Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Phạm Minh Hải (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:18' 24-06-2008
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 95
Số lượt thích: 0 người
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ban tôn giáo chính phủ





Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam














hà nội - 2006





Lời mở đầu

Nước Việt Nam có truyền thống văn hoá lâu đời và là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Cũng như ở nhiều nước trên thế giới, mỗi dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam có những tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với đời sống kinh tế, văn hoá và xã hội.
Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (năm 1946) đến Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay đều luôn khẳng định quyền “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” là một trong các quyền cơ bản của con người. ở Việt Nam không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo; các tín đồ theo tôn giáo khác nhau cùng chung sống hài hoà trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật"; đồng thời khẳng định chủ trương ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân.
Nhà nước Việt Nam cam kết tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trên thực tế, đồng thời không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng và tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh, tôn giáo của người dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng phát triển, dân chủ, công bằng và văn minh.
Tuy nhiên, ở trong nước và ngoài nước, do thiếu thông tin và do những định kiến nhất định, vẫn có những người chưa hiểu hết và hiểu chưa đúng về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam. Để giúp bạn đọc trong và ngoài nước, các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm hiểu rõ và đầy đủ hơn tình hình tôn giáo và chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ trân trọng giới thiệu cuốn sách "Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam".
Chương 1
tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt nam
1. Vài nét về tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam á, có truyền thống văn hoá lâu đời, có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên một lãnh thổ với văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống khác nhau mang đậm bản sắc tộc người. Mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều có những sắc thái riêng, song lại giống nhau ở một điểm là đều có tập tục thờ đa thần.
Vào buổi đầu Công nguyên, khi Phật giáo vào Việt Nam dù bằng đường biển từ ấn Độ đến hay bằng đường bộ từ Trung Quốc sang, người Việt Nam kết hợp tiềm thức tôn giáo, tín ngưỡng bản địa với Phật giáo để tạo nên một Phật mẫu Man Nương và Hệ thống chùa Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện). Hệ thống thờ Tứ Pháp là một tôn giáo bản địa với sự góp mặt của đạo Phật kết hợp với các yếu tố tín ngưỡng nguyên thuỷ, thờ cúng các nữ thần nông nghiệp và sùng bái các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp của người Việt.
Từ thế kỷ X, tín ngưỡng đa thần cùng với việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa Phật, Nho và Lão giáo vào trong tôn giáo được gọi là Tam giáo đồng nguyên hay Tam giáo đồng tôn. Hệ thống Tam giáo trở thành một hệ thống tâm linh mang đậm sắc thái dân tộc Việt Nam.
Đến thế kỷ XV, sau khi lên ngôi, nhà Lê đã không sử dụng Phật giáo như một chỗ dựa tinh thần cho xã hội mà dùng hệ tư tưởng Nho giáo làm trọng. Ngôi đình làng trở thành vị trí trung tâm thay cho ngôi chùa. ở mỗi làng, mỗi khu vực, người dân chọn ra cho mình một vị thần Thành hoàng để thờ trong đình. Thần Thành hoàng không nhất thiết phải là người có chức có quyền, có công lao to lớn, có hình dáng uy nghi đạo mạo, mà là vị thần được người dân tôn vinh và có thể phù hộ độ trì cho dân làng. Tục thờ Thành hoàng làng là sự chiết trung, sự pha trộn giữa tín ngưỡng mới với tục thờ cúng tổ tiên vốn có trong tư duy người Việt.
Vào thế kỷ thứ XVI, Đạo Công giáo thâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam và người Việt Nam bắt đầu làm quen với một tôn giáo mang sắc thái thờ độc thần. Trong suốt mấy thế kỷ, những người Công giáo Việt Nam tin theo Chúa Trời đã phải bỏ hết các tín ngưỡng thờ cúng cũ trong đó có việc thờ cúng ông cha, tổ tiên của mình. Cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mới trở lại với người Công giáo Việt Nam.
