Tìm kiếm Giáo án
Tây Tiến

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:07' 20-05-2008
Dung lượng: 68.5 KB
Số lượt tải: 215
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:07' 20-05-2008
Dung lượng: 68.5 KB
Số lượt tải: 215
Số lượt thích:
0 người
Tây Tiến
-Quang Dũng-
I. Vài nét về tác giả :
1. Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác:
Tên khai sinh Bùi Đình Dậu (tức Diệm) sinh năm 1921. Quê gốc Phương Trì - Đan Phượng – Hà Tây.
Trước CM T8 học trường Thăng Long. Tốt nghiệp đi dạy học tư ở Sơn Tây.
Sau CM vào quân đội, công tác ở phòng quân vụ Bắc bộ, phóng viên báo Chiến đấu khu II. Năm 1974, học trường bổ túc Trung cấp quân sự Sơn Tây . Sau đó về Trung đoàn tây Tiến giữ chức Đại đội trưởng, Phó đoàn vũ trang tuyên truyền Lào – Việt. Tháng 8 xuất ngũ. Từ hoà bình lập lại làm cộng tác viên báo văn nghệ và Nhà xuất bản Văn học. Mất ngày 14 – 10 năm 1988 tại Hà Nội.
Tác phẩm đã xuất bản : Bài thơ sông Hồng (Truyện thơ 1956), Mây đầu ô (thơ 1986); Mùa hoa gạo (Truyện ngắn 1950); Đường lên Thuận Châu (bút ký) 1964) Một chặng đường Cao Bắc (Bút ký 1983); Thơ văn Quang Dũng (Tuyển thơ 1988).
2. Vị trí sáng tác:
Trong nền thơ hiện đại, QD thuộc lớp thi sĩ đầu tiên sau CM tháng 8 cùng thời với Chính Hữu, Hồng Nguyên. HTThông. Ông là một người tài hoa nhưng lại rất lận đận, ngay từ sáng tác đầu tay (là bài thơ Tây Tiến) đã bị phê phán. Hồi ấy người ta phê bình bài thơ này rất nặng nề thậm chí người ta còn kết tội QD đã xuyên tạc bản chất người lính cách mạng. Tuy thế cùng với thời gian, bài thơ Tây tiến chẳng những không bị lãng quên mà ngày càng trở nên tỏa sáng. Mặt khác, QD vẫn lặng lẽ sáng tác và thơ của ông vẫn cứ được người đọc tiếp nhận. Cả sự nghiệp sáng tác thơ ca của ông chỉ dồn vào có 1 tập thơ, tập Mây đầu ô. Sau này tập hợp hết trong tập Thơ văn Quang Dũng.
3. Phong cách nghệ thuật:
- Chính QD cho rằng “Hồi đi học tôi mê Đường thi tam bách thủ” nhất là những bài dich của Tản Đà. Tôi cũng say thơ Mới, nhưng thích nhất là Thế Lữ, đặc biệt là Nhớ rừng bởi chất tâm trạng sơn dã của nó… Tôi cũng yêu văn học Nga. Yêu những con người Cô dắc dũng cảm, yêu tự do, sống phóng khoáng, gắn bó với thanh gươm, yên ngựa và những chiến công trên những thảo nguyên mênh mông…Sau này đi Tây tiến tôi mang theo tình cảm đó bên mình.
Có thể nói nhiều người đã nhận thấy Hà thành hoa lệ đã có ảnh hưởng không nhỏ tới phong cách NT của người nghệ sĩ tài hoa này. Ông có một hồn thơ thật bay bổng, nồng nàn một tình yêu đất nước và con người đến si mê. Bên cạnh đó QD còn chịu ảnh hưởng bởi câu nói sâu sắc của Bác về người lính du kích “lai vô ảnh, khứ vô hình”…
