Tìm kiếm Giáo án
Tiếng hát con tàu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:07' 20-05-2008
Dung lượng: 55.0 KB
Số lượt tải: 382
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:07' 20-05-2008
Dung lượng: 55.0 KB
Số lượt tải: 382
Số lượt thích:
0 người
Tiếng hát con tàu
Chế Lan Viên
I. Về tác giả CLV
1. Giới thiệu chung
a) Trước CM
Khi CLV xuất hiện trên thi đàn với tập Điêu tàn người ta coi xự xuất hiện này như một niềm kinh dị (cách nói của Hoài Thanh)
Sở dĩ như thế bởi vì CLV đã dựng lên trong thơ ông một thế giới của cõi âm với đầy những sọ dừa, xương máu, yêu ma. Chúng ta bắt gặp rất nhiều những câu như:
Những cảnh ngàn sâu cây là ngọn
Muôn ma hời sờ soạng dắt nhau đi.
CLV coi việc trở về cõi âm như là sự phản kháng lại cõi dương. Ông còn có một thái độ phủ nhận thực tại:
"Hãy cho tôi một tinh cầu lạnh giá
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh
Những ưu phiền đau khổ với buồn lo".
Hoặc:
"Trời hỡi trời hôm nay ta chán hết
Những sắc màu hình ảnh của trần gian`
Có lẽ bởi vì thế mà cùng với HMT, CLV đã trở thành chủ soái của trường phái thơ điên.
Tuy nói vậy song thơ CLV trước CM vẫn có yếu tố tích cực. Bằng sự phủ nhận thực tại CLV muốn bày tỏ một cách kín đáo lòng yêu nước của mình. Ông tự nhận mình là nhà thơ của giống dân hời mất nước. Và có lẽ cũng vì thế mà ông chọn bút danh họ Chế.
b) Sau CM
CLV bế tắc im lặng suốt mười mấy năm trời không viết được một câu thơ nào. Tuy nhiên chính thời gian đó ông đã làm một cuộc tự đổi thay. Và cho đến năm 1958 ông mới sáng tác trở lại với tập ánh sáng và phù sa. Từ đó trở đi CLV viết rất đều. Các sáng tác tiêu biểu nhất là các tập Hoa ngày thường chim báo bão, Hoa trước lăng người.
CLV là một nhà thơ thiên về trí tuệ. Đọc thơ ông chúng ta luôn luôn gặp những câu có tính chất châm ngôn, triết lý - một thứ châm ngôn độc đáo xác thực, không xa lạ với mọi người. Có những điều rất thường cũng được CLV viết một cách sắc sảo và mang tính phát hiện:
"Diệt Mỹ là cao cả của tình yêu
Cái hầm chông là điều nhân đạo nhất"
Hay là:
"Con dẫu lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con"
Cái hay trong thơ CLV là có rất nhiều câu nếu đứng tách riêng, nó vẫn có ý nghĩa độc lập thâm thúy của nó.
II. Về tác phẩm
1. Đi tìm ý nghĩa tiêu đề
Lúc CLV viết bài thơ này, cả nước đang dấy lên phong trào khai hoang ở miền núi. Vì thế sẽ có rất nhiều người nghĩ rằng CLV viết bài thơ này theo đơn đặt hàng nhằm cổ vũ cho phong trào đó. Nhưng vốn là tác giả thiên về trí tuệ CLV không bao giờ bằng lòng với mục đích ấy. Ông muốn qua bài thơ này để nói lên những ý tưởng, những suy ngẫm hết sức sâu sắc của ông ấy về cuộc sống và NT. Tên bài thơ là “Tiếng hát con tàu” và hình tượng chủ đạo là con tàu lên Tây bắc. Nhưng đến tận lúc CLV viết bài thơ này, thậm chí đến tận bây giờ làm gì có con tàu nào lên Tây bắc. Như thế đã quá rõ ràng là hình tượng con tàu chỉ là hình tượng hư cấu để CLV gửi gấm vào đó cái khát vọng được lên đường. Đối với một người đã từng bế tắc, đã từng luẩn quẩn trong những triết lí siêu hình thì lên đường chính là 1 biện pháp nhằm giúp cho tác phẩm thoát khỏi cái tôi nhỏ hẹp để hòa nhập với cái ta chung của đất nước .
Hình tượng con tầu ngoài ý nghĩa về nhân sinh còn nói trên còn nói rõ những suy ngẫm sâu sắc của CLV về NT. Việc lên đường để thoát khỏi cái tôi cá nhân hòa nhập với cái ta chung còn là con đường tất yếu để CLV tìm lại cảm hứng NT đã mất. Ông biết rất rõ người nghệ sĩ chỉ có được sáng tạo NT khi rộng mở tâm hồn mình để đón nhận những âm vang của cuộc sống ngoài kia. Điều này đối với CLV hết sức thấm thía bởi ông đã từng nghĩ về nó tới mười mấy năm trời.
