác về một không gian dàn trải theo bề rộng. Điều này thì chữ Trường Giang không thể có được.
Thực ra Tràng giang không nhất thiết phải là một con sông cụ thể nào – chỉ cần biết nó là một tạo vật của thiên nhiên. Nó có thể được gợi tứ từ sông Hồng, từ một chỗ đứng xác định là bến Chèm… Nhưng khi đã thành hình tượng Tràng giang thì nó đã khước từ mọi địa danh, địa chỉ cụ thể để trở thành một một tạo vật thiên nhiên phổ quát rồi.
c - Về bố cục bài thơ gồm 4 khổ.
Việc liên kết 4 khổ thơ này bề ngoài có vẻ như là theo trật tự thời gian: Khổ thơ mở đầu là cảnh chiều muộn trên sông để rồi thời gian cứ trôi đi ở những khổ thơ tiếp theo, đến khổ kết cái thời khắc cuối cùng của chiều tà. Sức nặng theo thời gian đã khiến cho cánh chim nhỏ chao nghiêng.
Nhưng chúng ta đều biết thơ vốn là tiếng nói của cảm xúc vì thế bố cục của thơ thường không lộ ra bên ngoài mà nó là cái mạch cảm xúc chảy ngầm bên trong bài thơ. Bài Tràng Giang của Huy Cận được bắt đầu bằng nỗi buồn trước cảnh sông nước mênh mông để rồi khép lại là nỗi nhớ làng quê.
d - Phân tích
- Khổ 1:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Câu thơ trước hết khiến chúng ta liên tưởng đến câu ca dao: “Sông bao nhiêu gợn dạ sầu bấy nhiêu”, hoặc câu thơ của Đỗ Phủ trong bài "Đăng Cao": “Vô biên mộc lạc tiêu tiêu hạ - Bất tận trường
(Huy Cận)
I - Tác giả
Thân thế: Cù Huy Cận sinh năm 1919 ở một làng chân núi thuộc huyện Hương Sơn (cũ) Hà Tĩnh. Trải qua thời thơ ấu với nhiều ấn tượng kỳ ảo của núi cao sông rộng nơi quê nhà. (Theo lời kể của Vũ Quần Phương: Có lần lên núi chơi, Huy Cận căng dây qua hố rồi ngồi bật dây – một âm thanh trầm đục cộng hưởng từ đáy hố vọng lên trời rộng. Chú bé Huy Cận kinh ngạc vì hình như cả khoảng cao rộng và thẳm sâu đều nhập vào tiếng dây rung thô sơ đó. Nhiều người gọi đây là cái linh giác tuổi thơ của Huy Cận).
Ai quen biết Huy Cận cũng đều ngạc nhiên vì Huy Cận là người xuề xoà, giản dị như một “ông phó mộc”, nhưng thơ ông lại tinh tế vào bậc nhất trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông cảm nhận được mùi hương của đất, lời ru của gió và nhịp thở của biển để rồi nói lên linh hồn của cảnh sắc thiên nhiên với đôi mắt trong trẻo và tâm hồn dễ rung động. Tâm hồn ông luôn mở rộng để đón nhận những âm vang của cuộc sống rồi kết thành những vần thơ lắng đọng suy tư:
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
(Buồn đêm mưa)
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài them đêm sập cửa
…Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn giặm phơi
(Đoàn thuyền đánh cá)
Vị trí: Trong phong trào thơ Mới Huy Cận thuộc thế hệ thứ 2 cùng lứa với Xuân Diệu. Đây là thế hệ đã đẩy thơ Mới lên đến đỉnh cao của vinh quang. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Huy Cận là nhà thơ lớn. Ông am hiểu nhiều nền văn minh, tiếp thu nhiều nguồn ảnh hưởng, nhưng hồn thơ của ông, nghệ thuật thơ của ông lại đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Huy Cận đã tạo được một gia tài khá đồ sộ, xứng đáng là một trong những nhà thơ hàng đầu của Việt Nam thế kỷ XX.
Phong cách: Nói đến thơ Huy Cận là nói đến chữ “sầu”. Chính Huy Cận trong bài thơ “Mai sau” đã tự nói về mình: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”. Bởi vậy khi Huy Cận bước lên thi đàn với tập Lửa thiêng người ta có cảm giác như cái mạch sầu vẫn ngấm ngầm trong mảnh đất này mấy trăm năm trước đã dồn chứa, đã tích tụ để bột phát thành thơ Huy Cận khi Huy Cận biến thành một trái sầu hiện hình.