II/ Về bài thơ Tây Tiến
1. Thời điểm Quang Dũng viết Tây Tiến.
Sau khi cách mạng Tháng 8 thành công, bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp lớp thi sĩ đàn anh nổi tiếng từ trước cách mạng bây giờ im bặt. Người thì khủng hoảng bế tắc, người thì đang nhận đường. Lúc ấy có một sứ mệnh đặt lên vai những người lính làm thơ chứ không phải là những nhà thơ. Đấy là những Chính Hữu, QD, Hồng Nguyên, Hoàng TThông. Họ viết bằng chính cuộc đời mình, bằng những trải niệm của người trong cuộc. Lớp thi sĩ này phần lớn xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản cho nên tiếng nói của họ vừa có cái máu thịt của đời sống, nhưng cũng có cái bấp bênh của nhận thức. Không ít các bài thơ của họ đã bị phê phán trong đó có Ngày về của Chính Hữu:
Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cửa đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
và Tây tiến của QD. Phải nhắc lại điều này chúng ta mới có thể hiểu nổi vì sao bài thơ Tây Tiến của QD lại có 1 số phận long đong như thế.
2. Hoàn cảnh sáng tác
- Đầu năm 1947 Bộ tư lệnh quân khu có thành lập 1 đơn vị đặc biệt lấy tên là Tây Tiến. Nhiệm vụ của đội quân này là tiến hành tiễu phỉ và đánh tiêu hao lực lượng địch suốt dọc biên giới phía Tây nhằm tạo ra một hành lang an toàn ở phía Tây làm chỗ dựa cho căn cứ địa Việt Bắc. Địa bàn hoạt động của đội rất rộng lại toàn là vùng rừng núi hiểm trở. Vì thế cuộc sống của người lính Tây Tiến rất gian khổ. ốm đau bệnh tật không có thuốc, ăn uống thiếu thốn vì thế số người chết vì bệnh tật còn nhiều hơn nhiều người hi sinh trong trận đánh. QD có mặt trong đội này ngay từ ngày đầu mới thành lập và là người chỉ huy đội. Nhưng đến đầu năm 1948 ông lại bị điều đi công tác khác. Cuối năm ấy ngồi ở Phù Lưu Chanh qd bồi hồi nhớ lại đơn vị cũ và cảm hứng ấy đã giúp ông viết được bài Tây Tiến.
Lúc đầu bài thơ có tên Nhớ Tây Tiến nhưng về sau QD thấy chữ "nhớ" là thừa nên mới bỏ đi. "Nhớ Tây Tiến" thì nghĩa hẹp hơn, đơn thuần là nhớ đơn vị cũ, nhớ năm tháng hoạt động ở vùng biên giới miền Tây Tổ quốc. (Người xưa luận về phép làm thơ: ý kị nông, mạch kị lộ) QD bỏ đi chữ nhớ làm mạch thơ không bị lộ. Cho nên "Tây Tiến” hàm ý gợi ra không bị hạn chế, nó mở rộng cả hai phương diện: - Cảm xúc tâm hồn của chủ thể và - hiện thực đời sống ở bên ngoài.
2) Bố cục bài thơ Tây Tiến
- Khổ 1: là những dòng kí ức của nhà thơ về núi rừng TB nơi mà đội Tây Tiến đang sống và chiến đấu. Thấp thoáng đằng sau hình ảnh thiên nhiên TB là hình dáng những người lính Tây Tiến mới chỉ được khắc họa bằng những nét rất sơ sài.
- Khổ 2: khổ thơ dành cho việc tái hiện lại những kỉ niệm trên những chặng đường hành quân.
- Khổ 3: là khổ thơ quan trọng nhất vì đây là khổ thơ đặc tả người lính Tây Tiến. Đây cũng là khổ thơ gây nhiều tranh luận nhất.
- Khổ 4: là sự khẳng định nỗi nhớ ban đầu.
3) Phân tíchbài thơ
Bao trùm ý của toàn bài là: bức chân dung kiêu hùng của người lính Tây Tiến được dệt nên bởi cảm hứng lãng mạn và bút pháp bi tráng.
- Khái niệm: cảm hứng, bút pháp, lãng mạn và bi tráng:
+ Cảm hứng: Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của người tiếp nhận tác phẩm (cảm hứng anh hùng, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng trào lộng, châm biếm..)