Như vậy có thể thấy rõ hình tượng con tàu trong thơ CLV vừa mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, vừa mang ý nghĩa nghệ thuật. Và như vậy thì Tiếng hát con tàu cũng có nghĩa là khúc hát nghệ thuật.
2. Bố cục bài thơ:
Bài thơ gồm 15 khổ:
- Hai khổ đầu nhà thơ dùng lối đối thoại (đối thoại với một người nào đó, một người mà nhà thơ gọi là anh. Người này cứ ở lì HN chẳng chịu đi đâu). Nhưng nếu để ý 1 chút ta sẽ thấy ngay đối thoại chỉ là hình thức bên ngoài còn thực chất là độc thoại. CLV đang say sưa nói với chính con người cũ của ông để được lên đường thanh thản.
- Chín khổ thơ tiếp theo CLV nói rõ những nhận thức sâu kín của ông về mảnh đất Tây Bắc nơi ông sẽ đến, về giá trị tinh thần của cuộc kháng chiến đã qua. Tiếp đó CLV ôn lại những kỉ niệm về những người Tây Bắc tình nghĩa - những người đã từng cưu mang đùm bọc ông. Cuối cùng, nhận thức ấy, tình cảm ấy, kỉ niệm ấy đã giúp CLV chuyển hóa thành triết lí.
- 4 khổ thơ cuối có thể được coi là khúc hát lên đường.
3. Tìm hiểu bài thơ:
Bài thơ THCT khi đầu có tên là Con tàu Tây Bắc được in trong tập “ánh sáng và phù sa”. Tên của tập thơ có ý nghĩa: ánh sáng của lý tưởng của Đảng soi rọi và và phù sa của cuộc đời bồi đắp.
a) Phân tích khổ thơ đề từ.
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu.
Khác với tất cả các bài thơ khác chỉ có 1 lời đề tặng, hoặc 1 lời đề từ. (Đề tặng thì chẳng có gì đáng nói, còn những lời đề từ thường là sự tóm tắt ý tưởng nhà thơ muốn gửi gắm vào bài thơ) ở bài THCT, CLV không phải chỉ viết 1 lời đề từ mà ông viết hẳn 1 khổ thơ đề từ. Khổ thơ này không được CLV viết theo logic của cảm xúc mà được ông viết theo logic của lập luận theo kiểu giả định, khẳng định:
+ Câu thơ mở đầu chính là một câu giả định. Tây Bắc ư? Có riêng gì TB. Nếu câu thơ dừng lại ở Tây Bắc ư? thì đó có thể là một đang được xác định. Nhưng khi thêm vế sau “Có riêng gì TB” thì rõ ràng địa danh TB đã trở thành một địa danh giả định. Cho nên điều mà CLV muốn muốn khẳng định chính là ở câu “Khi lòng ta đã hoá những con tàu”.
Trong câu thơ này chúng ta thấy có sự gặp gỡ giữa ý muốn chủ quan của “ta” – cái tôi nhà thơ với đòi hỏi khách quan của đất nước. Ta thì khao khát cống hiến tài năng và sức lực của mình (điều kiện chủ quan) còn Tổ Quốc thì đang lên tiếng gọi mọi người lên đường (điều kiện khách quan). Chính lô gíc này đã tạo nên con tàu trong tâm tưởng trong lòng ta.
Hai câu cuối là lôgíc tình cảm. Thứ lô gic được tạo nên bởi một quan niệm hết sức mới mẻ về quê hương. Quê hương theo ông không phải chỉ là nơi sinh ra và lớn lên, mà quan trọng hơn đó còn là nơi cần ta đến, và chính ta cũng tự nguyện đến đó để cống hiến. Và với qua niệm như vậy thì bất kì một mảnh đất nào trên Tổ Quốc VN này sẽ trở nên quê hương thứ 2, nơi hóa tâm hồn chúng ta.
Chính vì lô gíc này cái kết luận "tâm hồn ta là TB chứ còn đâu" nghe như được rút ra từ một chân lý nào đó. Nó giản dị nhưng vô cùng bất ngờ. Thậm chí bất ngờ ngay cả với chính tác giả.
b) Phân tích 2 khổ thơ đầu.
Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?
Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng
Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.
