Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Tự soạn
Người gửi: Võ Ngọc Đức
Ngày gửi: 10h:38' 14-03-2008
Dung lượng: 67.5 KB
Số lượt tải: 317
Số lượt thích: 0 người
Ngày dạy 12.9 VÀ 19.9.2007

A- CÔNG DÂN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC.
TIẾT 1, 2: THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ
PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG.
(2 tiết)
I. Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức.
- Nhận biết được chức năng thế giới quan, phương pháp luận của Triết học.
- Nhận biết được nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình.
- Nêu được chủ nghĩa duy vật biện chứng là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.
2. Kĩ năng.
Nhận xét, đánh giá được một số biểu hiện của quan điểm duy vật hoặc duy tâm, biện chứng hoặc siêu hình trong cuộc hằng ngày.
3. Thái độ.
Có ý thức trau dồi thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.
II. Chuẩn bị.
1. Trọng tâm của bài: là nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng; cơ sở lí luận để xem xét các vấn đề tiếp theo ở những bài sau.
2. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Sử dụng các phương pháp giảng giải, diễn giảng, trần thuật với các kiến thức khó; sử dụng phương pháp đàm thoại, giải quyết vấn đề đối với những kiến thức mà học sinh ít nhiều đã được học.
Học theo nhóm nhỏ đối với những câu hỏi mở, những câu in chữ nhỏ dẫn dắt, đặt vấn đề trong SGK.
3. Phương tiện dạy học:
Các bảng so sánh: về đối tượng nghiên cứu của Triết học và các môn khoa học cụ thể; về thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm; về phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình.
Những mẫu truyện triết học, truyện ngụ ngôn, thần thoại; những câu ca, tục ngữ, thành ngữ.
III. Tiến trình tổ chức bài học
1. Ổn định lớp.
2. Kiểm tra bài cũ: (dành cho tiết 2 trở đi).
Bảng so sánh về đối tượng nghiên cứu của Triết học và các môn khoa học cụ thể.

Triết học
Các môn khoa học cụ thể

Những quy luật



Ví dụ



Bảng so sánh về thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm.

Thế giới quan duy vật
Thế giới quan duy tâm

Quan hệ giữa vật chất và ý thức



Ví dụ



Bảng so sánh về phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình.

PPL biện chứng
PPL siêu hình

Quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng vận động và phát triển.



Ví dụ




3. Bài mới:
Trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức, chúng ta cần có thế giới quan khoa học và phương pháp luận khoa học hướng dẫn. Triết học là môn học trực tiếp cung cấp cho chúng ta những tri thức ấy. Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau nghiên cứu bài học đầu tiên “Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng”.

Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung

GV: nhắc lại câu nói của Mác: “Không có Triết học thì không thể tiến lên phía trước”. Đây là câu nói của Mác trong lá thư gửi cho thân phụ năm 1837, lúc này Mác đang học tại trường Đại học Béclin.
GV: đưa ra một số vấn đề về thế giới quan (TGQ) hoặc phương pháp luận (PPL): truyện thần thoại “Thần trụ trời” hoặc truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” trong phần tư liệu tham khảo của sách giáo khoa (trang 10, 11).
( Thế giới quan và phương pháp luận.
a) Đơn vị kiến thức 1: Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của Triết học.
- GV giảng giải:
Triết học nghiên cứu những quy luật chung, phổ biến; các môn khoa học cụ thể nghiên cứu những quy luật riêng. Những quy luật của Triết học được khái quát từ các quy luật của khoa học cụ thể, nhưng bao quát hơn, chi phối các môn khoa học cụ thể nên nó trở thành thế giới quan, phương pháp luận chung của khoa học.
GV: chứng minh để học sinh thấy được vai trò của TGQ, PPL của Triết học qua đối tượng nghiên cứu và phạm vi ứng dụng của nó.
Như ta biết, TGQ được hình thành bao gồm các yếu tố của tất cả các hình thái ý thức xã hội (Triết học, khoa học, chính trị, Đạo đức, Thẩm mĩ, Tôn giáo...). Trong đó, những quan điểm và niềm tin Triết học tạo nên nền tảng của mỗi hệ thống TGQ.

b) Đơn vị kiến thức 2: Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm.
- GV giảng giải để học viên nắm được cơ sở phân loại các hình thái thế giới quan (TGQ duy vật và TGQ duy tâm). Đối với mỗi hình thái TGQ, không cần đi sậu vào lịch sử vấn đề, mà cần chốt lại những nội dung cơ bản của chúng (như SGK).
- GV chia nhóm, giao cho mỗi nhóm (3 nhóm) tìm hiểu và trình bày một nội dung theo chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài. Học viên thảo luận chung và GV tổng kết.
+ Nhóm 1: tìm hiểu và trình bày nội dung: “Thế nào là thế giới quan”?
+ Nhóm 2: tìm hiểu và trình bày nội dung: “Thế nào là thế giới quan duy vật”?
+ Nhóm 3: tìm hiểu và trình bày nội dung “Thế nào là thế giới quan duy tâm”?
cho ví dụ (tham khảo trong SGK).
c) Đơn vị kiến thức 3: Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình.
-GV cần làm cho học viên lĩnh hội được nội dung cơ bản của PPLBC và PPLSH, nhớ được một số quan điểm tiêu biểu của các triết gia thuộc 2 loại PPL này (Hê-Cra-Clit nhà triết học cổ đại Hy Lạp “không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”; T.Hốp-Xơ, nhà triết học người Anh còn là một nhà Vật lý học, Ông cho rằng: cơ thể con người giống như các bộ phận của một cổ máy; các bộ phận của con người giống như các bộ phận của một chiếc đồng hồ cơ học; tim là lò xo, dây thần kinh là sợi chỉ, khớp xương là bánh xe làm cho cơ thể chuyển động).
- GV chia nhóm để học viên tìm hiểu và trình bày các nội dung:
+ Nhóm 1: Thế nào là phương pháp và phương pháp luận?
+ Nhóm 2: Phương pháp luận triết học là gì?
+ Nhóm 3: Thế nào là phương pháp luận biện chứng?
+ Nhóm 4: Thế nào là phương pháp luận siêu hình?