Có người nhận xét: “Đời xưa có một thi sĩ lành như suối nước ngọt, hiền như cái lá xanh; gần chàng người ta cảm nghe một nỗi hoà vui như đứng giữa thiên nhiên, tâm hồn thơ thới… Trong thơ Việt Nam, nghe bay dậy một tiéng địch buồn. Không phải sáo thiên thai, không phải điệu ái tình, không phải lời Ly tao kể chuyện một cái tôi, mà ấy là một bản ngậm ngùi dài.”
Vậy những nguyên nhân nào đã đem đến cho ông cái nét phong cách riêng ấy?
Trước hết phải thấy xu thế thoát ly là xu thế chung của hầu hết các văn nghệ sĩ lúc đó. Cuộc sống này thật đáng chán. Tuy nhiên mỗi văn nghệ sĩ lại giải quyết mối bất hoà ấy theo cách riêng của mình. Nguyễn Tuân quay về với quá khứ “Vang bóng một thời”, Thế Lữ thoát lên tiên, Lưu Trọng Lư trốn vào mộng, Xuân Diệu say đắm với ái tình…thì Huy Cận tìm đến cái mênh mông của vũ trụ, cái thăm thẳm của thế giới để “vui chung vũ trụ nguội sầu nhân gian”. Nhưng thật trớ trêu vì càng đắm mình trong cái mênh mang của vũ trụ, trong cái thăm thẳm của thế giới, Huy Cận lại càng cảm thấy mình nhỏ bé cô đơn hơn. Thế là để trốn nỗi sầu đời, ông lại bắt gặp nỗi sầu vũ trụ, nỗi sầu thiên cổ, còn mênh mang hơn nỗi sầu đời đến vạn lần.
Cho nên cảm hứng vũ trụ, cảm hứng thế giới đã trở thành nét phong cách rất độc đáo của Huy Cận. Các sáng tác chính của ông trước cách mạng là các tập: Vũ trụ ca, Kinh cầu tự, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là tập Lửa thiêng.
II - Tác Phẩm
1. Kiến thức cơ bản
a - Bức tranh thiên nhiên (cảnh).
- Cảnh sông mước quê hương quen thuộc nhưng mênh mông, vắng lặng.
- Cảnh mang phong vị cổ điển (những hình ảnh quen thuộc của thơ cổ : "Con thuyền xuôi mái nước song song", sông đất trời rộng bến cô liêu, cánh chim trong hoàng hôn ).
b - Bức tranh tâm trạng.
- Nỗi sầu vũ trụ (sầu thấm vào không gian ), sầu thiên cổ (sầu thấm vào thời gian), sầu nhân thế (sầu thấm vào lòng người).
- Nỗi buồn nhớ quê hương phản ảnh lòng yêu nước thầm kín thiết tha
c - Thấy được những nét nghệ thuật của Huy Cận trong bài Tràng Giang
Mới mẻ hiện đại trong cảm xúc - đặc trưng của thơ Mới
Đậm màu sắc cổ điển qua từ ngữ, hình ảnh, ý thơ.
- Lưu ý: Phân tích bài thơ nhưng đồng thời phải bình từng khổ thơ như đề thi riêng.
+ Có hai cách phân tích bài thơ:
- Bổ dọc ( như kiến thức cơ bản)
- Bổ ngang theo kết cấu từng khổ thơ
2. Phân tích tác phẩm:
a. Mở bài: Giới thiệu khái quát tác giả sau đó đi vào tác phẩm.
Huy Cận là một trong những nhà thơ tiên tiến của văn học hiện đại. Riêng đối với phong trào thơ Mới, Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng với những vần thơ “ảo não vào bậc nhất”. Ông đã cùng với Xuân Diệu làm thành xóm thơ "Huy Xuân" mà sau này nhiều người nhận thấy nếu Xuân Diện là nhà thơ của cảm thức về thời gian thì Huy Cận là nhà thơ của cảm thức không gian. Chính vì vậy mà thi sỹ thường viết về vũ trụ bao la về sông dài biển rộng. Bài thơ Tràng Giang cũng vẫn nằm trong mạch cảm xúc ấy. Được trích từ tập " Lửa Thiêng" năm 1940, chỉ với 4 khổ thơ, Tràng Giang đã đem đến cho người đọc 1 bức tranh thiên nhiên và 1 bức tranh tâm trạng. Bức tranh thiên nhiên với cảnh sông nước quê hương quen thuộc nhưng mênh mông vắng lặng. Còn bức tranh tâm trạng vừa nói lên nỗi sầu thiên cổ, sầu vũ trụ, sầu nhân thế, vừa nói lên nỗi buồn nhớ quê nhà.Tràng Giang cũng là bài thơ kết tinh phong cách nghệ thuật của Huy Cận. Nó là bài thơ mang ý vị cổ điển ở đề tài, hình ảnh, nhưng lại mới mẻ hiện đại trong cảm xúc.