(Trong thủ thuật sáng tác, nhiều khi để cho việc thể hiện tư tưởng tình cảm của mình được thoải mái tự nhiên, các tác giả thường chủ động tạo nên một cuộc đối thoại trong tưởng tượng mà về thực chất nó chỉ là một cuộc độc thoại trong tâm tưởng mà thôi. Nhà thơ HC cũng mở đầu bài thơ BKSĐ của mình theo cách ấy: “Em ơi buồn ..... sông Đuống)
Khổ thơ bắt đầu bằng hàng loạt các câu hỏi. Câu đầu tiên giống như sự dò xét thái độ: “Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?”
Với câu hỏi như thế người đọc có quyền nghĩ bài thơ bắt đầu bằng một cuộc đối thoại. (Người hỏi là ai? Theo suy đoán thì chắc chắn phải là người quan tâm tới tác giả hoặc quan tâm tới cuộc vận động khai hoang ở miền núi. ..Và cứ theo suy đoán như vậy thì gần suốt hai khổ thơ người bạn ấy liên tiếp đưa ra những câu hỏi khác nhau để dò xét, để trách móc, thậm chí phê phán).
Tuy nhiên nếu chúng ta hiểu được hoàn cảnh của CLV qua lời bộc bạch của ông lúc đó: “Bài con tàu TB được viết ra từ một tâm trạng riêng. Hồi ấy tôi yếu, không đi đâu được và tự đặt câu hỏi nếu mình không đi được thì sao?” chúng ta sẽ thấy đó chỉ là một cuộc độc thoại.
4 câu thơ đầu được viết rất tự nhiên nên chân thành và tha thiết. ở đây tác giả đã làm một phép so sánh. Sự lên đường của mọi người và sự chưa lên đường của nhân vật “anh” – tác giả. Sự so sánh này vừa để trình bày vừa để cởi mở bộc bạch một thực tế – một thực tế làm ông nhức nhối tâm can: “Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội”. Trong thực tế nếu không có lý do chính đáng để ở lại thì sự không lên đường đồng nghĩa với sự chạy chốn, sự tránh né gian khổ để hưởng thụ. Cho nên nếu không phải chính nhà thơ nhìn ra thì câu thơ sẽ là lời phê phán, chỉ trích nặng nề. Đằng này có cảm giác như tác giả đang say sưa với chính mình. Câu thơ vì thế vừa là lời tự bạch, vừa là lời tự phê. Mà đã tự phê tức là đã thoát khỏi hoặc có cơ sở để thoát khỏi thực tế. V
Chế Lan Viên
I. Về tác giả CLV
1. Giới thiệu chung
a) Trước CM
Khi CLV xuất hiện trên thi đàn với tập Điêu tàn người ta coi xự xuất hiện này như một niềm kinh dị (cách nói của Hoài Thanh)
Sở dĩ như thế bởi vì CLV đã dựng lên trong thơ ông một thế giới của cõi âm với đầy những sọ dừa, xương máu, yêu ma. Chúng ta bắt gặp rất nhiều những câu như:
Những cảnh ngàn sâu cây là ngọn
Muôn ma hời sờ soạng dắt nhau đi.
CLV coi việc trở về cõi âm như là sự phản kháng lại cõi dương. Ông còn có một thái độ phủ nhận thực tại:
"Hãy cho tôi một tinh cầu lạnh giá
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh
Những ưu phiền đau khổ với buồn lo".
Hoặc:
"Trời hỡi trời hôm nay ta chán hết
Những sắc màu hình ảnh của trần gian`
Có lẽ bởi vì thế mà cùng với HMT, CLV đã trở thành chủ soái của trường phái thơ điên.
Tuy nói vậy song thơ CLV trước CM vẫn có yếu tố tích cực. Bằng sự phủ nhận thực tại CLV muốn bày tỏ một cách kín đáo lòng yêu nước của mình. Ông tự nhận mình là nhà thơ của giống dân hời mất nước. Và có lẽ cũng vì thế mà ông chọn bút danh họ Chế.
b) Sau CM
CLV bế tắc im lặng suốt mười mấy năm trời không viết được một câu thơ nào. Tuy nhiên chính thời gian đó ông đã làm một cuộc tự đổi thay. Và cho đến năm 1958 ông mới sáng tác trở lại với tập ánh sáng và phù sa. Từ đó trở đi CLV viết rất đều. Các sáng tác tiêu biểu nhất là các tập Hoa ngày thường chim báo bão, Hoa trước lăng người.