+ Bút pháp: Vốn là thuật ngữ của thư pháp (nghệ thuật viết chữ Nho), chỉ cách cầm bút, cách đưa đẩy nét bút để tạo dáng chữ đẹp. Trong Văn học bút pháp là cách thức hành văn, dùng chữ, bố cục, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật nào đó. ở đây bút pháp cũng tức là cách viết, lối viết. Với nghĩa này, bút pháp gần tương đồng với phong cách.
+ Lãng mạn: Từ thế kỷ XVIII từ ‘lãng mạn” vốn được dùng để chỉ tất cả những cái gì hoang đường, kì lạ, khác thường chỉ thấy có ở trong sách chứ không thấy có ở hiện thực. Sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn đòi hỏi tác giả phải giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng để tô đậm cái khác thường, cái phi thường, cái lý tưởng chứ không phải cái bình dị. Trên cơ sở hiện thực mà lãng mạn hóa hiện thực.
+ Bi tráng: là một phạm trù thẩm mĩ thường gắn với mất mát đau thương. Tuy nhiên mất mát đau thương của cái bi không phải chỉ là mất mát đau thương của một cá nhân mà là mất mát của cái cao cả, cái đẹp. Chính vì vậy cái bi rất gần với cái cao cả. Bút pháp bi tráng là lối viết không né tránh đau thương, dám nhìn thẳng vào sự hi sinh mất mát. Tuy nhiên ở đây cần lưu ý bi tráng chứ không bi thương, bi lụy. Cái bi thường mang vẻ đẹp hào hùng tráng lệ.
* Kiến thức cơ bản: Phân tích được vẻ đẹp lãng mạn của bài thơ qua hai hình tượng trung tâm:
- Hình tượng thiên nhiên: thiên nhiên Tây Bắc mang vẻ đẹp lãng mạn
+ Hùng vĩ dữ dội khác thường (chủ yếu ở đoạn 1)
+ Mĩ lệ, thơ mộng (chủ yếu ở đoạn 2)
- Hình tượng người lính: Bức chân dung kiêu hùng được xây dựng bằng cảm hứng lãng mạn và bút pháp bi tráng
+ Lãng mạn và bi tráng qua dáng vẻ bên ngoài
+ Lãng mạn và bi tráng qua đời sống tâm hồn
+ Lãng mạn và bi tráng qua tq thế lên đường vì lý tưởng
+ Lãng mạn và bi tráng qua sự hi sinh cao đẹp
a) Mở bài
C1: Khái quát bài thơ sau đó đi vào vấn đề mà đề hỏi
Tây Tiến là bài thơ nổi tiếng của QD, là thành tựu của thơ ca kháng chiến chống Pháp và là bài thơ tiêu biểu viết về chủ đề người lính. QD viết Tây Tiến khi tác giả đã xa đơn vị cũ một thời gian nhưng kỷ niệm về đoàn quân Tây Tiến vẫn in đậm trong tâm khảm nhà thơ. Đối tượng cảm xúc thẩm mĩ của bài thơ là thiên nhiên Tây Bắc vừa hoang sơ dữ dội vừa thơ mộng mĩ lệ, là những chiến binh Tây Tiến vừa kiêu hùng vừa lãng mạn. Chính 2 đối tượng cảm xúc thẩm mĩ này đã đem đến những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của Tây Tiến.
a/Phân tích khổ 1:
- Bỏ đi một chữ “nhớ” ở nhan đề, nhưng cả bài thơ ăm ắp dâng lên nỗi nhớ. Bài thơ được bắt đầu bằng nỗi nhớ chơi vơi đột nhiên được khơi dậy bằng một tình cảm dâng trào tràn ngập:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi...