b. Thân bài:
* Hoàn cảnh ra đời của bài thơ: Đúng như Huy Cận nói, bài thơ được sông Hồng quãng Chèm, Vẽ và những con sông khác gợi tứ. Đứng trước cái mênh mông bát ngát của dòng sông Hồng vào buổi chiều. Ông đã lấy một câu thơ của chính ông để làm đề tài cho bài thơ này "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" (trích trong bài Nhớ bờ). Như vậy có thể thấy rất rõ cảm hứng tổng quát của bài thơ này không phải chỉ là bài thơ tả phong cảnh hay thể hiện tình yêu quê hương đất nước mà là bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người, hay chính xác là cảm nhận về sự nhỏ nhoi cô đơn của kiếp người khi đứng trước cái mênh mang của đất trời, cái vô cùng của vũ trụ.
* - Về cái tên của bài thơ:
Từ Hán Việt Từ thuần Việt
trang trọng cổ kính - gần gũi, thân mật
khái quát, trừu tượng - cụ thể sinh động
Trước hết ta chú ý đầu đề bài thơ là “Tràng Giang” chứ không phải là “Trường giang” để không nhầm với con sông “Trường Giang” ở Trung Quốc. Về mặt nghĩa “tràng giang” nghĩa là sông dài. Trong tiếng Việt “tràng giang” thường nằm trong thành ngữ “tràng giang đại hải” chỉ một hiện tượng lan man, dài dòng mà trống rỗng khiến người ta chán chường. Nhưng nếu Huy Cận đặt tên bài thơ của ông là sông dài thì hình như con sông của ông chỉ dài trong không gian thôi. Trong khi đó từ Hán Việt Tràng Giang với sắc thái cổ kính của nó đã khiến cho sông của Huy Cận không chỉ dài trong không gian mà còn dài trong thời gian. Dường như sông ấy đã chảy từ nghìn xưa đến hôm nay để rồi sẽ còn chảy mãi mãi đến tương lai và nhờ cách đặt tên này mà con sông của huy Cận đã vượt khỏi tầm vóc của một sông hữu hạn để trở thành vô hạn, sông của muôn đời.
Nhưng nếu lập luận như thế thì Huy Cận vẫn có thể đặt tên bài tên của mình là Trường Giang nhưng về âm điệu mà nói thì chữ Tràng Giang với sự láy lại vần “ang” tạo được cảm giác về một không gian dàn trải theo bề rộng. Điều này thì chữ Trường Giang không thể có được.
Thực ra Tràng giang không nhất thiết phải là một con sông cụ thể nào – chỉ cần biết nó là một tạo vật của thiên nhiên. Nó có thể được gợi tứ từ sông Hồng, từ một chỗ đứng xác định là bến Chèm… Nhưng khi đã thành hình tượng Tràng giang thì nó đã khước từ mọi địa danh, địa chỉ cụ thể để trở thành một một tạo vật thiên nhiên phổ quát rồi.
c - Về bố cục bài thơ gồm 4 khổ.
Việc liên kết 4 khổ thơ này bề ngoài có vẻ như là theo trật tự thời gian: Khổ thơ mở đầu là cảnh chiều muộn trên sông để rồi thời gian cứ trôi đi ở những khổ thơ tiếp theo, đến khổ kết cái thời khắc cuối cùng của chiều tà. Sức nặng theo thời gian đã khiến cho cánh chim nhỏ chao nghiêng.
Nhưng chúng ta đều biết thơ vốn là tiếng nói của cảm xúc vì thế bố cục của thơ thường không lộ ra bên ngoài mà nó là cái mạch cảm xúc chảy ngầm bên trong bài thơ. Bài Tràng Giang của Huy Cận được bắt đầu bằng nỗi buồn trước cảnh sông nước mênh mông để rồi khép lại là nỗi nhớ làng quê.
d - Phân tích
- Khổ 1:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Câu thơ trước hết khiến chúng ta liên tưởng đến câu ca dao: “Sông bao nhiêu gợn dạ sầu bấy nhiêu”, hoặc câu thơ của Đỗ Phủ trong bài "Đăng Cao": “Vô biên mộc lạc tiêu tiêu hạ - Bất tận trường
 









Các ý kiến mới nhất