Như vậy, hệ thống cấu trúc tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam được tạo ra từ các luồng tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Đó là: tín ngưỡng bản địa và tục thờ đa thần; tôn giáo ngoại sinh (là những tôn giáo được sinh ra từ nước ngoài như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo..., rồi sau đó được truyền bá vào Việt Nam); tôn giáo nội sinh (là tôn giáo được hình thành ngay ở Việt Nam như: đạo Cao đài, Phật giáo Hoà Hảo, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa...) và các hiện tượng tôn giáo mới. Trong quá trình truyền bá, các tôn giáo ngoại sinh luôn phải thích ứng với hình thái văn hoá tín ngưỡng của người Việt Nam, do vậy cũng có nhiều biến đổi, không còn nguyên dạng như trước nữa, hay nói cách khác là các tôn giáo ngoại sinh khi vào Việt Nam đã được văn hoá Việt Nam đồng hoá.
Dù là tôn giáo ngoại sinh hay nội sinh thì tín đồ các tôn giáo này vẫn bị chi phối bởi hệ thức đa thần giáo, bởi tinh thần bao dung tôn giáo, đứng về phía dân tộc. Yêu nước là một truyền thống quý báu của các tín đồ và tuyệt đại đa số chức sắc tôn giáo ở Việt Nam. Hơn ai hết, đồng bào các tôn giáo hiểu rất rõ rằng Tổ quốc có độc lập, tôn giáo mới tự do.
Là một nước đa tôn giáo nhưng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam nhìn chung đều gắn bó với dân tộc, đồng thời là một nhân tố xã hội và văn hoá tích cực góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Việt Nam còn là một đất nước rất ôn hòa trong quan hệ giữa các tôn giáo; có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân trong quá trình dựng nước và giữ nước. Việc chung sống hoà bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đan xen nhưng không mâu thuẫn. Đặc biệt, ở Việt Nam ngày nay, sự hoà thuận giữa các tôn giáo và Nhà nước đã thể hiện rất rõ. Vì thế, ở Việt Nam không xảy ra xung đột tôn giáo. Đại đoàn kết toàn dân tộc trong đó có đoàn kết các tôn giáo là nguồn sức mạnh và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Các tôn giáo ở Việt Nam
2.1. Đạo Phật
Đạo Phật truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên. Vào thời kỳ đó ở Luy Lâu (thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay) đã có một trung tâm Phật giáo khá phồn thịnh.
Thời kỳ đầu, Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam chủ yếu trực tiếp từ ấn Độ qua đường biển cùng với các thương nhân, một số tăng sỹ ấn Độ và Trung á sang truyền giáo ở Việt Nam như Ma-ha-kỳ-vực (Mahajivaka), Khưu-đa-la (K`sudra), vào cuối thế kỷ thứ II sau Công nguyên, sau đó là Khương Tăng Hội, Chi Lương Cương (Kalyana - Siva) vào giữa thế kỷ thứ III sau Công nguyên và đến thế kỷ thứ IV sau Công nguyên là Đạt-ma-đề-bà (Dharmadeva).
Từ thế kỷ V đến thế kỷ X, do hoàn cảnh lịch sử, Phật giáo Việt Nam dần dần chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, Phật giáo Việt Nam có bước phát triển mới cùng với nền độc lập của dân tộc. Dưới thời Đinh - Lê (từ cuối thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI), thậm chí một số nhà sư được tham dự việc triều chính. Thời Lý - Trần (từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIV) là thời kỳ cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam, nhiều nhà sư đã phò vua giúp nước. Phật giáo được coi là quốc đạo, chùa chiền được xây dựng và tu bổ; tư tưởng Phật giáo, tổ chức cũng như hành đạo được phát triển, ngay cả một số vị vua cũng xuất gia tu hành. Vua Trần Nhân Tông là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang bản sắc Việt Nam với tinh thần sáng tạo, dung hợp và nhập thế. Từ thế kỷ XV, vị trí của Phật giáo dần dần nhường chỗ cho Nho giáo. Tuy nhiên, Phật giáo vẫn là một tôn giáo quan trọng trong Tam giáo đồng nguyên.
Phật giáo Nam Tông truyền vào phía Nam của Việt Nam từ thế kỷ thứ IV sau Công nguyên. Tín đồ Phật giáo Nam Tông chủ yếu là đồng bào dân tộc Khơ-me, tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long nên gọi là Phật giáo Nam Tông Khơ-me. Phật giáo Nam Tông Khơ-me có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nướ
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