d) Đơn vị kiến thức 4: Chủ nghĩa duy vật biện chứng – Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.
GV: Triết học Mác – Lênin là giai đoạn phát triển cao của lịch sử triết học.
Các hệ thống triết học trước Mác thiếu triệt để, vì các hệ thống triết học ấy chưa đạt được sự thống nhất và giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, tiêu biểu là hệ thống triết học của Phoi-ơ-Bắc và hệ thống triết học của Hêghen. Triết học Mác – Lênin là đỉnh cao của sự phát triển triết học, vì nó đã khắc phục được những hạn chế về thế giới quan duy tâm và phương pháp luận siêu hình; đồng thời kế thừa, cải tạo và phát triển các yếu tố duy vật và biện chứng của các hệ thống triết học trước đó, thực hiện được sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.

- GV sử dụng bảng so sánh sau đây để giảng dạy:



TGQ
PPL
Ví dụ

Các nhà duy vật trước Mác.




Các nhà biện chứng trước Mác




Triết học Mác-Lênin




Các nhà duy vật trước Mác: có TGQ duy vật, nhưng thường lại siêu hình về PPL. Họ không vận dụng được TGQ duy vật để xây dựng PPL khoa học, đặc biệt là khi giải thích các hiện tượng về lịch sử, về đời sống xã hội và con người. Vì vậy, họ có thể có được quan điểm duy vật khi giải thích các hiện tượng về giới tự nhiên nhưng lại duy tâm khi giải thích các hiện tượng về lịch sử xã hội và con người (Lão Tử, Phoi-Ơ-Bắc).
- Các nhà biện chứng trước Mác: có tư tưởng hiện chứng về PPL, nhưng thường lại đứng trên lập trường duy tâm. Phép biện chứng của họ không phải là các sản phẩm phản ánh sự vật hiện tượng khách quan, mà là phép biện chứng của ý niệm. Ý niệm là cái có trước, quyết định sự vật và hiện tượng (PlaTon, Hêghen).
- Triết học Mác-Lênin: TGQ duy vật và PPL biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau. Bản chất thế giới là vật chất, thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển theo quy luật khách quan. Những quy luật này được con người nhận thức và xây dựng thành phương pháp luận. Bởi vậy, TGQ và PPL gắn bó với nhau. Xét về TGQ, nó là TGQ duy vật biện chứng; xét về PPL, nó là phép biện chứng duy vật.





1. Thế giới quan và phương pháp luận.
a) Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của Triết học.
( Triết học là gì?
Triết học là hệ thống các quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó.

( Vai trò của Triết học:
Triết học có vai trò là thế giới quan, phương pháp luận chung cho mọi hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người.









b) Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm.
( Thế nào là thế giới quan? Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động của con người trong cuộc sống.
( Thế giới quan duy vật cho rằng:
Giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định quyết định ý thức. Thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập đối với ý thức con người, không do ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệt được.
( Thế giới quan duy tâm cho rằng: ý thức là cáo có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.
2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng:
- Trước khi Triết học Mác ra đời, do hạn chế của điều kiện lịch sử, nhận thức khoa học và lập trường giai cấp, các nhà triết học chưa đạt được sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Thường là, họ có được thế giới quan duy vật nhưng không vận dụng được thế giới quan ấy để xây dựng phép biện chứng. Hoặc là, họ có được những tư tưởng biện chứng, nhưng lại đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm.
Chẳng hạn, Hêraclit coi sự vận động và phát triển của thế giới giống dòng chảy của một con sông (phép biện chứng duy vật chất phác, thơ ngây, thiếu căn cứ khoa học).
Chống phương pháp siêu hình, Hêghen xây dựng tương đối hoàn chỉnh phép biện chứng với một hệ thống các khái niệm, phạm trù và những quy luật cơ bản. Song do thế giới quan là duy tâm cho rằng “Ý niệm tuyệt đối” là cái có trước thế giới, giới tự nhiên và xã hội chỉ là cái biểu hiện bên ngoài của “Ý niệm tuyệt đối”. Bởi vậy, phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm.
- Trong Triết học Mác, thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau. Thế giới vật chất là cái có trước, phép biện chứng phản ánh nó là cái có sau. Thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển theo những Quy luật khách quan. Những Quy luật này được con người nhận thức và xây dựng thành phương pháp luận. Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng gắn bó với nhau, không tá
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