Lâu nay ai đọc câu thơ đầu cũng hiển nhiên nghĩ "Sông Mã" là con sông Mã (SGK chú thích: đó là con sông chảy từ Sơn La qua Hòa Bình về Thanh Hóa). Thực ra ở đây có vấn đề cần xác định lại. Trong bài "Huyện sông Mã hay dòng sông Mã", tác giả Văn Hiến đặt vấn đề nghi vấn Sông Mã ở đây là con sông Ma
-Quang Dũng-
I. Vài nét về tác giả :
1. Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác:
Tên khai sinh Bùi Đình Dậu (tức Diệm) sinh năm 1921. Quê gốc Phương Trì - Đan Phượng – Hà Tây.
Trước CM T8 học trường Thăng Long. Tốt nghiệp đi dạy học tư ở Sơn Tây.
Sau CM vào quân đội, công tác ở phòng quân vụ Bắc bộ, phóng viên báo Chiến đấu khu II. Năm 1974, học trường bổ túc Trung cấp quân sự Sơn Tây . Sau đó về Trung đoàn tây Tiến giữ chức Đại đội trưởng, Phó đoàn vũ trang tuyên truyền Lào – Việt. Tháng 8 xuất ngũ. Từ hoà bình lập lại làm cộng tác viên báo văn nghệ và Nhà xuất bản Văn học. Mất ngày 14 – 10 năm 1988 tại Hà Nội.
Tác phẩm đã xuất bản : Bài thơ sông Hồng (Truyện thơ 1956), Mây đầu ô (thơ 1986); Mùa hoa gạo (Truyện ngắn 1950); Đường lên Thuận Châu (bút ký) 1964) Một chặng đường Cao Bắc (Bút ký 1983); Thơ văn Quang Dũng (Tuyển thơ 1988).
2. Vị trí sáng tác:
Trong nền thơ hiện đại, QD thuộc lớp thi sĩ đầu tiên sau CM tháng 8 cùng thời với Chính Hữu, Hồng Nguyên. HTThông. Ông là một người tài hoa nhưng lại rất lận đận, ngay từ sáng tác đầu tay (là bài thơ Tây Tiến) đã bị phê phán. Hồi ấy người ta phê bình bài thơ này rất nặng nề thậm chí người ta còn kết tội QD đã xuyên tạc bản chất người lính cách mạng. Tuy thế cùng với thời gian, bài thơ Tây tiến chẳng những không bị lãng quên mà ngày càng trở nên tỏa sáng. Mặt khác, QD vẫn lặng lẽ sáng tác và thơ của ông vẫn cứ được người đọc tiếp nhận. Cả sự nghiệp sáng tác thơ ca của ông chỉ dồn vào có 1 tập thơ, tập Mây đầu ô. Sau này tập hợp hết trong tập Thơ văn Quang Dũng.
3. Phong cách nghệ thuật:
- Chính QD cho rằng “Hồi đi học tôi mê Đường thi tam bách thủ” nhất là những bài dich của Tản Đà. Tôi cũng say thơ Mới, nhưng thích nhất là Thế Lữ, đặc biệt là Nhớ rừng bởi chất tâm trạng sơn dã của nó… Tôi cũng yêu văn học Nga. Yêu những con người Cô dắc dũng cảm, yêu tự do, sống phóng khoáng, gắn bó với thanh gươm, yên ngựa và những chiến công trên những thảo nguyên mênh mông…Sau này đi Tây tiến tôi mang theo tình cảm đó bên mình.
Có thể nói nhiều người đã nhận thấy Hà thành hoa lệ đã có ảnh hưởng không nhỏ tới phong cách NT của người nghệ sĩ tài hoa này. Ông có một hồn thơ thật bay bổng, nồng nàn một tình yêu đất nước và con người đến si mê. Bên cạnh đó QD còn chịu ảnh hưởng bởi câu nói sâu sắc của Bác về người lính du kích “lai vô ảnh, khứ vô hình”…
