Trận Điện Biên Phủ năm 1954

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Doãn Mạnh Hùng
Ngày gửi: 16h:28' 25-10-2008
Dung lượng: 413.0 KB
Số lượt tải: 82
Nguồn:
Người gửi: Doãn Mạnh Hùng
Ngày gửi: 16h:28' 25-10-2008
Dung lượng: 413.0 KB
Số lượt tải: 82
Số lượt thích:
0 người
Trận điện biên phủ năm 1954
Trận Điện Biên Phủ
Một phần của Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Thời gian
13 tháng 3 – 7 tháng 5 năm 1954
Địa điểm
Thung lũng Mường Thanh, Điện Biên Phủ
Kết quả
Chiến thắng quyết định của Việt Nam. Hiệp định Genève được ký kết.
Chỉ huy
Christian de Castries, Pierre Langlais
Võ Nguyên Giáp
Lực lượng
16 tiểu đoàn bộ binh, 7 đại đội bộ binh, pháo binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay. Quân số là 10.814 người. Sau đuợc tăng viện 4291 người. Chưa kể khoảng 3000 PIM (culi)
10 trung đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công binh và pháo binh . Lúc đầu có 48.000, sau tăng cường thêm khoảng 4 đến 10.000 người.
Thương vong
1.747 đến 2.293 người chết, 1.729 người mất tích, 5.240 bị thương, 11.721 tù binh[1] 8290 người đã chết trong lúc bị Việt Minh giam giữ.[2]
4.020 người chết, 9.118 bị thương, 792 người mất tích[3] Một số nguồn khác ước lượng, Việt Minh mất 8.000 binh sĩ và 15.000 bị thương[2][3]
Cách sắp xếp của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ vào tháng 3 năm 1954. Quân đội Pháp nằm trên vài đồi được củng cố (màu xanh).
Trận Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên (nay là thành phố Điện Biên Phủ), tỉnh Lai Châu (hiện nay đã tách thành tỉnh Điện Biên) giữa quân đội Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 của Việt Nam.
Trên phương diện quốc tế, trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương, các khu vực thuộc địa ở Châu Phi của Pháp và buộc nước này rút ra khỏi Đông Dương. Đến năm 1967, Pháp đã phải trao trả quyền độc lập cho tất cả các nước là thuộc địa của Pháp.
Các kế hoạch của hai bên dẫn đến trận Điện Biên Phủ
Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, Pháp lâm vào thế bị động trên chiến trường, quân đội của chính phủ Hồ Chí Minh đã giải phóng nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng,..và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ. Chính phủ Pháp muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến nhưng mặt khác họ muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương. Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh Kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước:
Bước thứ nhất: Thu đông 1953 và xuân 1954 giữ thế phòng ngự ở miền Bắc và thực hiện tấn công chiến lược tại miền Trung và miền Nam.
Bước thứ hai: Chuyển từ phòng ngự sang tấn công chiến lược ở phía Bắc để tiêu diệt chủ lực của Việt Minh.
Để thực hiện kế hoạch này Pháp cho tiến hành xây dựng và tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng quân đội bản địa, càn quét bình định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu V., Navarre được nhà nước Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ. Viện trợ Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh.. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền tây bắc Bắc Việt Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công và, theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó.
Về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam, kể từ sau năm 1950 nối thông biên giới với Trung Quốc, được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và Liên Xô, đã lớn mạnh rất nhiều, với các sư đoàn (đại đoàn) bộ binh và các trung đoàn pháo binh, công binh đã có kinh nghiệm đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn của quân Pháp trong phòng ngự kiên cố.
Bộ chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công
Trận Điện Biên Phủ
Một phần của Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Thời gian
13 tháng 3 – 7 tháng 5 năm 1954
Địa điểm
Thung lũng Mường Thanh, Điện Biên Phủ
Kết quả
Chiến thắng quyết định của Việt Nam. Hiệp định Genève được ký kết.
Chỉ huy
Christian de Castries, Pierre Langlais
Võ Nguyên Giáp
Lực lượng
16 tiểu đoàn bộ binh, 7 đại đội bộ binh, pháo binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay. Quân số là 10.814 người. Sau đuợc tăng viện 4291 người. Chưa kể khoảng 3000 PIM (culi)
10 trung đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công binh và pháo binh . Lúc đầu có 48.000, sau tăng cường thêm khoảng 4 đến 10.000 người.
Thương vong
1.747 đến 2.293 người chết, 1.729 người mất tích, 5.240 bị thương, 11.721 tù binh[1] 8290 người đã chết trong lúc bị Việt Minh giam giữ.[2]
4.020 người chết, 9.118 bị thương, 792 người mất tích[3] Một số nguồn khác ước lượng, Việt Minh mất 8.000 binh sĩ và 15.000 bị thương[2][3]
Cách sắp xếp của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ vào tháng 3 năm 1954. Quân đội Pháp nằm trên vài đồi được củng cố (màu xanh).
Trận Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên (nay là thành phố Điện Biên Phủ), tỉnh Lai Châu (hiện nay đã tách thành tỉnh Điện Biên) giữa quân đội Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 của Việt Nam.
Trên phương diện quốc tế, trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương, các khu vực thuộc địa ở Châu Phi của Pháp và buộc nước này rút ra khỏi Đông Dương. Đến năm 1967, Pháp đã phải trao trả quyền độc lập cho tất cả các nước là thuộc địa của Pháp.
Các kế hoạch của hai bên dẫn đến trận Điện Biên Phủ
Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, Pháp lâm vào thế bị động trên chiến trường, quân đội của chính phủ Hồ Chí Minh đã giải phóng nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng,..và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ. Chính phủ Pháp muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến nhưng mặt khác họ muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương. Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh Kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước:
Bước thứ nhất: Thu đông 1953 và xuân 1954 giữ thế phòng ngự ở miền Bắc và thực hiện tấn công chiến lược tại miền Trung và miền Nam.
Bước thứ hai: Chuyển từ phòng ngự sang tấn công chiến lược ở phía Bắc để tiêu diệt chủ lực của Việt Minh.
Để thực hiện kế hoạch này Pháp cho tiến hành xây dựng và tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng quân đội bản địa, càn quét bình định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu V., Navarre được nhà nước Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ. Viện trợ Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh.. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền tây bắc Bắc Việt Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công và, theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó.
Về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam, kể từ sau năm 1950 nối thông biên giới với Trung Quốc, được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và Liên Xô, đã lớn mạnh rất nhiều, với các sư đoàn (đại đoàn) bộ binh và các trung đoàn pháo binh, công binh đã có kinh nghiệm đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn của quân Pháp trong phòng ngự kiên cố.
Bộ chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công
 









Các ý kiến mới nhất