CLV là một nhà thơ thiên về trí tuệ. Đọc thơ ông chúng ta luôn luôn gặp những câu có tính chất châm ngôn, triết lý - một thứ châm ngôn độc đáo xác thực, không xa lạ với mọi người. Có những điều rất thường cũng được CLV viết một cách sắc sảo và mang tính phát hiện:
"Diệt Mỹ là cao cả của tình yêu
Cái hầm chông là điều nhân đạo nhất"
Hay là:
"Con dẫu lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con"
Cái hay trong thơ CLV là có rất nhiều câu nếu đứng tách riêng, nó vẫn có ý nghĩa độc lập thâm thúy của nó.
II. Về tác phẩm
1. Đi tìm ý nghĩa tiêu đề
Lúc CLV viết bài thơ này, cả nước đang dấy lên phong trào khai hoang ở miền núi. Vì thế sẽ có rất nhiều người nghĩ rằng CLV viết bài thơ này theo đơn đặt hàng nhằm cổ vũ cho phong trào đó. Nhưng vốn là tác giả thiên về trí tuệ CLV không bao giờ bằng lòng với mục đích ấy. Ông muốn qua bài thơ này để nói lên những ý tưởng, những suy ngẫm hết sức sâu sắc của ông ấy về cuộc sống và NT. Tên bài thơ là “Tiếng hát con tàu” và hình tượng chủ đạo là con tàu lên Tây bắc. Nhưng đến tận lúc CLV viết bài thơ này, thậm chí đến tận bây giờ làm gì có con tàu nào lên Tây bắc. Như thế đã quá rõ ràng là hình tượng con tàu chỉ là hình tượng hư cấu để CLV gửi gấm vào đó cái khát vọng được lên đường. Đối với một người đã từng bế tắc, đã từng luẩn quẩn trong những triết lí siêu hình thì lên đường chính là 1 biện pháp nhằm giúp cho tác phẩm thoát khỏi cái tôi nhỏ hẹp để hòa nhập với cái ta chung của đất nước .
Hình tượng con tầu ngoài ý nghĩa về nhân sinh còn nói trên còn nói rõ những suy ngẫm sâu sắc của CLV về NT. Việc lên đường để thoát khỏi cái tôi cá nhân hòa nhập với cái ta chung còn là con đường tất yếu để CLV tìm lại cảm hứng NT đã mất. Ông biết rất rõ người nghệ sĩ chỉ có được sáng tạo NT khi rộng mở tâm hồn mình để đón nhận những âm vang của cuộc sống ngoài kia. Điều này đối với CLV hết sức thấm thía bởi ông đã từng nghĩ về nó tới mười mấy năm trời.
Như vậy có thể thấy rõ hình tượng con tàu trong thơ CLV vừa mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, vừa mang ý nghĩa nghệ thuật. Và như vậy thì Tiếng hát con tàu cũng có nghĩa là khúc hát nghệ thuật.
2. Bố cục bài thơ:
Bài thơ gồm 15 khổ:
- Hai khổ đầu nhà thơ dùng lối đối thoại (đối thoại với một người nào đó, một người mà nhà thơ gọi là anh. Người này cứ ở lì HN chẳng chịu đi đâu). Nhưng nếu để ý 1 chút ta sẽ thấy ngay đối thoại chỉ là hình thức bên ngoài còn thực chất là độc thoại. CLV đang say sưa nói với chính con người cũ của ông để được lên đường thanh thản.
- Chín khổ thơ tiếp theo CLV nói rõ những nhận thức sâu kín của ông về mảnh đất Tây Bắc nơi ông sẽ đến, về giá trị tinh thần của cuộc kháng chiến đã qua. Tiếp đó CLV ôn lại những kỉ niệm về những người Tây Bắc tình nghĩa - những người đã từng cưu mang đùm bọc ông. Cuối cùng, nhận thức ấy, tình cảm ấy, kỉ niệm ấy đã giúp CLV chuyển hóa thành triết lí.
- 4 khổ thơ cuối có thể được coi là khúc hát lên đường.
3. Tìm hiểu bài thơ:
Bài thơ THCT khi đầu có tên là Con tàu Tây Bắc được in trong tập “ánh sáng và phù sa”. Tên của tập thơ có ý nghĩa: ánh sáng của lý tưởng của Đảng soi rọi và và phù sa của cuộc đời bồi đắp.
a) Phân tích khổ thơ đề từ.
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu.