II/ Về bài thơ Tây Tiến
1. Thời điểm Quang Dũng viết Tây Tiến.
Sau khi cách mạng Tháng 8 thành công, bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp lớp thi sĩ đàn anh nổi tiếng từ trước cách mạng bây giờ im bặt. Người thì khủng hoảng bế tắc, người thì đang nhận đường. Lúc ấy có một sứ mệnh đặt lên vai những người lính làm thơ chứ không phải là những nhà thơ. Đấy là những Chính Hữu, QD, Hồng Nguyên, Hoàng TThông. Họ viết bằng chính cuộc đời mình, bằng những trải niệm của người trong cuộc. Lớp thi sĩ này phần lớn xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản cho nên tiếng nói của họ vừa có cái máu thịt của đời sống, nhưng cũng có cái bấp bênh của nhận thức. Không ít các bài thơ của họ đã bị phê phán trong đó có Ngày về của Chính Hữu:
Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cửa đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
và Tây tiến của QD. Phải nhắc lại điều này chúng ta mới có thể hiểu nổi vì sao bài thơ Tây Tiến của QD lại có 1 số phận long đong như thế.
2. Hoàn cảnh sáng tác
- Đầu năm 1947 Bộ tư lệnh quân khu có thành lập 1 đơn vị đặc biệt lấy tên là Tây Tiến. Nhiệm vụ của đội quân này là tiến hành tiễu phỉ và đánh tiêu hao lực lượng địch suốt dọc biên giới phía Tây nhằm tạo ra một hành lang an toàn ở phía Tây làm chỗ dựa cho căn cứ địa Việt Bắc. Địa bàn hoạt động của đội rất rộng lại toàn là vùng rừng núi hiểm trở. Vì thế cuộc sống của người lính Tây Tiến rất gian khổ. ốm đau bệnh tật không có thuốc, ăn uống thiếu thốn vì thế số người chết vì bệnh tật còn nhiều hơn nhiều người hi sinh trong trận đánh. QD có mặt trong đội này ngay từ ngày đầu mới thành lập và là người chỉ huy đội. Nhưng đến đầu năm 1948 ông lại bị điều đi công tác khác. Cuối năm ấy ngồi ở Phù Lưu Chanh qd bồi hồi nhớ lại đơn vị cũ và cảm hứng ấy đã giúp ông viết được bài Tây Tiến.
Lúc đầu bài thơ có tên Nhớ Tây Tiến nhưng về sau QD thấy chữ "nhớ" là thừa nên mới bỏ đi. "Nhớ Tây Tiến" thì nghĩa hẹp hơn, đơn thuần là nhớ đơn vị cũ, nhớ năm tháng hoạt động ở vùng biên giới miền Tây Tổ quốc. (Người xưa luận về phép làm thơ: ý kị nông, mạch kị lộ) QD bỏ đi chữ nhớ làm mạch thơ không bị lộ. Cho nên "Tây Tiến” hàm ý gợi ra không bị hạn chế, nó mở rộng cả hai phương diện: - Cảm xúc tâm hồn của chủ thể và - hiện thực đời sống ở bên ngoài.
2) Bố cục bài thơ Tây Tiến
- Khổ 1: là những dòng kí ức của nhà thơ về núi rừng TB nơi mà đội Tây Tiến đang sống và chiến đấu. Thấp thoáng đằng sau hình ảnh thiên nhiên TB là hình dáng những người lính Tây Tiến mới chỉ được khắc họa bằng những nét rất sơ sài.
- Khổ 2: khổ thơ dành cho việc tái hiện lại những kỉ niệm trên những chặng đường hành quân.
- Khổ 3: là khổ thơ quan trọng nhất vì đây là khổ thơ đặc tả người lính Tây Tiến. Đây cũng là khổ thơ gây nhiều tranh luận nhất.
- Khổ 4: là sự khẳng định nỗi nhớ ban đầu.
3) Phân tíchbài thơ
Bao trùm ý của toàn bài là: bức chân dung kiêu hùng của người lính Tây Tiến được dệt nên bởi cảm hứng lãng mạn và bút pháp bi tráng.
- Khái niệm: cảm hứng, bút pháp, lãng mạn và bi tráng:
+ Cảm hứng: Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của người tiếp nhận tác phẩm (cảm hứng anh hùng, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng trào lộng, châm biếm..)
+ Bút pháp: Vốn là thuật ngữ của thư pháp (nghệ thuật viết chữ Nho), chỉ cách cầm bút, cách đưa đẩy nét bút để tạo dáng chữ đẹp. Trong Văn học bút pháp là cách thức hành văn, dùng chữ, bố cục, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật nào đó. ở đây bút pháp cũng tức là cách viết, lối viết. Với nghĩa này, bút pháp gần tương đồng với phong cách.
+ Lãng mạn: Từ thế kỷ XVIII từ ‘lãng mạn” vốn được dùng để chỉ tất cả những cái gì hoang đường, kì lạ, khác thường chỉ thấy có ở trong sách chứ không thấy có ở hiện thực. Sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn đòi hỏi tác giả phải giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng để tô đậm cái khác thường, cái phi thường, cái lý tưởng chứ không phải cái bình dị. Trên cơ sở hiện thực mà lãng mạn hóa hiện thực.
+ Bi tráng: là một phạm trù thẩm mĩ thường gắn với mất mát đau thương. Tuy nhiên mất mát đau thương của cái bi không phải chỉ là mất mát đau thương của một cá nhân mà là mất mát của cái cao cả, cái đẹp. Chính vì vậy cái bi rất gần với cái cao cả. Bút pháp bi tráng là lối viết không né tránh đau thương, dám nhìn thẳng vào sự hi sinh mất mát. Tuy nhiên ở đây cần lưu ý bi tráng chứ không bi thương, bi lụy. Cái bi thường mang vẻ đẹp hào hùng tráng lệ.
* Kiến thức cơ bản: Phân tích được vẻ đẹp lãng mạn của bài thơ qua hai hình tượng trung tâm:
- Hình tượng thiên nhiên: thiên nhiên Tây Bắc mang vẻ đẹp lãng mạn
+ Hùng vĩ dữ dội khác thường (chủ yếu ở đoạn 1)
+ Mĩ lệ, thơ mộng (chủ yếu ở đoạn 2)
- Hình tượng người lính: Bức chân dung kiêu hùng được xây dựng bằng cảm hứng lãng mạn và bút pháp bi tráng
+ Lãng mạn và bi tráng qua dáng vẻ bên ngoài
+ Lãng mạn và bi tráng qua đời sống tâm hồn
+ Lãng mạn và bi tráng qua tq thế lên đường vì lý tưởng
+ Lãng mạn và bi tráng qua sự hi sinh cao đẹp
a) Mở bài
C1: Khái quát bài thơ sau đó đi vào vấn đề mà đề hỏi
Tây Tiến là bài thơ nổi tiếng của QD, là thành tựu của thơ ca kháng chiến chống Pháp và là bài thơ tiêu biểu viết về chủ đề người lính. QD viết Tây Tiến khi tác giả đã xa đơn vị cũ một thời gian nhưng kỷ niệm về đoàn quân Tây Tiến vẫn in đậm trong tâm khảm nhà thơ. Đối tượng cảm xúc thẩm mĩ của bài thơ là thiên nhiên Tây Bắc vừa hoang sơ dữ dội vừa thơ mộng mĩ lệ, là những chiến binh Tây Tiến vừa kiêu hùng vừa lãng mạn. Chính 2 đối tượng cảm xúc thẩm mĩ này đã đem đến những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của Tây Tiến.
a/Phân tích khổ 1:
- Bỏ đi một chữ “nhớ” ở nhan đề, nhưng cả bài thơ ăm ắp dâng lên nỗi nhớ. Bài thơ được bắt đầu bằng nỗi nhớ chơi vơi đột nhiên được khơi dậy bằng một tình cảm dâng trào tràn ngập:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi...
Lâu nay ai đọc câu thơ đầu cũng hiển nhiên nghĩ "Sông Mã" là con sông Mã (SGK chú thích: đó là con sông chảy từ Sơn La qua Hòa Bình về Thanh Hóa). Thực ra ở đây có vấn đề cần xác định lại. Trong bài "Huyện sông Mã hay dòng sông Mã", tác giả Văn Hiến đặt vấn đề nghi vấn Sông Mã ở đây là con sông Ma
 









Các ý kiến mới nhất