Khác với tất cả các bài thơ khác chỉ có 1 lời đề tặng, hoặc 1 lời đề từ. (Đề tặng thì chẳng có gì đáng nói, còn những lời đề từ thường là sự tóm tắt ý tưởng nhà thơ muốn gửi gắm vào bài thơ) ở bài THCT, CLV không phải chỉ viết 1 lời đề từ mà ông viết hẳn 1 khổ thơ đề từ. Khổ thơ này không được CLV viết theo logic của cảm xúc mà được ông viết theo logic của lập luận theo kiểu giả định, khẳng định:
+ Câu thơ mở đầu chính là một câu giả định. Tây Bắc ư? Có riêng gì TB. Nếu câu thơ dừng lại ở Tây Bắc ư? thì đó có thể là một đang được xác định. Nhưng khi thêm vế sau “Có riêng gì TB” thì rõ ràng địa danh TB đã trở thành một địa danh giả định. Cho nên điều mà CLV muốn muốn khẳng định chính là ở câu “Khi lòng ta đã hoá những con tàu”.
Trong câu thơ này chúng ta thấy có sự gặp gỡ giữa ý muốn chủ quan của “ta” – cái tôi nhà thơ với đòi hỏi khách quan của đất nước. Ta thì khao khát cống hiến tài năng và sức lực của mình (điều kiện chủ quan) còn Tổ Quốc thì đang lên tiếng gọi mọi người lên đường (điều kiện khách quan). Chính lô gíc này đã tạo nên con tàu trong tâm tưởng trong lòng ta.
Hai câu cuối là lôgíc tình cảm. Thứ lô gic được tạo nên bởi một quan niệm hết sức mới mẻ về quê hương. Quê hương theo ông không phải chỉ là nơi sinh ra và lớn lên, mà quan trọng hơn đó còn là nơi cần ta đến, và chính ta cũng tự nguyện đến đó để cống hiến. Và với qua niệm như vậy thì bất kì một mảnh đất nào trên Tổ Quốc VN này sẽ trở nên quê hương thứ 2, nơi hóa tâm hồn chúng ta.
Chính vì lô gíc này cái kết luận "tâm hồn ta là TB chứ còn đâu" nghe như được rút ra từ một chân lý nào đó. Nó giản dị nhưng vô cùng bất ngờ. Thậm chí bất ngờ ngay cả với chính tác giả.
b) Phân tích 2 khổ thơ đầu.
Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?
Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng
Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.
(Trong thủ thuật sáng tác, nhiều khi để cho việc thể hiện tư tưởng tình cảm của mình được thoải mái tự nhiên, các tác giả thường chủ động tạo nên một cuộc đối thoại trong tưởng tượng mà về thực chất nó chỉ là một cuộc độc thoại trong tâm tưởng mà thôi. Nhà thơ HC cũng mở đầu bài thơ BKSĐ của mình theo cách ấy: “Em ơi buồn ..... sông Đuống)
Khổ thơ bắt đầu bằng hàng loạt các câu hỏi. Câu đầu tiên giống như sự dò xét thái độ: “Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?”
Với câu hỏi như thế người đọc có quyền nghĩ bài thơ bắt đầu bằng một cuộc đối thoại. (Người hỏi là ai? Theo suy đoán thì chắc chắn phải là người quan tâm tới tác giả hoặc quan tâm tới cuộc vận động khai hoang ở miền núi. ..Và cứ theo suy đoán như vậy thì gần suốt hai khổ thơ người bạn ấy liên tiếp đưa ra những câu hỏi khác nhau để dò xét, để trách móc, thậm chí phê phán).
Tuy nhiên nếu chúng ta hiểu được hoàn cảnh của CLV qua lời bộc bạch của ông lúc đó: “Bài con tàu TB được viết ra từ một tâm trạng riêng. Hồi ấy tôi yếu, không đi đâu được và tự đặt câu hỏi nếu mình không đi được thì sao?” chúng ta sẽ thấy đó chỉ là một cuộc độc thoại.
4 câu thơ đầu được viết rất tự nhiên nên chân thành và tha thiết. ở đây tác giả đã làm một phép so sánh. Sự lên đường của mọi người và sự chưa lên đường của nhân vật “anh” – tác giả. Sự so sánh này vừa để trình bày vừa để cởi mở bộc bạch một thực tế – một thực tế làm ông nhức nhối tâm can: “Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội”. Trong thực tế nếu không có lý do chính đáng để ở lại thì sự không lên đường đồng nghĩa với sự chạy chốn, sự tránh né gian khổ để hưởng thụ. Cho nên nếu không phải chính nhà thơ nhìn ra thì câu thơ sẽ là lời phê phán, chỉ trích nặng nề. Đằng này có cảm giác như tác giả đang say sưa với chính mình. Câu thơ vì thế vừa là lời tự bạch, vừa là lời tự phê. Mà đã tự phê tức là đã thoát khỏi hoặc có cơ sở để thoát khỏi thực tế. V
 









Các ý kiến mới nhất